VÀNG
Giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới

Tháng 5/2025, giá vàng SJC và vàng nhẫn trong nước trải qua giai đoạn tăng vọt đầu tháng, điều chỉnh giữa tháng, và giảm mạnh vào cuối tháng, phản ánh sự biến động của giá vàng thế giới và các yếu tố nội tại. Với chênh lệch giá trong nước và quốc tế vẫn ở mức cao, nhà đầu tư cần thận trọng theo dõi các chính sách mới từ NHNN và diễn biến thị trường quốc tế trước khi đưa ra quyết định giao dịch.
Trong những ngày đầu tháng 5 (1-10/5), giá vàng miếng SJC ghi nhận mức cao kỷ lục, chạm mốc 121 triệu đồng/lượng (cả mua vào và bán ra) vào ngày 2/5. Giá vàng nhẫn cũng tăng mạnh, dao động trong khoảng 119-120 triệu đồng/lượng. Nguyên nhân chính là do giá vàng thế giới đạt đỉnh 3.350 USD/ounce, được thúc đẩy bởi sự suy yếu của đồng USD và tâm lý tích trữ vàng như tài sản trú ẩn an toàn. Chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới ở thời điểm này lên tới 17,8 triệu đồng/lượng, phản ánh nguồn cung vàng trong nước hạn chế và nhu cầu đầu cơ cao.
Trung tuần tháng 5, giá vàng bắt đầu điều chỉnh giảm nhẹ. Giá vàng miếng SJC dao động trong khoảng 118-120 triệu đồng/lượng, trong khi giá vàng nhẫn giảm xuống mức 117-119 triệu đồng/lượng. Xu hướng này tương ứng với diễn biến giá vàng thế giới, khi giá vàng quốc tế giảm về khoảng 3.250 USD/ounce do áp lực chốt lời từ các nhà đầu tư và thông tin tích cực từ các cuộc đàm phán thương mại Mỹ-Trung. Tâm lý nhà đầu tư trong nước cũng trở nên thận trọng hơn, với một số người tranh thủ "bắt đáy" khi giá vàng giảm.
Trong tuần cuối tháng (21-30/5), giá vàng trong nước tiếp tục lao dốc. Đến ngày 30/5, giá vàng miếng SJC được ghi nhận ở mức 118 triệu đồng/lượng (mua vào) và 120 triệu đồng/lượng (bán ra), giảm 1-2 triệu đồng/lượng so với đầu tháng. Giá vàng nhẫn cũng giảm tương ứng, về mức 116-118 triệu đồng/lượng. Giá vàng thế giới trong cùng kỳ giảm xuống dưới 3.200 USD/ounce, chịu ảnh hưởng từ sự ổn định của đồng USD và giảm căng thẳng địa chính trị. Chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới thu hẹp nhẹ, nhưng vẫn ở mức cao, khoảng 10%, do cung cầu vàng trong nước chưa cân bằng.
Có thể thấy rằng, diễn biến chính của giá vàng trong nước bị tác động bởi một số yếu tố chủ yếu đó là: Biến động giá vàng quốc tế từ 3.350 USD/ounce xuống dưới 3.200 USD/ounce là yếu tố chính tác động đến giá vàng trong nước; tâm lý thị trường: Nhu cầu mua vàng tăng mạnh khi giá giảm, nhưng tâm lý thận trọng chiếm ưu thế do biến động giá khó lường. Và cuối cùng là từ chính sách quản lý khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tiếp tục siết chặt nhập khẩu vàng và giám sát thị trường, trong khi Chính phủ yêu cầu xóa bỏ độc quyền vàng miếng SJC và đề xuất lập sàn giao dịch vàng. Những chính sách này ảnh hưởng đến nguồn cung và tâm lý giao dịch.
Từ giữa tháng 4/2025, chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới bắt đầu tăng mạnh, đỉnh điểm vào giữa tháng 5/2025 khi giá vàng miếng SJC cao hơn giá vàng thế giới quy đổi tới 19 triệu đồng/lượng, còn chênh lệch của vàng nhẫn tiệm cận 14 triệu đồng/lượng. Sau giai đoạn đỉnh, thị trường bước vào chuỗi điều chỉnh rõ nét. Đáng chú ý, từ ngày 16/5/2025, chênh lệch giá vàng miếng SJC với giá vàng thế giới quy đổi ghi nhận 7 phiên giảm liên tiếp, trong khi giá vàng nhẫn giảm liên tục 8 phiên từ ngày 17/5/2025 - chuỗi giảm dài nhất kể từ đầu năm. Đến ngày 28/5/2025, chênh lệch giá vàng trong nước với thế giới thấp nhất kể từ đầu tháng tháng 5, dù vẫn ở mức cao.
Trong vòng hơn một năm trở lại đây, khi giá vàng thế giới liên tục tăng cao do các bất ổn địa chính trị thì thị trường vàng trong nước càng bị thử thách khi nguồn cung vàng cạn dần vì nhiều năm không sản xuất thêm vàng miếng SJC, trong khi đó nguồn cung vàng đã giảm đáng kể qua những đợt xuất khẩu vàng dưới dạng trang sức mỹ nghệ ở những thời điểm giá vàng trong nước thấp hơn giá vàng thế giới.
Trước thực tế trên, Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam cũng như các chuyên gia đã nhiều lần kiến nghị cần nhanh chóng sửa đổi nghị định 24 để "cởi trói" cho thị trường vàng, đồng thời kéo giảm chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới. Tại cuộc họp Thường trực Chính phủ về quản lý thị trường vàng cuối tuần qua, Thủ tướng cũng chỉ đạo kéo chênh lệch giá vàng về mức 1-2%.
Và để xử lý các bất cập ngày, ngày 28/5, Tổng bí thư Tô Lâm đã có yêu cầu xóa bỏ độc quyền thương hiệu vàng miếng SJC, cho phép nhiều doanh nghiệp tham gia sản xuất và kinh doanh vàng miếng. Đề xuất lập sàn giao dịch vàng và đánh thuế giao dịch vàng cũng được đưa ra để tăng tính minh bạch và ổn định thị trường. Đây được xem là chỉ đạo sẽ tác động lớn tới thị trường vàng trong nước trong thời gian tới.
ĐÔ LA
Tỷ giá USD/VND trong tháng 5/2025 biến động mạnh, với diễn biến tỷ giá tăng đầu tháng nhưng giảm nhẹ vào cuối tháng
Tỷ giá USD/VND trong tháng 5/2025 biến động mạnh, với diễn biến tỷ giá tăng đầu tháng do áp lực từ chính sách thuế quan của Mỹ và nhu cầu nhập khẩu, nhưng giảm nhẹ vào cuối tháng khi USD suy yếu trên thị trường quốc tế. NHNN đã điều hành hiệu quả để ổn định tỷ giá, nhưng chênh lệch giữa thị trường tự do và ngân hàng vẫn tồn tại. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu bất ổn, doanh nghiệp và nhà đầu tư cần thận trọng, theo dõi sát các yếu tố vĩ mô và chính sách để đưa ra quyết định phù hợp.
Về diễn biến tỷ giá, trong 10 ngày đầu tháng 5, tỷ giá USD/VND tăng nhẹ, với tỷ giá trung tâm do NHNN công bố ở mức 24.944 VND/USD vào ngày 1/5, giữ nguyên so với cuối tháng 4. Tại các ngân hàng thương mại, giá USD dao động trong khoảng 25.830-26.190 VND/USD (Vietcombank, ngày 5/5), tăng khoảng 10 đồng so với cuối tháng trước. Giá USD tự do cũng tăng nhẹ, đạt 26.430 VND/USD (mua vào)và26.530 VND/USD (bán ra). Biến động này phản ánh tâm lý thận trọng của thị trường trước dữ liệu kinh tế Mỹ yếu hơn dự kiến, với GDP quý I giảm 0.3%.
Trong 10 ngày giữa tháng 5, tỷ giá USD/VND tiếp tục tăng, với tỷ giá trung tâm đạt 24.970VND/USD vào ngày 20/5, tăng 10 đồng so với đầu tháng. Tại các ngân hàng, giá USD tăng mạnh. Vietcombank ghi nhận 25.810 VND/USD (mua vào)và 26.200 VND/USD (bán ra). Giá USD tự do cũng tăng, chạm mức 26.500 VND/USD. Nguyên nhân được cho là do căng thẳng thương mại toàn cầu gia tăng, đẩy đồng USD vào thế bất lợi trên thị trường quốc tế, nhưng tại Việt Nam, nhu cầu USD tăng do các doanh nghiệp nhập khẩu tích trữ trước nguy cơ thuế quan mới từ Mỹ.
10 ngày cuối tháng 5, tỷ giá USD/VND có xu hướng quay đầu giảm nhẹ. Ngày 30/5, NHNN công bố tỷ giá trung tâm ở mức 24.962 VND/USD, tăng 15 đồng so với phiên trước nhưng giảm so với giữa tháng. Vietcombank niêm yết giá USD ở mức 25.810 VND/USD (mua vào) và 26.200 VND/USD (bán ra), tăng 60 đồng so với phiên liền trước. Giá USD tự do giảm về 26.400-26.500 VND/USD. Sự sụt giảm này trùng hợp với chỉ số USD Index (DXY) giảm 0.12 điểm, xuống 99.48 vào ngày 29/5, do tâm lý thị trường ổn định hơn sau các phán quyết thương mại từ tòa án Mỹ bác bỏ phần lớn thuế quan do Tổng thống Donald Trump đề xuất.
Diễn biến trên của tỷ giá đồng USD trong nước chịu tác động bởi các yếu tố chính đó là: Thông tin về chính sách thuế quan của Mỹ. Các chính sách thuế quan của Tổng thống Trump, dù bị tòa án thương mại Mỹ bác bỏ vào cuối tháng 5, đã tạo áp lực lên tỷ giá USD/VND trong nửa đầu tháng. Lo ngại về thuế quan tăng cao khiến các doanh nghiệp Việt Nam tăng nhu cầu USD để nhập khẩu hàng hóa trước khi các biện pháp mới có thể được áp dụng. Ngoài ra, với việc kỳ vọng Fed cắt giảm lãi suất 0.25% từ tháng 6/2025 đã làm suy yếu đồng USD trên thị trường quốc tế, ảnh hưởng gián tiếp đến tỷ giá USD/VND. Tuy nhiên, dữ liệu kinh tế Mỹ khả quan hơn dự kiến đã hạn chế đà giảm của USD, khiến tỷ giá trong nước chỉ giảm nhẹ vào cuối tháng. Và một yếu tố quan trọng đó là NHNN tiếp tục điều hành tỷ giá linh hoạt, sử dụng các công cụ như bán ngoại tệ dự trữ và điều chỉnh tỷ giá trung tâm để ổn định thị trường. Trong tháng 5, NHNN được cho là đã can thiệp thị trường bằng cách bán một lượng ngoại tệ nhất định, góp phần giữ tỷ giá USD/VND không tăng quá nóng.
Về dự báo, một số chuyên gia kinh tế cho biết tỷ giá USD/VND trong tháng 6/2025 được dự báo dao động trong khoảng 25.800-26.300 VND/USD, tùy thuộc vào diễn biến chính sách thuế quan của Mỹ và lãi suất của Fed. Ngân hàng UOB dự báo tỷ giá có thể đạt 26.100 VND/USD trong quý 2/2025, với xu hướng giảm nhẹ vào cuối năm nếu USD tiếp tục suy yếu.
THÉP XÂY DỰNG
Giá thép xây dựng ổn định quanh mức 1.48 - 1.6 triệu đồng/tấn
Theo Cục Hải quan Việt Nam, trong 4 tháng đầu năm 2025, Việt Nam đã xuất 3,84 triệu tấn thép, giảm 11,47 % so với cùng kỳ năm trước về lượng xuất khẩu. Giá trị xuất khẩu đạt 2,49 tỷ USD giảm 22,6%, với giá trung bình đạt 648,79 USD/tấn giảm 12,6 % so với cùng kỳ năm 2024.
Tính riêng trong tháng 4/2025, Việt Nam đã xuất 1,09 triệu tấn thép tấn thép, tăng 8,4% so với tháng liền trước, nhưng giảm 1,38% so với cùng kỳ năm trước về lượng xuất khẩu. Giá trị xuất khẩu đạt 709,98 triệu USD, tăng 10,4% so với tháng liền trước, nhưng giảm 15% so với cùng kỳ năm 2024, với giá trung bình đạt 649,02 USD/tấn,giảm 1,91% so với tháng liền trước và giảm 13,8% so với cùng kỳ năm 2024 - phản ánh tín hiệu phục hồi từ thị trường toàn cầu, đặc biệt là khu vực ASEAN, Trung Đông và Mỹ Latinh.
Trong 4 tháng đầu năm 2025, Việt Nam xuất nhiều nhất sang Campuchia, với 494.708 tấn, thu về 282,5 triệu USD, giá đạt 571,15 USD/tấn, tăng 36,67% về lượng, và tăng 21,68% kim ngạch và giảm 10,97 % về giá so với 4 tháng đầu năm 2024; chiếm 12,87% trong tổng lượng và chiếm 11,33 % trong tổng kim ngạch xuất khẩu sắt thép của cả nước.
Tiếp theo là thị trường Mỹ với 387.884 tấn, tương đương 242 triệu USD, giá đạt 624,05 USD/tấn,giảm 31,23% về lượng, giảm 51,23% kim ngạch và giảm 29,09% về giá so với 4 tháng đầu năm 2024; chiếm 10,09% trong tổng lượng và chiếm 9,71% trong tổng kim ngạch xuất khẩu sắt thép của cả nước.
Xuất khẩu sắt thép của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2025 sụt giảm cả về sản lượng và giá trị so với cùng kỳ năm trước, phản ánh khó khăn chung của thị trường thế giới, dù có một số tín hiệu hồi phục tại một vài khu vực.
Về giá cả, theo báo cáo của Viện Kinh tế xây dựng cho biết, giá thép bình quân tháng 5/2025 tăng gần 2% ở các khu vực so với quý I/2025. Nguyên nhân biến động là do ảnh hưởng chi phí nhập khẩu nguyên liệu và chính sách kích thích đầu tư công. Trung bình giá thép tại 3 miền trên cả nước nằm trong khoảng từ 14.600 - 16.100 đ/kg.
XĂNG DẦU
Tính đến 29/5, xăng RON95 có 11 lần tăng và 11 lần giảm, E5RON92 có 12 lần tăng và 10 lần giảm, dầu diesel có 10 lần tăng, 11 lần giảm và 1 lần giữ giá và dầu mazut có 12 lần tăng và 10 lần giảm giá.
Trong tháng 5/2025, giá xăng dầu tại Việt Nam trải qua nhiều đợt điều chỉnh với xu hướng tăng giảm trái chiều, phản ánh sự biến động của thị trường xăng dầu thế giới. Các kỳ điều chỉnh được thực hiện hàng tuần theo quy định tại Nghị định 80/2023/NĐ-CP, dưới sự quản lý của liên Bộ Công Thương - Tài chính.
Kỳ điều hành giá xăng dầu đầu tháng 5 thực hiện từ 15h chiều ngày 5/5. Theo đó liên Bộ quyết định điều chỉnh giảm giá các mặt hàng xăng dầu .
Cụ thể, so với kỳ điều hành trước, giá xăng RON 95 (loại phổ biến trên thị trường) được điều chỉnh giảm 50 đồng/lít, giá bán lẻ xuống mức 19,580 đồng/lít. Tương tự, giá xăng E5 RON 92 hạ 80 đồng/lít, giá bán còn 19,150 đồng/lít. Còn giá dầu diesel giảm 170 đồng/lít, giá bán lẻ xuống mức 17,350 đồng/lít. Ở kỳ điều hành này, liên Bộ Công Thương - Tài chính vẫn không chi sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu.
Chiều ngày 8/5, giá bán lẻ xăng dầu trong nước tiếp tục được điều chỉnh giảm mạnh, đánh dấu lần giảm thứ hai liên tiếp trong vòng một tuần. Động thái này phản ánh xu hướng giảm của giá dầu thô thế giới trong thời gian gần đây. Cụ thể, theo thông báo của liên Bộ, giá xăng E5 RON 92 còn 18.777 đồng/lít (giảm 377 đồng/lít). Xăng RON 95-III: 19.179 đồng/lít (giảm 407 đồng/lít). Dầu diesel 0.05S: 16.809 đồng/lít (giảm 550 đồng/lít). Dầu hỏa: 16.941 đồng/lít (giảm 623 đồng/lít). Dầu mazut 180CST 3.5S: 15.533 đồng/kg (giảm 665 đồng/kg).
Giá các mặt hàng xăng dầu đã tăng trở lại từ 285- 627 đồng/lít, kg vào kỳ điều chỉnh ngày 15-5 của liên Bộ Công thương - Tài chính. Do biến động giá xăng dầu thế giới giá bán lẻ các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường sau điều chỉnh như sau:Xăng E5RON92: 19.180 đồng/lít (tăng 403 đồng/lít), xăng RON95-III: 19.594 đồng/lít (tăng 415 đồng/lít). Dầu điêzen 0.05S: không cao hơn 17.228 đồng/lít (tăng 419 đồng/lít so với giá cơ sở hiện hành); dầu hỏa: 17.226 đồng/lít (tăng 285 đồng/lít), dầu mazút 180CST 3.5S: 16.160 đồng/kg (tăng 627 đồng/kg).
Giá xăng dầu đã có sự tăng giảm trái chiều trong kỳ điều hành ngày 22/5. Cụ thể, giá xăng E5RON92 giảm 60 đồng/lít so với kỳ điều hành trước, giá bán mới sẽ là 19.120 đồng/lít. Giá xăng RON95-III không cao hơn 19.530 đồng/lít, sau khi được điều chỉnh giảm 60 đồng/lít so với giá bán lẻ từ ngày 15/5. Cũng từ 15h00 chiều 22/5, giá dầu diesel 0.05S không cao hơn 17.400 đồng/lít (tăng 180 đồng so với mức bán lẻ hiện hành); Giá dầu hỏa không cao hơn 17.310 đồng/lít (tăng 90 đồng/lít so với giá bán lẻ hiện hành). Trong kỳ điều hành này, giá dầu mazut 180CST 3.5S tăng 350 đồng/lít so với kỳ trước, giá bán mới là 16.510 đồng/kg.
Tại kỳ điều chỉnh cuối cùng của tháng 5/2025, dựa trên biến động của giá xăng dầu thế giới trong tuần trước đó, liên Bộ thông báo giá xăng dầu điều chỉnh tăng giảm như sau: Xăng E5RON92: không cao hơn 19.196 đồng/lít (tăng 74 đồng/lít so với kỳ trước). Xăng RON95-III: không cao hơn 19.565 đồng/lít (tăng 33 đồng/lít so với kỳ trước).Dầu diesel 0.05S: không cao hơn 17.136 đồng/lít (giảm 269 đồng/lít so với kỳ trước).Dầu hỏa: không cao hơn 17.108 đồng/lít (giảm 206 đồng/lít so với kỳ trước).Dầu madút 180CST 3.5S: không cao hơn 16.264 đồng/kg (giảm 248 đồng/kg so với kỳ trước).
Như vậy, tổng kết tính đến kỳ điều hành ngày 29/5 thì đây là lần thứ 22 trong năm 2025, các mặt hàng xăng dầu được điều chỉnh giá. Trong đó mặt hàng xăng RON95 có 11 lần tăng và 11 lần giảm, E5RON92 có 12 lần tăng và 10 lần giảm, dầu diesel có 10 lần tăng, 11 lần giảm và 1 lần giữ giá và dầu mazut có 12 lần tăng và 10 lần giảm giá.
Ô TÔ
Thị trường ô tô Việt Nam tiếp tục ghi nhận những tín hiệu tích cực với sự phục hồi đáng kể về doanh số
Thị trường ô tô Việt Nam tiếp tục ghi nhận những tín hiệu tích cực với sự phục hồi đáng kể về doanh số, đặc biệt nhờ sự tăng trưởng của phân khúc xe điện và các chính sách kích cầu. Các báo cáo từ Hiệp hội Các nhà sản xuất Ô tô Việt Nam (VAMA), VinFast, và TC Motor cho thấy thị trường đang dần lấy lại đà tăng trưởng sau giai đoạn trầm lắng đầu năm, với sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các hãng xe nội địa và nhập khẩu.
Có thể thấy để kéo được sức mua của người tiêu dùng, trong Quý I/2025, các hãng và đại lý ô tô đã liên tục tung ra các chương trình khuyến mại dày đặc để kích cầu. Nhưng không dễ dàng vì tâm lý thị trường Việt hiện đang vào trạng thái “cố chờ” để được ưu đãi sâu nhất có thể. Kỳ vọng này của người tiêu dùng khiến tổng thế thị trường khó lòng bật lên nhanh chóng dù đã bước sang hơn nửa Quý II/2025.
Ngoài ra, vấn đề hàng tồn kho từ năm 2024 chuyển sang năm 2025 chưa được xử lý trong 4 tháng đầu năm dẫn đến các hãng và đại lý buộc lòng phải tiếp tục đẩy mạnh khuyến mại. Việc thực hiện chương trình khuyến mại để kích cầu thị trường trên thực tế không có gì lạ lẫm. Tuy nhiên, nếu diễn ra liên tục và dày đặc thì lại phản ánh một bức tranh nhu cầu của thị trường chung đang có dấu hiệu chững lại. Đặc biệt khi lượng xe tiếp tục được bổ sung vào thị trường khiến cung vượt cầu.
Về số liệu cụ thể, ngày 13/5, Hiệp hội các Nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA) công bố số liệu bán hàng tháng 4/2025 với doanh số ô tô tiêu thụ toàn thị trường đạt 29.585 xe, tăng 21% so với cùng kỳ năm ngoái.
Theo VAMA, xe du lịch chiếm phần lớn trong tổng số xe ô tô tiêu thụ toàn thị trường trong tháng 4 vừa qua với 20.766 xe, xe thương mại đạt 8.619 xe và xe chuyên dụng đạt 200 xe. So với tháng trước, doanh số xe du lịch giảm 7%, xe thương mại giảm 7% nhưng xe chuyên dụng tăng 11%.
Doanh số bán của xe lắp ráp trong nước đạt 13.890 xe, giảm 7% so với tháng trước và doanh số xe nhập khẩu nguyên chiếc là 15.695 xe, giảm 7% so với tháng trước, doanh số xe nhập khẩu nguyên chiếc là 15.695 xe, giảm 7% so với tháng trước.


Lũy kế 4 tháng đầu năm 2025 toàn thị trường tiêu thụ 101.834 xe.
Tính đến hết tháng 4/2025, tổng doanh số bán hàng của toàn thị trường đạt 101.834 xe, tăng 23% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, xe ô tô du lịch tăng 22%, xe thương mại tăng 27% và xe chuyên dụng tăng 49% so với cùng kỳ năm 2024.
Tính đến hết tháng 4/2025, doanh số bán hàng của xe lắp ráp trong nước tăng 13% đạt 48.964 xe, trong khi xe nhập khẩu tăng 35% so với cùng kỳ năm ngoái đạt 52.870 xe
Đáng chú ý, theo báo cáo mới nhất của Cục Thống kê, trong tháng 4/2025, tổng cộng có 56.563 chiếc ô tô mới bao gồm cả xe sản xuất trong nước và xe nhập khẩu được bổ sung cho thị trường Việt Nam. Luỹ kế từ đầu năm 2025 đến nay, các nhà sản xuất ô tô trong nước xuất xưởng ước đạt tổng cộng 147.300 chiếc, tăng tới 76,9% so với cùng kỳ năm 2024.
Ở mảng xe nhập khẩu, luỹ kế 4 tháng đầu năm 2025, ước tính đã có 63.520 chiếc ô tô được nhập khẩu nguyên chiếc vào Việt Nam với giá trị ước đạt 1,4 tỷ USD, tăng 45,2% về lượng và 50,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2024.
Thống kê của Cục Thống kê cho thấy nguồn cung cả xe trong nước và xe nhập khẩu của các doanh nghiệp tiếp tục “bơm” ra thị trường là rất cao từ đầu năm 2025. Tuy nhiên, khi sức mua yếu thì lượng hàng tồn sẽ tăng, dẫn đến các đợt giảm giá liên tục. Thời gian tới, giới chuyên gia nhận định, ít nhất là trong vài tháng tiếp theo, làn sóng xe giảm giá sẽ còn tiếp tục diễn ra và ngày càng khốc liệt hơn vì hãng nào cũng muốn đẩy mạnh doanh số, trong khi người tiêu dùng sẽ có tâm lý chờ đợi “giá tốt”.
DỆT MAY
Hết tháng 5/2025, xuất khẩu toàn ngành dệt may cán mốc gần 16,8 tỷ USD
Những biến động về đơn hàng, thị trường, thuế quan từ các đối tác thương mại lớn buộc doanh nghiệp dệt may phải thích ứng nhanh và linh hoạt, không bỏ lỡ bất kỳ cơ hội nào, đảm bảo đạt mục tiêu kinh doanh năm 2025.
Theo ước tính, hết tháng 5/2025, xuất khẩu toàn ngành dệt may cán mốc gần 16,8 tỷ USD; trong đó dệt may gần 15 tỷ USD, còn lại là xơ sợi, nguyên phụ liệu. Đáng mừng là những thị trường xuất khẩu chủ lực như Mỹ, Nhật Bản, châu Âu đều tăng trưởng 2 con số.
Dù vậy, thị trường được nhận định là có nhiều diễn biến khó lường. Ông Hoàng Mạnh Cầm, Phó chánh văn phòng HĐQT Vinatex cho biết, mới đây Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đã hạ dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2025 xuống 2,8% (giảm 0,5 điểm so với tháng 1), năm 2026 xuống 3%. Cùng với đó, các nền kinh tế lớn trên thế giới cũng đều bị điều chỉnh dự báo tăng trưởng năm 2025 như: Mỹ giảm từ 2,8% xuống 1,8%; châu Âu giảm còn 0,8% (thấp hơn 0,2% so với dự báo tháng 1/2025). Đức không có tăng trưởng; Trung Quốc giảm còn 4% (thấp hơn 0,6% so với lần dự báo trước); Nhật Bản kỳ vọng tăng trưởng 0,6% (giảm 0,5% so với lần dự báo trước)…
Bối cảnh thị trường có nhiều biến số, nhưng theo ông Cầm, các doanh nghiệp dệt may vẫn gắng tận dụng mọi cơ hội để tăng tốc xuất khẩu. Đó là quan hệ thương mại Mỹ - Trung có xu hướng hạ nhiệt với một số thỏa thuận đạt được; giá cước vận tải giảm, tỷ giá VND/USD đang có diễn biến tích cực hơn; tồn kho thực tế tại Mỹ (thông tin từ Sourcing Journal) đang ở mức rất thấp, nhiều nhãn hàng chỉ đủ dùng cho 6-8 tuần tới.
Chưa kể, một số quốc gia cạnh tranh về hàng dệt may với Việt Nam như Pakistan đang xảy ra bất ổn chính trị. Bangladesh gặp tình trạng về khủng hoảng năng lượng, nhiều nhà máy sợi phải đóng cửa do thiếu điện, đồng thời chính quyền nước này cũng chưa có dấu hiệu xúc tiến đàm phán với Mỹ về thuế đối ứng.
Một số đại diện của các doanh nghiệp dệt may lớn cho biết tình hình sản xuất và kế hoạch giao hàng cũng chịu nhiều biến động kể từ khi Mỹ có tuyên bố áp thuế. Ban đầu, một số khách hàng tạm dừng đơn hàng, sau đó yêu cầu đẩy nhanh tiến độ khi thuế được áp 10% trong 90 ngày. Hiện các doanh nghiệp đã lấp đầy các đơn hàng tháng 7, nhưng yêu cầu đánh giá ngày càng khắt khe hơn, đặc biệt là các tiêu chí về trách nhiệm xã hội, an ninh và hệ thống quản lý chất lượng”.
Thấu hiểu tâm lý khách muốn giao hàng gấp rút trong thời hạn 90 ngày tạm hoãn thuế quan của Mỹ, các doanh nghiệp Việt đã nâng cao khả năng đáp ứng, điều phối sản xuất để hoàn trả đơn đặt hàng sớm.
Nhận định về thị trường, lãnh đạo Vinatex cho rằng, ngành may vẫn có nhiều cơ hội về đơn hàng, cơ hội này có thể kéo dài tới hết quý III/2025. Do đó, các doanh nghiệp cần chủ động, linh hoạt để tận dụng tối đa cơ hội từ thị trường, hoàn thành ít nhất 2/3 kế hoạch lợi nhuận năm để có dự phòng cho tổ chức sản xuất, tránh các rủi ro khi thị trường đảo chiều.
Dự báo, từ nay tới ngày 10/7, Mỹ sẽ có chính sách về thuế đối ứng tạm thời cho Việt Nam. Về mặt tích cực thì tồn kho của Mỹ đang ở mức thấp, do đó các đơn hàng trong quý III/2025 dự báo vẫn tốt, nhưng sang quý IV/2025 có thể giảm khoảng 10% do nhu cầu tiêu dùng của Mỹ giảm.
Thời điểm hiện tại các doanh nghiệp đang nỗ lực tận dụng các hiệp định thương mại tự do (FTA) đã có hiệu lực để có ưu đãi thuế quan, vừa đa dạng hóa thị trường.
LÚA GẠO
5 tháng đầu năm 2025, Việt Nam xuất khẩu khoảng 3,5-3,8 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 2-2,2 tỷ USD
Tháng 5/2025, ngành xuất khẩu lúa gạo Việt Nam tiếp tục duy trì vị thế là một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, dù đối mặt với nhiều thách thức từ biến động nguồn cung toàn cầu và cạnh tranh gay gắt.
Theo dự báo, tháng 5/2025, Việt Nam xuất khẩu khoảng 600.000-650.000 tấn gạo, với kim ngạch ước tính đạt 320-350 triệu USD. So với tháng 4/2025, khối lượng này giảm nhẹ do nguồn cung từ vụ Đông Xuân không còn dồi dào và vụ Hè Thu đang trong giai đoạn thu hoạch. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2025, Việt Nam xuất khẩu khoảng 3,5-3,8 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 2-2,2 tỷ USD, tăng khoảng 5-7% về lượng nhưng giảm nhẹ về giá trị so với cùng kỳ năm 2024 do giá gạo toàn cầu giảm. Giá gạo xuất khẩu bình quân dao động khoảng 500-530 USD/tấn, giảm nhẹ so với mức đỉnh 579 USD/tấn vào cuối năm 2024, nhưng vẫn cao hơn mức trung bình năm 2023 (575 USD/tấn).
Về thị trường, Philipines tiếp tục là thị trường lớn nhất, chiếm khoảng 40-45% tổng lượng xuất khẩu gạo của Việt Nam. Trong tháng 5/2025, Philippines nhập khẩu khoảng 250.000-300.000 tấn gạo, chủ yếu là gạo trắng và gạo thơm, với giá trị ước tính 150-180 triệu USD. Nhu cầu tăng cao do sản xuất nội địa không đáp ứng đủ và dự trữ lương thực tăng trước mùa bão lũ.
Indonesia là thị trường lớn thứ hai, nhập khoảng 100.000-120.000 tấn gạo, tập trung vào gạo trắng 5% tấm. Việt Nam trúng thầu các gói thầu lớn từ Cơ quan Hậu cần Quốc gia Indonesia (Bulog), nhưng cạnh tranh từ Ấn Độ gây áp lực giảm giá.
Đánh giá về khả năng xuất khẩu gạo trong những tháng tới, các chuyên gia trong ngành lúa gạo cho rằng, Việt Nam vẫn còn dư địa để tăng xuất khẩu, nhất là tại các thị trường lớn, thị trường gần. Thương vụ Việt Nam tại Philippines dự báo, nhu cầu nhập khẩu gạo của nước này trong năm 2025 vẫn ở mức cao và Việt Nam tiếp tục là quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu của Philippines.
Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) dự báo, xuất khẩu gạo năm 2025 có thể chỉ đạt 7,5 triệu tấn, giảm so với mức kỷ lục hơn 9 triệu tấn năm 2024. Sản lượng gạo xuất khẩu có thể giảm, nhưng nếu tăng được lượng gạo ST24, ST25, gạo thơm chất lượng cao, thì ngoại tệ mang về vẫn tích cực.
Hướng đi bền vững để gạo Việt vẫn giữ được giá và chinh phục được nhà nhập khẩu khó tính là không ngừng nâng cao chất lượng, đa dạng chủng loại, tăng sản xuất gạo thơm, chuyển đổi sản xuất theo hướng bền vững, kiểm soát chặt vấn đề dư lượng hóa chất…
THỦY SẢN
Xuất khẩu thủy sản duy trì đà tăng trưởng tích cực trong tháng 5
Tháng 5/2025, ngành xuất khẩu thủy sản Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, nối dài thành tựu các tháng trước đó. Dựa trên các báo cáo từ Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (Vasep), Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, xuất khẩu thủy sản trong tháng 5/2025 ghi nhận nhiều điểm sáng, dù đối mặt với thách thức từ chính sách thuế quan và cạnh tranh quốc tế.
Cụ thể, theo thống kê của Vasep, tháng 5/2025, xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt khoảng 850-900 triệu USD, tăng 10-15% so với tháng 5/2024, tiếp tục xu hướng tăng trưởng từ đầu năm. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2025, kim ngạch xuất khẩu ước tính đạt 4,3-4,5 tỷ USD, tăng 12-15% so với cùng kỳ năm 2024.
Đối với mặt hàng cá tra, trong tháng 5/2025, xuất khẩu đạt khoảng 170-180 triệu USD, tăng 4-6% so với tháng 5/2024 và tăng nhẹ so với tháng 4/2025. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2025, kim ngạch xuất khẩu cá tra đạt khoảng 810-830 triệu USD, tăng10% so với cùng kỳ năm 2024.Khối lượng xuất khẩu ước tính khoảng130.000-140.000 tấn.
Đối với mặt hàng tôm, đây là mặt hàng tiếp tục là điểm sáng của ngành thủy sản, giữ vững vị thế là mặt hàng chủ lực đóng góp lớn nhất vào tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản. Tháng 5/2025, xuất khẩu tôm đạt khoảng 350-370 triệu USD, tăng 12-15% so với tháng 5/2024 và tăng nhẹ so với tháng 4/2025. Tuy nhiên, với mục tiêu đạt 4 tỷ USD trong năm 2025 thì vẫn còn nhiều thách thức do ảnh hưởng từ thuế đối ứng của Hoa Kỳ và áp lực cạnh tranh toàn cầu.
Có thể nói “Cơn bão thuế đối ứng” từ Mỹ đã tác động không nhỏ tới kim ngạch xuất khẩu tôm của Việt Nam trong tháng 5 do doanh nghiệp gấp rút đẩy mạnh xuất hàng sang Mỹ, tận dụng thời gian tạm hoãn thuế của Mỹ. Sự tăng trưởng ghi nhận ở các thị trường Nhật Bản, EU, Hàn Quốc, Australia, Anh, Đài Loan, Thụy Sỹ cũng thể hiện phần nào sự chuyển hướng thị trường của các doanh nghiệp xuất khẩu tôm trong bối cảnh lo ngại “bão thuế” từ Mỹ.
Một trong những chiến lược khắc phục những rủi ro thuế quan tại thị trường Mỹ, theo Vasep các doanh nghiệp cần chủ động chuyển hướng sang các thị trường có tiềm năng và ưu đãi thuế quan, đặc biệt là tận dụng các hiệp định thương mại tự do (FTA) như EVFTA, CPTPP, RCEP… để mở rộng xuất khẩu sang EU, Nhật Bản, Hàn Quốc. Doanh nghiệp cũng nên hướng tới khai thác thị trường mới như Trung Đông, Nam Mỹ để phân tán rủi ro, giảm phụ thuộc vào một vài thị trường và tính đến cả thị trường nội địa…
CÀ PHÊ
Giá cà phê duy trì ở mức cao khiến kim ngạch xuất khẩu tăng 25% so với cùng kỳ năm 2024
Tháng 5/2025, xuất khẩu cà phê Việt Nam tiếp tục ghi dấu ấn với kim ngạch tăng trưởng mạnh nhờ giá cà phê đạt mức cao kỷ lục, dù sản lượng giảm do tác động của thời tiết và chuyển đổi cây trồng. Dựa trên các báo cáo từ Hiệp hội Cà phê - Cacao Việt Nam (VICOFA), Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, trong tháng 5/2025 kim ngạch xuất khẩu cà phê đạt khoảng 800-850 triệu USD, tăng 25-30% so với tháng 5/2024, nhờ giá cà phê Robusta và Arabica duy trì ở mức cao. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2025, kim ngạch xuất khẩu cà phê đạt khoảng 4,2-4,3 tỷ USD, tăng 20-25% so với cùng kỳ năm 2024.
Về khối lượng, ước tính khoảng 130.000-140.000 tấn cà phê đã được xuất khẩu trong tháng 5, giảm 15-20% so với tháng 5/2024, do nguồn cung cạn kiệt từ niên vụ 2023/2024 và vụ mới 2024/2025 chưa vào thu hoạch chính. Giá xuất khẩu bình quân đối với cà phê Robusta là5.500-5.700 USD/tấn, tăng 70-80% so với tháng 5/2024, đạt mức cao kỷ lục do nguồn cung Robusta toàn cầu khan hiếm. Đối với cà phê Arabica đạt6.000-6.200 USD/tấn, tăng 50-60%, nhờ nhu cầu tăng từ EU và Nhật Bản.
Về cơ cấu sản phẩm, xuất khẩu Robusta chiếm 85-90% tổng kim ngạch, chủ yếu xuất sang EU, Mỹ, và Nhật Bản. Arabica chiếm 10-15%, tập trung vào thị trường cao cấp như EU, Nhật Bản, và Hàn Quốc. Còn lại các sản phẩm chế biến sâu (cà phê hòa tan, rang xay) chiếm 5-7%, tăng trưởng mạnh tại Trung Quốc và ASEAN.
Về nguồn cung, theo dự báo của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA), xuất khẩu cà phê của Việt Nam sẽ tăng tiếp trong những tháng tới, khi nông dân cần giải phóng kho bãi để chuẩn bị cho vụ thu hoạch mới bắt đầu từ tháng 10. Mặc dù thời tiết vẫn còn nhiều diễn biến cực đoan nhưng nhờ giá cà phê đang ở mức cao, nông dân các nước đã đẩy mạnh đầu tư chăm sóc, góp phần nâng cao năng suất, dẫn đến nguồn cung sẽ dồi dào hơn trong ngắn hạn.
Ông Lê Đức Huy, Phó Chủ tịch Hiệp hội Cà phê Buôn Ma Thuột cho biết lượng cà phê tồn trong dân hiện nay không còn nhiều. Với kết quả xuất khẩu 5 tháng đầu năm 2025 lên tới 4,3 tỷ USD, dự báo ngành cà phê Việt Nam hoàn toàn có thể chạm mốc 7 tỷ USD trong năm 2025, một con số chưa từng có tiền lệ, khẳng định vị thế của Việt Nam là quốc gia xuất khẩu cà phê Robusta hàng đầu thế giới.
HẠT TIÊU
Giá hạt tiêu giảm trong tháng 5 do nhiều yếu tố tác động
Theo số liệu thống kê của Hiệp hội Hồ tiêu và Cây gia vị Việt Nam (VPSA), trong tháng 4/2025, Việt Nam đã xuất khẩu 23.271 tấn hồ tiêu đen và 3.319 tấn hồ tiêu trắng. Luỹ kết 4 tháng đầu năm, tổng lượng hồ tiêu xuất khẩu đạt 74.250 tấn, trị giá hơn 510,6 triệu USD. So với cùng kỳ năm 2024, lượng xuất khẩu giảm 10,6% nhưng giá trị lại tăng mạnh 45%, phản ánh sự gia tăng đáng kể về giá bán trên thị trường thế giới.
Trong tổng lượng xuất khẩu 4 tháng, hồ tiêu đen chiếm 63.124 tấn và hồ tiêu trắng đạt 11.126 tấn. Giá xuất khẩu trung bình của hồ tiêu đen trong 4 tháng đầu năm 2025 là 6.794 USD/tấn, tăng 96% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, giá hồ tiêu trắng đạt trung bình 8.611 USD/tấn, cũng tăng 73,8% so với cùng kỳ 2024.
Về thị trường, Hoa Kỳ vẫn là quốc gia nhập khẩu hồ tiêu Việt Nam lớn nhất trong 4 tháng đầu năm 2025 với 16.682 tấn, giảm 26,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Nguyên nhân xuất khẩu tiêu suy giảm quá lớn tại thị trường Hoa Kỳ được Hiệp hội Hồ tiêu và Cây gia vị Việt Nam (VPSA) nhận định là do ảnh hưởng của thuế đối ứng tại thị trường này, hiện tạm thời được áp 10%.
Tuy nhiên, xuất khẩu tính trong 4 tháng vẫn tăng mạnh, là nhờ sự tăng trưởng rất mạnh ở thị trường UAE và Trung Quốc. Vị trí thứ hai về thị trường xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam là Ấn Độ với 5.905 tấn, tăng 6,4% so với cùng kỳ năm 2024. Thứ ba là các thị trường UAE, với lượng xuất khẩu 4.981 tấn, tăng 42,2% so với cùng kỳ năm 2024. Đức ở vị trí thứ tư, với 4.952 tấn, giảm 9,7% so với cùng kỳ năm 2024; Trung Quốc đứng vị trí thứ năm, với 3.371 tấn, tăng 94,4% so với cùng kỳ năm 2024.
Ở chiều ngược lại, tổng lượng nhập khẩu hạt tiêu trong 4 tháng đầu năm đạt 15.374 tấn với trị giá 88,3 triệu USD, tăng 25,3% về lượng và tăng vọt 104,8% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. Trong số đó, hồ tiêu đen nhập khẩu đạt 11.750 tấn và hồ tiêu trắng đạt 3.624 tấn.
Tại thị trường trong nước, giá hồ tiêu đang ghi nhận xu hướng giảm giá mạnh từ cuối tháng 4/2025 đến 10 ngày đầu tháng 5/2025. Đặc biệt, ngày 12/5, giá hồ tiêu trong nước giảm rất mạnh, với mức giảm 1.500 - 4.000 đồng/kg so với ngày 11/5. Một số khu vực như Đắk Nông ghi nhận mức giảm sâu nhất, tới 4.000 đồng/kg so với phiên liền trước.
Sang đến ngày 13/5, giá tiêu vẫn duy trì như mức giá của ngày 12/5, hiện giá thu mua trung bình dao động từ 151.000 – 152.000 đồng/kg. Tại Gia Lai và Đắk Lắk, giá tiêu xuống còn 151.000 đồng/kg; Bà Rịa – Vũng Tàu là địa phương giữ mức cao nhất với 152.000 đồng/kg.
Và đến ngày 30/5, giá hồ tiêu giảm còn từ 145.500-146.500 đồng/kg. Đây là mức giá thấp nhất trong 4 tháng qua, kể từ ngày 22/1/2025. Nguyên nhân khiến giá hồ tiêu giảm là do một số yếu tố chính lànguồn cung ổn định sau vụ thu hoạch niên vụ 2024/2025 tại các vùng trọng điểm như Đắk Lắk, Gia Lai, và Đắk Nông. Ngoài ra, thị trường thận trọng trong giao dịch do đang chờ kết quả đàm phán thuế xuất khẩu, đặc biệt với Mỹ, nơi áp thuế đối ứng dự kiến 46% từ cuối năm 2025. Và cuối cùng là do nhu cầu từ một số thị trường lớn như Trung Quốc chững lại, gây áp lực lên giá nội địa…
Theo các chuyên gia, sau khi Hoa Kỳ công bố chính sách thuế đối ứng, hồ tiêu Việt Nam đang phải đối mặt với áp lực cạnh tranh ngày càng lớn từ sản phẩm của Brazil và Indonesia do mức thuế của hai nước này thấp hơn.
Tuy vậy, thị trường thế giới vẫn ổn định và kỳ vọng nhu cầu sẽ gia tăng trong quý 2, giúp duy trì mức giá xuất khẩu cao. Trong quý 2, hồ tiêu đang chịu thuế suất 10% tại Hoa Kỳ, nhưng sang đến quý 3, thuế suất tại thị trường này có thể tăng lên trên 25%-30%, sẽ khiến hạt tiêu của Việt Nam càng kém sức cạnh tranh tại thị trường Hoa Kỳ.
CAO SU
Kim ngạch xuất khẩu cao su tăng 20% so với cùng kỳ 2024
Theo Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA), tháng 5/2025, xuất khẩu cao su Việt Nam tiếp tục ghi nhận kim ngạch tăng trưởng nhờ giá cao su đạt mức cao nhất trong hơn một thập kỷ, mặc dù sản lượng giảm do thời tiết bất lợi và giai đoạn thấp điểm khai thác.
Trong tháng 5, xuất khẩu cao su đạt khoảng 350-370 triệu USD, tăng15-20% so với tháng 5/2024, nhờ giá cao su tăng mạnh. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2025, kim ngạch đạt khoảng 1,7-1,8 tỷ USD, tăng 18-22% so với cùng kỳ năm 2024, theo dữ liệu từ Cục Hải quan.
Về khối lượng, ước tính 180.000-190.000 tấn cao su được đã xuất khẩu, giảm 10-15% so với tháng 5/2024, do giai đoạn thấp điểm (tháng 2-5 cây cao su thay lá) và sản lượng niên vụ 2024/2025 giảm.Giá xuất khẩu bình quân đối với cao su hỗn hợp (HS 400280) đạt1.950-2.000 USD/tấn, tăng 30-32% so với tháng 5/2024;Cao su SVR 3L: 2.150-2.200 USD/tấn, tăng 28-30%; Cao su Latex: 1.500-1.550 USD/tấn, tăng 24-26%.
Về cơ cấu, chủng loại sản phẩm, cao su hỗn hợp (HS 400280) chiếm 55-60% tổng kim ngạch, chủ yếu xuất sang Trung Quốc.Cao su SVR 3L, SVR 10, SVR 20: Chiếm 30-35%, phục vụ thị trường châu Á và EU. Ngoài ra, sản phẩm chế biến sâu (lốp xe, găng tay cao su) chiếm 5-7%, tăng trưởng mạnh tại thị trường Malaysia và EU.
Về thị trường, Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn nhất với kim ngạch tháng 5 đạt khoảng 250-260 triệu USD, chiếm 70-72% tổng kim ngạch, tăng 10-15% so với tháng 5/2024.Lũy kế 5 tháng đạt 1,2-1,3 tỷ USD, tăng 15-20%, nhờ nhu cầu ngành công nghiệp ô tô điện tăng.
Dự báo trong tháng 6/2025, xuất khẩu cao su Việt Nam dự báo đạt 380-400 triệu USD, tăng 8-14% so với tháng 6/2024, với khối lượng 190.000-200.000 tấn, nhờ giá cao và nhu cầu mạnh từ Trung Quốc, Ấn Độ, và Malaysia. Tuy nhiên, sản lượng giảm, tồn kho thấp, và các rào cản kỹ thuật (EUDR, thuế Mỹ) sẽ là thách thức lớn. Ngành cao su cần đẩy mạnh chế biến sâu, cải thiện truy xuất nguồn gốc, và mở rộng thị trường để duy trì đà tăng trưởng.
(TTGCVT tổng hợp)