Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Diễn biến thị trường hàng hóa - nguyên liệu trong nước năm 2022
Cập nhật: 19-1-2023

VÀNG

Thị trường vàng một năm "đầy kịch tính"

Trải qua một năm nhiều thăng trầm, giá vàng thế giới dao động quanh ngưỡng 1.800 USD/oz trong những ngày cuối của năm 2022. Trong nước, giá vàng miếng SJC bán lẻ chững ở vùng 67 triệu đồng/lượng, mang lại cho nhà đầu tư mức lợi nhuận hơn 5 triệu đồng/lượng nếu nắm giữ từ cuối năm ngoái tới hiện tại.

Tại thị trường trong nước, ngày 1-1-2023, giá vàng SJC được các doanh nghiệp niêm yết mua vào 65,9 triệu đồng/lượng, bán ra 66,7 triệu đồng/lượng, tăng khoảng 5 triệu đồng/lượng so với mức giá đầu năm 2022. Như vậy, giá vàng SJC đã tăng khoảng 8,5% trong năm qua. Đây là mức sinh lời đáng kể nếu so với các kênh đầu tư khác như chứng khoán, bất động sản, nắm giữ USD… So với lãi suất gửi tiết kiệm, mức sinh lời của giá vàng SJC cũng tương đương. 

Diễn biến ghi nhận trong năm 2022, thời điểm từ cuối tháng Hai đến nửa đầu tháng Ba, giá vàng liên tục phá vỡ kỷ lục. Tình hình chiến sự giữa Nga và Ukraine liên tục leo thang cộng với nỗi lo lạm phát đã không ngừng đẩy nhà đầu tư tìm đến các tài sản an toàn và khiến giá vàng tăng nhanh. Tại thời điểm này, giá vàng có thời điểm giao dịch trên ngưỡng 74 triệu đồng/lượng.

Sau đó, giá vàng lùi về giao dịch quanh mức 69 triệu đồng/lượng; và bất ngờ giảm sốc tới 4 triệu đồng chỉ trong vài giờ vào cuối tháng Bảy, đưa giá vàng xuống ngưỡng 65 triệu đồng/lượng. Như vậy, nếu những người mua vàng SJC ở vùng đỉnh 74 triệu đồng/lượng sẽ không có lãi, thậm chí còn đang lỗ khoảng 10% trong năm qua.

Còn với những người nắm giữ vàng nhẫn, vàng trang sức 24K các loại, năm 2022 cũng là một năm gần như không có lời. Giá vàng trang sức chỉ tăng khoảng 1 triệu đồng/lượng trong năm qua. 

Theo các chuyên gia, những thông tin tiêu cực đối với giá vàng nổi lên khá mạnh mẽ, đặc biệt là lãi suất; đồng thời, chỉ số đồng USD tăng, gây áp lực lên giá vàng.

Trước biến động khó lường như vậy, sự chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới là điều người dân và doanh nghiệp quan tâm. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng khẳng định, việc chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới cũng như chênh lệch giữa vàng miếng SJC và các loại vàng miếng khác là phù hợp.

Sự chênh lệch do giá nguyên liệu nhập khẩu và nguồn cung hạn chế. Từ năm 2014 đến nay, Ngân hàng Nhà nước không đưa thêm vàng ra thị trường nên vàng miếng SJC trong lưu thông thậm chí còn được chuyển hóa sang vàng nguyên liệu để phục vụ cho sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ. Các loại vàng trang sức mỹ nghệ này còn được xuất khẩu.

Theo nhiều nhà đầu tư, vàng không còn là kênh đầu tư, nắm giữ hấp dẫn như những năm trước. Quy mô thị trường vàng ngày càng thu hẹp trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước từ nhiều năm qua không cấp phép cho doanh nghiệp nào nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng SJC hoặc vàng trang sức. Nguồn cung trên thị trường vàng hiện chủ yếu từ mua đi, bán ra.

Đề cập đến xu hướng thị trường vàng trong nước, một số nhà phân tích cho rằng diễn biến của giá vàng trong năm 2023 sẽ phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và tác động của nó đối với đồng USD.

Thực tế, giá vàng thường rất nhạy cảm với động thái tăng giảm lãi suất của Mỹ, việc này đã làm gia tăng cơ hội của việc nắm giữ tài sản ít rủi ro này. Bên cạnh đó, việc chuyển động của chính sách tiền tệ là đồng USD có dấu hiệu giảm nhiệt, nhiều công ty lớn đã dự trữ vàng cho các phiên tiếp theo. Kéo theo đó là giá vàng có phần đi lên.

Trước diễn biến của tình hình thế giới, ông Huỳnh Trung Khánh, Phó chủ tịch Hiệp hội kinh doanh vàng Việt Nam dự báo, đầu năm 2023, giá vàng trong nước sẽ tăng cao. Đây là khoảng thời gian một số nước ở châu Á như Việt Nam, Trung Quốc, Singapore, Thái Lan, Hàn Quốc... đón Tết âm lịch. Do đó, người dân thường có xu hướng mua vàng nhiều hơn. 

ĐÔ LA

Thị trường ngoại hối VNĐ/USD liên tiếp gặp “sóng lớn” trong năm 2022

Trong năm 2022, có thời điểm mất giá 7-8% so với cuối năm 2021 nhưng đến ngày giao dịch cuối cùng của năm 2022, VND chỉ còn mất giá 3,53%, bằng một nửa so với hai tháng trước. Trong khi đó, giá USD tự do lao dốc mạnh.

Ngày giao dịch cuối năm 31/12, giá bán USD tại Vietcombank chỉ còn 23.730 đồng/USD, giảm 50 đồng/USD so với ngày trước đó. Còn so với giá USD ngày giao dịch đầu năm là 22.920 đồng/USD, thì trong năm qua giá USD chỉ tăng 810 đồng/USD, tương đương 3,53%. Tỷ giá trung tâm ở mức 23.612 đồng/USD, giảm 5 đồng so với phiên trước.So với đầu tháng 12, tỷ giá trung tâm đã giảm khoảng 50 đồng/USD.

Giá USD tự do cũng mất mốc 24.000 đồng/USD. Cuối ngày 31/12 giá bán USD tại thị trường tự do chỉ còn 23.774 đồng/USD, mua vào 23.724 đồng/USD. So với mức đỉnh cuối tháng 10 là 25.200 đồng/USD, giá mua bán USD tại thị trường tự do đã giảm khoảng 1.326 đồng/USD.

Hãy cùng điểm lại diễn biến của tỷ giá đồng bạc xanh trong năm 2022. Sau giai đoạn trầm lắng, đến đầu 2022, tỷ giá USD/VND trên thị trường ngoại hối của Việt Nam ghi nhận những đợt sóng lớn, trong bối cảnh thị trường quốc tế diễn biến phức tạp với nhiều biến động khó lường. 

 

 

Từ đầu 2022, thị trường ngoại hối thế giới chịu nhiều sức ép: Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) và các ngân hàng trung ương nhiều lần lãi suất điều hành nhằm kiểm soát áp lực lạm phát tăng cao kỷ lục. Đồng USD quốc tế tăng giá mạnh ở mức cao nhất 20 năm, khiến đồng tiền của nhiều nước mất giá mạnh. Tại Việt Nam, trong suốt 9 tháng đầu năm, 

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã nỗ lực trong việc ổn định tỷ giá dù thị trường quốc tế biến động mạnh. NHNN điều hành tỷ giá theo hướng vừa tạo dư địa để tỷ giá diễn biến linh hoạt vừa can thiệp thị trường ngoại tệ để hạn chế biến động quá mức của tỷ giá, góp phần bình ổn thị trường ngoại tệ, ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát

Bắt đầu từ cuối tháng 3/2022, sau một thời gian dài ổn định ở vùng giá bán dưới 23.000 đồng/USD, các ngân hàng thương mại đã nâng giá bán USD lên mức 23.000 đồng.

Điểm đánh dấu cho mạch tăng liên tục của tỷ giá USD/VND là ngày 6/7 khi giá bán USD tại các ngân hàng thương mại chạm mốc 23.500 đồng.

Từ đầu tháng 9, tỷ giá USD/VND tại các ngân hàng thương mại tăng rất nhanh.

Ngày 5/9, giá USD bán ra mà các ngân hàng ở mức 23.600 đồng.Chỉ vài ngày sau, ngày 8/9, các ngân hàng đồng loạt nâng giá bán USD vượt 23.700 đồng.Hơn 10 ngày sau, ngày 19/9, giá bán tại các ngân hàng vượt mốc 23.800 đồng.Tới ngày 29/9, giá bán USD niêm yết tại các ngân hàng thương mại lại đồng loạt vượt mốc 23.900 đồng. Đến ngày 30/9, giá bán USD tại các ngân hàng đã chính thức vượt mốc lịch sử 24.000 đồng.

Từ đầu tháng 10, tỷ giá USD/VND tại các ngân hàng thương mại vẫn tăng không ngừng nghỉ. Ngày 8/10, giá bán USD tại một số ngân hàng thương mại đã cán mốc 24.100 đồng. Ngày 13/10, giá USD tại ngân hàng tăng lên mức 24.200 đồng. Đặc biệt, từ ngày 17/10, sau khi NHNN quyết định điều chỉnh biên độ tỷ giá giao ngay USD/VND từ mức +/-3% lên +/-5%và quyết định nâng giá bán ra USD tại Sở Giao dịch NHNN từ 23.925 đồng/USD lên 24.380 đồng/USD, tức tăng tới 455 đồng/USD, tỷ giá USD/VND đã tăng mạnh trên mọi thị trường.

Ngày 17/10, giá bán USD tại các ngân hàng sát mốc 24.300 đồng.Ngày 18/10, giá bán USD tại nhiều ngân hàng vượt 24.500 đồng.Ngày 19/10, giá USD bán ra tại các ngân hàng đạt mức 24.600 đồng.Tới ngày 21/10, tỷ giá USD tại các ngân hàng tiếp tục tăng mạnh, vượt mốc 24.800 đồng/USD. Có một số ngân hàng nâng giá bán USD lên sát mốc 24.900 đồng, áp sát giá USD trên thị trường "chợ đen". Trong tuần cuối tháng 10, tỷ giá trung tâm đã tăng 5 phiên liên tiếp, tương ứng tăng thêm 147 đồng. Tỷ giá trần được phép giao dịch tại các ngân hàng tăng 2,58%.

Tính từ đầu năm đến gần cuối tháng 10, giá USD tại các ngân hàng thương mại đã tăng khoảng 1.750-1.800 đồng/USD, tương đương tăng 7,7-7,8%. Việc tỷ giá USD tăng là điều không tránh khỏi trong bối cảnh Fed liên tục tăng lãi suất điều hành, nhiều đồng tiền trên thế giới đã mất giá tới 30-40% so với USD. So với các đồng tiền trong khu vực, VND vẫn là một trong những đồng tiền ổn định nhất.Nhờ đó, tỷ giá ở Việt Nam chưa đến mức quá căng thẳng.

Trước sức ép liên tục gia tăng như trên, NHNN đã phải bán ra lượng lớn ngoại tệ từ dự trữ ngoại hối để ổn định thị trường. Theo thống kê của giới phân tích, trong 9 tháng đầu với tâm điểm là quý III, lượng ngoại tệ mà NHNN đưa ra can thiệp đã vượt ngưỡng 20 tỷ USD, tương đương hơn 20% tổng dự trữ ngoại hối.

Một trong những mục tiêu quan trọng trong điều hành chính sách tiền tệ của NHNN là ổn định tỷ giá và thị trường ngoại hối.Ở thời điểm hiện nay, giới phân tích nhận định, mục tiêu này đang có một số yếu tố thuận lợi. Đó là: Bộ Tài chính Hoa Kỳ đã đưa Việt Nam ra khỏi danh sách giám sát thao túng tiền tệ trong kỳ công bố Báo cáo về “Chính sách kinh tế vĩ mô và ngoại hối của các đối tác thương mại lớn của Hoa Kỳ” mới đây.

Mặt khác, Fed giảm mức độ tăng lãi suất vào tháng 12. Cùng với đó, các biến số quan trọng như cán cân thanh toán hay sức khỏe nền kinh tế/ổn định chính trị của Việt Nam đang được dự báo tích cực. Những yếu tố này được kỳ vọng sẽ tạo thuận lợi cho NHNN linh hoạt hơn trong chính sách quản lý ngoại hối, làm chậm lại khả năng trượt giá của VND, qua đó cũng sẽ giúp hạ nhiệt tỷ giá.

Năm 2023, giới phân tích dự báo, tỷ giá vẫn còn chịu áp lực, dù không quá lớn như giai đoạn vừa qua.Theo đó, sự bất định của kinh tế toàn cầu, cuộc xung đột Nga - Ukraine chưa có hồi kết... cũng là những yếu tố gây áp lực lên tỷ giá.

Giới phân tích trong nước đưa ra 3 kịch bản biến động của tỷ giá ngân hàng thương mại trong năm 2023. Ở kịch bản thứ nhất, lãi suất mục tiêu của Fed năm 2023 là 5%, lãi suất hiệu lực của FED được ước lượng khoảng 4,7%; tỷ giá ngân hàng thương mại là 25.609  đến 25.857 đồng;Kịch bản thứ hai, lãi suất mục tiêu của Fed khoảng 5,25% và lãi suất hiệu lực được kỳ vọng ở mức 4,95%, tỷ giá ngân hàng thương mại là 26.106 – 26.355 đồng; Kịch bản thứ ba, lãi suất mục tiêu của Fed khoảng 5,5% và lãi suất hiệu lực được kỳ vọng ở mức 5,2%; tỷ giá ngân hàng thương mại là 26.603 - 26.852 đồng.

Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú cho biết, định hướng năm 2023, trong điều hành chính sách lãi suất, tỷ giá, NHNN sẽ tiếp tục những chính sách hết sức linh hoạt và đảm bảo được cân đối chung để đảm bảo được niềm tin doanh nghiệp, người dân trong nền kinh tế đối với việc duy trì sự ổn định lãi suất cũng như ổn định xã hội. 

THÉP XÂY DỰNG

2022: Thị trường thép tiếp tục ảm đạm, giảm cả sản xuất và tiêu thụ

Trong năm 2022, sự sụt giảm của thị trường tiêu thụ khi thị trường bất động sản chững lại, biến động tỷ giá ngoại tệ… khiến nhiều nhà máy trong tình trạng khó khăn, tồn kho cao. Các nhà máy có kết quả kinh doanh giảm sút, phải tính đến việc đóng lò, cắt giảm nhân sự... Các công ty thương mại, nhà phân phối chỉ nhập hàng khi có khách hàng, giao dịch trầm lắng.

Việc tiêu thụ các sản phẩm thép hạ nguồn cũng gặp khó khăn do thị trường trầm lắng. Theo đó, sản lượng ống thép và tôn mạ đạt lần lượt 53.000, 22.800 tấn trong tháng 11/2022.Riêng xuất khẩu tôn mạ là 9.000 tấn, bằng 16% so với tháng 11/2021.

Năm 2022 cũng là năm biến động lớn về giá thép xây dựng trên thị trường. Kể từ giữa tháng 5 đến gần cuối tháng 8/2022, giá thép đã trải qua tới 17 lần giảm giá liên tiếp và phục hồi trở lại vào tháng 9 và tháng 10/2022 với 3 nhịp điều chỉnh tăng. Đến đầu tháng 12, các doanh nghiệp thép trong nước đã tiếp tục điều chỉnh giá điều chỉnh giá, song các đợt tăng/giảm không đồng nhất.

Trong vòng vài tuần của tháng 12, nhiều thương hiệu đã điều chỉnh giá vài lần. Đáng chú ý, thép Hòa Phát đã tăng giá mạnh sản phẩm thép cuộn CB240 lên mức 14,74 triệu đồng/tấn và thép thanh vằn D10 CB300 lên mức 15,02 triệu đồng/tấn. Tuy nhiên, một số thương hiệu khác như thép Việt Ý hay thép Pomina lại ghi nhận mức giá có sự điều chỉnh giảm nhẹ.

Theo Sở Giao dịch Hàng hoá Việt Nam (MXV), thị trường thép đang chờ đợi những tín hiệu tích cực trong đầu năm 2023 bởi thông thường, đây sẽ là giai đoạn nhu cầu thép tăng lên khi các công trình xây dựng và hàng loạt các dự án gấp rút đẩy mạnh tiến độ.

Nhu cầu thép trong năm 2023 có thể tăng mạnh hay không vẫn còn phụ thuộc nhiều yếu tố, nhất là khi tồn kho thép của các doanh nghiệp trong nước vẫn còn cao. Tuy nhiên, với hi vọng về việc Trung Quốc mở cửa trở lại, và sự nỗ lực của các doanh nghiệp trong nước tiếp cận các thị trường mới trên thế giới, ngành thép sẽ có nhiều cơ hội phục hồi.

VnDirect dự báo tổng nhu cầu thép trong nước sẽ tăng trưởng âm một chữ số vào năm 2023. Cụ thể, VnDirect kỳ vọng sản lượng tiêu thụ thép xây dựng và tôn mạ sẽ cùng giảm 3% so với cùng kỳ trong năm 2023.  

XI MĂNG

Giá xi măng biến động trong tháng 6 và bình ổn ở các tháng còn lại

Bước vào những tháng cuối năm 2022, trái ngược với những năm trước, nhu cầu tiêu thụ xi măng có xu hướng chững lại do các công trình xây dựng, dự án đã đẩy mạnh việc mua vật liệu xây dựng vào tháng trước. Mặt khác, sức mua của thị trường có phần suy giảm do dòng tiền bị hạn chế, kinh tế khu vực dân cư gặp nhiều khó khăn.


Theo số liệu thống kê từ Báo cáo ngành Xi măng đến tháng 11, toàn ngành sản xuất đạt 6,33 triệu tấn tương đương với sản lượng tháng 10. Tiêu thụ xi măng tăng nhẹ khoảng 4% so với tháng trước nhưng giảm mạnh so với năm 2021 chỉ đạt khoảng 7,79 triệu tấn.

Sản lượng tiêu thụ xi măng nội địa trong tháng 11 giảm 2% so với tháng 10, đạt 5,26 triệu tấn. Lũy kế 11 tháng, tiêu thụ xi măng tại thị trường trong nước ước đạt 57,19 triệu tấn. Xuất khẩu xi măng và clinker tháng 11 vẫn giữ đà tăng, đạt 2,51 triệu tấn. 11 tháng xuất khẩu xi măng và clinker ước đạt 28,87 triệu tấn.

Trong tháng 6/2022, giá xi măng đã có 3 đợt được các doanh nghiệp tăng giá bán. Và sau 3 đợt tăng giá này, các loại xi măng đắt thêm 300-400 nghìn đồng/tấn, lên ngưỡng 1,65-1,7 triệu đồng/tấn, tương ứng với mức tăng trên 30%.Theo nhận định của Hiệp hội Xi măng, việc điều chỉnh tăng giá của các doanh nghiệp vào thời điểm này là hợp lý bởi chi phí nguyên vật liệu đầu vào phục vụ cho sản xuất xi măng như than, điện, xăng dầu, thạch cao, các loại phụ gia, vỏ bao, giá cước vận chuyển và giá nhân công liên tục tăng.

Những tháng cuối năm 2022, thị trường hầu như không có sự điều chỉnh giá bán, nhưng để thúc đẩy bán hàng, nhiều đơn vị vẫn tiếp tục có chính sách hỗ trợ, chiết khấu thương mại, một số doanh nghiệp tiếp tục cho ra các nhãn mới giá rẻ để giảm giá bán một cách công khai.

Đánh giá về năm 2022, lãnh đạo Tổng công ty Xi măng Việt Nam (Vicem) cho biết, sự mất cân đối cung - cầu cục bộ giữa các vùng miền làm tăng chi phí logistics. Thị trường xi măng trong nước tiếp tục cạnh tranh khốc liệt do cung vượt cầu. Giá cả vật tư, nguyên, nhiên liệu đầu vào cho sản xuất xi măng tăng cao. Kênh xuất khẩu xi măng, clinker cũng gặp rất nhiều khó khăn do Covid-19, gây áp lực ngược trở lại thị trường trong nước.Thêm vào đó, xu hướng dịch chuyển nhu cầu xi măng bao sang xi măng rời làm giảm hiệu quả sản xuất, kinh doanh của Vicem do giá trị thương hiệu chủ yếu gắn với xi măng bao. 

 

 

Trước những dự báo về thị trường, cung - cầu trong nước vẫn chưa được khống chế, Vicem đặt mục tiêu sản xuất clinker trong năm 2023 đạt khoảng 24,2 triệu tấn, tăng khoảng 17% so với năm 2021. Tổng sản phẩm tiêu thụ khoảng 29,2 triệu tấn, tăng 5,3% so với năm trước.

 

XĂNG DẦU 

Năm 2022 thị trường xăng dầu đã có 17 lần tăng, 16 lần giảm và 1 lần giữ nguyên giá

“Dị biệt” là từ khóa các chuyên gia nói về thị trường xăng dầu Việt Nam năm 2022. Trong năm nay, giá xăng dầu đã trải qua 34 đợt điều chỉnh, trong đó có 17 lần tăng, 16 lần giảm và một lần giữ nguyên.

Dưới sự tác động của xung đột Nga – Ukraine và sự cố nhà máy lọc dầu Nghi Sơn giảm công suất đã đẩy giá xăng cao kỷ lục với gần 33.000 đồng/lít vào ngày 21/6, giá xăng dầu cao ngất ngưởng khiến cả người dân và doanh nghiệp rơi vào hoảng loạn.

Cũng lần đầu tiên trong lịch sử, giá dầu diesel, dầu hỏa vượt giá xăng và hiện tượng này kéo dài cho đến cuối năm 2022 và chưa có dấu hiệu “lật ngược tình thế”. Sự bất thường của thị trường xăng dầu khiến cơ quan quản lý hai lần phải can thiệp bằng cách giảm thuế bảo vệ môi trường, giảm thêm thuế nhập khẩu… để bình ổn thị trường. 

 

 

Đến kỳ cuối cùng điều chỉnh giá ngày 21/12/2022, giá xăng dầu trong nước đã trở về mức giá:xăng E5 RON 92 còn 19.700 đồng/lít; xăng RON 95 còn 20.700 đồng/lít. Giá dầu hỏa giảm còn 21.830 đồng/lít; dầu diesel giảm còn 21.600 đồng/lít; dầu mazut giảm xuống 12.860 đồng/kg.Như vậy, giá xăng đã có lần giảm thứ 4 liên tiếp tại thời điểm 21/12/2022.

 

Ngày 31/12, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã đồng ý giảm 50% mức thuế bảo vệ môi trường với xăng (trừ etanol), dầu diesel, dầu mazut, dầu nhờn, mỡ nhờn... so với mức trần biểu khung thuế. Như vậy, mức thuế môi trường với xăng năm 2023 (trừ ethanol) là 2.000 đồng một lít; dầu diesel, dầu nhờn, dầu mazut và mỡ nhờn là 1.000 đồng một lít, kg; dầu hỏa 600 đồng một lít.

Tại hội nghị tổng kết năm 2022 của Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp, ông Phạm Văn Thanh, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Petrolimex cũng cho rằng thị trường xăng dầu giai đoạn 2020-2022 biến động bất thường với biên độ lớn và kéo dài chưa từng có tiền lệ.Giá dầu có lúc âm, có lúc vượt lên 150 USD/thùng.Điều này gây áp lực cho các doanh nghiệp trong hệ thống. Trong khi đó, nhiều chính sách nhà nước không theo kịp diễn biến của thị trường xăng dầu dẫn đến tình trạng không phản ánh đủ giá vốn. Xăng dầu cứ nhập về đến cảng là đã lỗ.

Tình trạng giá bán thấp hơn giá vốn đã khiến các doanh nghiệp đầu mối cung cấp nhỏ giọt, cửa hàng bán lẻ nghỉ bán, treo biển “hết xăng dầu” vì chiết khấu bằng 0. Thị trường xăng dầu hỗn loạn trong suốt tháng 10, 11, người dân phải xếp hàng từ sáng sớm đến đêm muộn để mua xăng.

Liên quan đến vấn đề này, Bộ trưởng Công Thương giải thích thị trường xăng dầu trong nước chịu sự ảnh hưởng của sự đứt gãy nguồn cung thế giới, khủng hoảng năng lượng, lạm phát tăng cao, giá điều chỉnh trong biên độ lớn.Ngoài ra, các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu khó tiếp cận với vốn, bảo lãnh tín dụng của ngân hàng, điều kiện vay thanh khoản khó khăn, tỷ giá ngoại tệ để nhập hàng thay đổi liên tục, biên độ giá dao động lớn, rủi ro cao cho các doanh nghiệp.

Sau khi tiếp nhận thông tin từ phía doanh nghiệp và Bộ Công Thương, Bộ Tài chính điều chỉnh các chi phí phát sinh trong cơ cấu giá xăng dầu, Ngân hàng Nhà nước cũng cấp vốn cho các doanh nghiệp, thị trường xăng dầu trong nước trong tháng 12 đã lắng dịu và không còn tình trạng thiếu xăng dầu.

Cho đến thời điểm này, các doanh nghiệp phân phối xăng dầu đều đã công bố kết quả kinh doanh năm 2022, cơ bản các công ty đều về đích hoặc vượt kế hoạch đề ra năm nay.

Về tình hình nhập khẩu mặt hàng xăng dầu năm 2022, theo Trung tâm thông tin công nghiệp và thương mại (Bộ Công Thương), tính chung 11 tháng, nhập khẩu xăng dầu đạt 7.894.890 tấn, trị giá 8,1 tỷ USD, tăng 23,8% về lượng và tăng 119,6% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2021.

Việt Nam nhập khẩu xăng dầu nhiều nhất từ Hàn Quốc trong 11 tháng năm 2022, chiếm 36-37% trong tổng lượng và kim ngạch nhập khẩu, đạt 2.878.895 tấn, trị giá 3,07 tỷ USD, tăng 101,1% về lượng và tăng 260,6% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2021.Tiếp sau là thị trường Singapore, chiếm hơn 16% trong tổng lượng và kim ngạch nhập khẩu trong 11 tháng năm 2022, đạt 1.319.027 tấn, trị giá 1,31 tỷ USD, tăng 15,2% về lượng và tăng 95,8% về kim ngạch

Theo Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên, Bộ Công Thương trong năm 2022 đã thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm bảo đảm nguồn cung. Theo đó, Bộ đã chỉ đạo các thương nhân sản xuất xăng dầu và thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu tăng lượng nhập khẩu và mua từ nguồn sản xuất trong nước để bảo đảm duy trì nguồn cung xăng dầu cung ứng cho thị trường.

Cùng với đó là tăng công suất sản xuất tối đa có thể để cung ứng cho thị trường; kiến nghị Bộ Tài chính thực hiện điều chỉnh các chi phí trong giá cơ sở xăng dầu cho phù hợp với thực tế phát sinh tại doanh nghiệp, bảo đảm doanh nghiệp hoạt động ổn định cung ứng xăng dầu cho thị trường.

Ngoài ra, kiến nghị Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính tạo điều kiện về tín dụng và thủ tục hải quan cho các doanh nghiệp thực hiện nhập khẩu xăng dầu; dự tính nhu cầu thị trường và thực hiện phân giao tổng nguồn xăng dầu cho từng doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xăng dầu để bảo đảm cung ứng đủ xăng dầu cho thị trường.

"Đến nay, nguồn cung xăng dầu trong nước cơ bản được bảo đảm, đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất, tiêu dùng trong nước, không xảy ra tình trạng thiếu xăng dầu cục bộ", Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên khẳng định.  

 

 

GAS

 

Giá gas tăng 5 lần và giảm 7 lần trong năm 2022

Giá gas trong nước biến động theo giá gas thế giới. Trong năm 2022, giá bán lẻ gas được điều chỉnh tăng 5 đợt và giảm 7 đợt, bình quân năm 2022, giá gas tăng 11,49% so với năm 2021, làm CPI chung tăng 0,17 điểm phần trăm.

Giá gas trong nước giảm ngay từ đầu tháng 1/2022. Đây là tháng thứ 2 liên tiếp giá gas giảm, giúp hạ nhiệt giá gas sau quãng thời gian tăng giá liên tục khiến người tiêu dùng gặp khó khăn trong tiêu dùng.Theo đó, giá bán lẻ gas Petrolimex tháng 1/2022 tại thị trường là 444.300 đồng/bình dân dụng 12 kg; 1.760.900 đồng/bình công nghiệp 48 kg, lần lượt giảm 8.500 đồng/bình 12 kg và 34.300 đồng/bình 48 kg.

Tháng thứ 2, theo thông báo của Saigon Petro, giá bán gas SP tăng 1.333 đồng/kg (đã VAT), tương đương 16.000 đồng bình 12kg. Giá gas bán lẻ đến người tiêu dùng như sau: Saigon Petro 460.000 đồng/bình 12 kg (màu xám), PetroVietnam gas 461.900 đồng/bình 12 kg...

Giá gas tiếp tục tăng trong tháng 3. Thông tin từ các doanh nghiệp kinh doanh gas cho biết từ ngày 1/3/2022, giá gas bán lẻ trong nước sẽ được điều chỉnh tăng thêm 42.000 đồng/bình loại 12kg.

Chiều 31-3, Công ty TNHH một thành viên Dầu khí TP.HCM (Saigon Petro)  thông báo từ ngày 1-4 giá bán gas Saigon Petro tăng 14.000 đồng/bình 12kg. Giá bán lẻ tối đa đến tay người tiêu dùng là 516.000 đồng bình 12kg và 1.942.140 đồng/45kg.

Sang tháng 5, 6,7, 8, 9, 10 giá gas đã hạ nhiệt. Theo đó, Công ty TNHH một thành viên Dầu khí TP.HCM (Saigon Petro) thông báo từ ngày 1-5 giá bán gas Saigon Petro giảm 29.000 đồng/bình 12kg. Giá bán lẻ tối đa đến tay người tiêu dùng là 487.000 đồng bình 12kg.Còn từ ngày 1-6, giá gas bán lẻ giảm 31.000 đồng với bình 12 kg và 124.100 đồng với bình công nghiệp 48 kg.Sang tháng 7, mỗi bình gas bán lẻ loại 12 kg tiếp tục giảm 7.000 đồng, xuống 449.000 đồng. Tháng 8, giá bán gas Saigon Petro giảm 18.500 đồng/bình 12kg; giá bán lẻ đến tay người tiêu dùng 430.500 đồng bình 12kg. Tháng 9, giá gas bán lẻ giảm thêm 583 đồng/kg.Tháng 10, mức giảm 1.500 đồng cho mỗi kg gas so với tháng trước và giá bán lẻ đến người tiêu dùng là 408.900 đồng/bình 12kg và 1.534.236 đồng/bình 45kg (đã bao gồm VAT).

Giá gas đã đảo chiều trong tháng 11 và tháng cuối cùng của năm 2022 với mức tăng mạnh gần 80.000 đồng/bình 45kg vào tháng 11.Cụ thể, giá bán gas SP tăng 1.667 đồng/kg (đã bao gồm thuế giá trị gia tăng), tương đương mức tăng 20.000 đồng/ bình 12kg.Và trong tháng 12, tăng 14.000 đồng/bình 12kg và tăng 52.515 đồng/bình 45kg so với tháng 11/2022. 

 

 

Ô TÔ

 

Ngành công nghiệp ô tô tăng trưởng 14,9% trong năm 2022

Kết thúc năm 2022, ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đã có nhiều bước đột phá mới cùng những dấu mốc quan trọng để thúc đẩy mức độ tăng trưởng của toàn ngành tăng 14,9% so với cùng kì năm ngoái.

Tổng cục Thống kê (GSO) mới đây công bố báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV/2022. Theo đó, tốc độ tăng trưởng các sản phẩm của ngành công nghiệp ô tô trong năm 2022 tăng 14,9% so với năm 2021. Đặc biệt, 2022 sắp khép lại với nhiều sự kiện đáng nhớ đối với ngành công nghiệp ô tô Việt Nam, trong đó nhiều dấu mốc đã đặt tiền đề, hứa hẹn thay đổi hoàn toàn diện mạo thị trường trong những năm tới.

Tháng 7 đã đánh dấu bước ngoặt nguồn cung linh kiện và xe phục vụ nhu cầu thị trường năm 2022 chuyển sang giai đoạn phục hồi tích cực.Trước đó, theo báo cáo của Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), thị trường tháng 6 bị bó hẹp doanh số thấp hơn tới 42% so với tháng 5 do các nhà sản xuất không thể đảm bảo chuỗi cung ứng do dịch Covid-19 và những bất ổn địa chính trị toàn cầu. Hệ quả là, nhiều mẫu xe phổ thông có thời gian chờ giao xe kéo dài gần cả năm, là điều chưa từng có từ trước tới nay tại Việt Nam.

Tuy nhiên, với những nỗ lực gia tăng sản phẩm mới và khơi thông dòng chảy linh kiện, sản lượng ô tô lắp ráp trong nước cũng như nhập khẩu đã tăng mạnh trong nửa sau năm 2022. Cộng dồn tới giữa tháng 12, tổng lượng xe các doanh nghiệp đưa về nước đã vượt toàn năm 2021.

Số liệu dự báo tới nay đều cho rằng, người tiêu dùng trong nước sẽ đạt khoảng 529.000 xe bán ra trong năm 2022. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, ngành “bốn bánh” Việt Nam đạt mốc doanh số ấn tượng này, mở ra nhiều cơ hội phát triển cho ngành công nghiệp ô tô. Bởi lẽ, nửa triệu xe chính là mốc mà nhiều hãng xe và tổ chức quốc tế chờ đợi, để tăng sự “ưu ái” cho thị trường Việt Nam thông qua hàng loạt điều chỉnh về chính sách, hoạt động…

 

Lượng ô tô nhập khẩu cũng ghi nhận sức tăng trưởng kỷ lục khi chưa hết năm 2022 đã có tới 163.333 chiếc được đưa về nước, vượt qua mức gần 160.000 xe trong cả năm 2021.

Những con số thực tế trên cho thấy thị trường ô tô Việt đã hồi sinh mạnh mẽ sau giai đoạn "ngủ đông" vì ảnh hưởng từ đại dịch Covid - 19. 

 

 

Sức “hồi sinh” mạnh mẽ của toàn thị trường ô tô Việt trong năm 2022 ngoài việc dịch Covid-19 được kiểm soát tốt còn là sự nỗ lực lớn từ phía hãng, đại lý với loạt chính sách kích cầu tiêu dùng hấp dẫn. Đặc biệt, không thể không kể đến ưu đãi 50% lệ phí trước bạ mà Chính phủ dành cho ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước.

 

Mặc dù ghi nhận sức tăng trưởng ấn tượng, song bức tranh thị trường vẫn còn đó những mảng màu xám cần phải lưu tâm nhằm hướng tới sự phát triển ổn định, vững mạnh. Trước hết, Việt Nam vẫn chưa thể chủ động được nguồn cung khi biên độ tăng trưởng doanh số xe nhập khẩu (đạt 160.512 chiếc trong 11 tháng của năm 2022, tăng 46% theo năm) đang lấn át xe sản xuất, lắp ráp trong nước (đạt 208.822 chiếc, tăng 41% theo năm).

Lượng xe nhập khẩu nguyên chiếc của một số ông lớn ngành xe trong năm 2022 cũng vượt hơn hẳn so với xe sản xuất, lắp ráp nội địa. Đơn cử như Toyota Việt Nam tiêu thụ 8.678 xe ở 11 tháng năm 2022, trong đó lượng xe nhập khẩu nguyên chiếc là 5.867 chiếc, xe lắp ráp trong nước chỉ đạt 2.811 chiếc. Các hãng như Ford, Mitsubishi hay Suzuki lượng xe nhập cũng chiếm tới 70 - 80 % sản lượng doanh số xe bán ra trong cùng thời điểm. 

 

 

Những con số trên cho thấy dung lượng thị trường ô tô nội địa là tương đối nhỏ, sẽ không có lợi cho sự phát triển lâu dài. Việt Nam sẽ trở thành thị trường để các quốc gia khác có nền công nghiệp ô tô phát triển hơn như Thái Lan, Indonesia khai thác. Thêm vào đó, việc không thể chủ động về nguồn cung khiến nhiều mẫu xe không đủ số lượng bàn giao tới khách, dẫn đến tình trạng đại lý ngang nhiên kênh giá, bán hàng theo kiểu “mua bia kèm lạc” giá cao. Và người tiêu dùng là đối tượng phải chịu thiệt thòi nhất khi muốn sở hữu một chiếc xe vốn khá phổ thông nhưng lại phải chịu giá cao cùng thời gian chờ đợi không hề ngắn.

 

Tiếp đến, sức tiêu thụ ô tô vẫn còn phụ thuộc khá nhiều vào nguồn vốn tín dụng. Do đó, khi các Ngân hàng “siết room” tín dụng, hạn chế cho vay, lãi suất tăng cao, doanh số toàn thị trường bắt đầu có dấu hiệu chững lại, chỉ tăng nhẹ trong tháng 10 và có dấu hiệu sụt giảm trong tháng 11/2022.

Mặc dù thị trường ô tô vẫn còn không ít khó khăn cũng như tồn đọng cần giải quyết, song trong “nguy” luôn có “cơ”. Và cơ hội của ngành xe Việt Nam trong năm tới là sức mua của người dân được dự đoán sẽ tiếp tục tăng cao. Việt Nam đang trong giai đoạn dân số vàng với sự tăng trưởng nhanh chóng của tầng lớp trung lưu, vốn là đối tượng khách hàng tiềm năng của dòng xe cá nhân được dự báo sẽ tăng trưởng nhanh từ nay đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035.

LÚA GẠO

Giá gạo tăng mạnh, xuất khẩu tiếp tục "sáng cửa" trong 2023

Với những biến động đầy khó khăn do dịch bệnh, khủng hoảng kinh tế thế giới, xuất khẩu gạo Việt Nam đã vượt khó thành công và xác lập kỷ lục mới. Theo Bộ NN&PTNT, dự kiến năm 2022, xuất khẩu gạo đạt 7 triệu tấn, trị giá gần 4 tỷ USD. Đây là kết quả đầy ấn tượng trong bối cảnh thị trường có nhiều biến động và gạo tiếp tục là mặt hàng tỷ đô của nông sản Việt Nam.

Theo số liệu từ Tổng cục Hải quan, tính đến ngày 15/12/2022, lượng gạo xuất khẩu của cả nước đạt trên 6,8 triệu tấn, mang về hơn 3,3 tỷ USD, tăng 15,2% về khối lượng và tăng 6,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2021. Với con số này, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn dự kiến cả năm 2022, lượng gạo xuất khẩu cán mốc trên 7 triệu tấn, doanh thu ước đạt 3,5 - 3,6 tỷ USD.

Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường tiếp tục tăng trong những ngày cuối tháng 11, 12/2022. Cụ thể, ngày 22/12, giá chào bán gạo xuất khẩu 5% tấm của Việt Nam ở mức 453 USD/tấn, tăng 10 USD/tấn so với đầu tháng 12; gạo 25% tấm có giá bán ở mức 438 USD/tấn, tăng 5 USD/tấn.

Phân tích về những thành công trong xuất khẩu lúa gạo năm 2022, ông Đỗ Hà Nam - Phó Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam cho rằng, ngành gạo Việt Nam trong những năm gần đây đang có sự chuyển dịch từ gạo ở phân khúc thấp sang gạo chất lượng cao. Xuất khẩu gạo sang các thị trường khó tính ghi nhận mức tăng trưởng mạnh như: Mỹ tăng khoảng 84,8%; thị trường EU tăng 82,2%... 

 

 

Điểm đáng chú ý nữa là giá gạo xuất khẩu Việt Nam duy trì ở mức cao trong năm 2022. Theo VFA, có thời điểm giá xuất khẩu gạo 5% tấm của Việt Nam vượt qua Thái Lan và đứng đầu thế giới. Đơn cử, trong tháng 11-2022, trong khi giá chào bán gạo 5% tấm của Thái Lan chỉ ở mức 440 USD/tấn, còn Việt Nam ghi nhận mức 447 USD/tấn. Với mức này, giá gạo Việt Nam nhỉnh hơn gạo Thái Lan cùng loại khoảng 7 USD/tấn. 

 

 

Theo đánh giá của Bộ NN&PTNT, xuất khẩu gạo cuối năm và đầu năm 2023 tiếp tục tăng trưởng. Nguyên nhân là do thời tiết khắc nghiệt ở nhiều quốc gia châu Á, nơi chiếm 90% sản lượng gạo toàn cầu, tình trạng biến đổi khí hậu, hạn hán gay gắt ở Mỹ, châu Âu và Trung Quốc - nước có nhu cầu tiêu thụ gạo lớn nhất thế giới, đang đặt nguồn cung gạo vào tình trạng thiếu hụt. Bên cạnh đó, việc Ấn Độ cấm xuất khẩu gạo 100% và đánh thuế gạo trắng 20% cùng tình hình khan hiếm lương thực trên thế giới thì đây là cơ hội cho ngành xuất khẩu gạo của Việt Nam trong thời gian tới.

 

Từ nền tảng của năm 2022, các nhà xuất khẩu gạo dự báo rằng, trong năm 2023 xuất khẩu gạo sẽ có nhiều cơ hội đột phá. Cụ thể, theo ông Đỗ Hà Nam, với việc đạt giá cao vào cuối vụ, đặc biệt là cuối năm 2022 sẽ giúp doanh nghiệp xuất khẩu gạo có lợi thế để đàm phán phiếu của năm 2023.

Ngoài có nền tảng là giá tốt thì ở nhiều thị trường như Philippines, Trung Quốc, Châu Âu hay Bangladesh… cũng đều có nhiều triển vọng. Trong đó, với thị trường Trung Quốc, gần đây nước này thông báo sẽ mở cửa trở lại cũng được cho là một tín hiệu tích cực cho những nhà xuất khẩu gạo. Những năm trước đây, Việt Nam xuất khẩu qua thị trường Trung Quốc từ 2,5- 3 triệu tấn lương thực. Tuy nhiên, những năm gần đây chỉ quanh quẩn ở mức 1 triệu tấn, thậm chí có những năm chúng ta chỉ còn có 500.000 tấn.

Hay với thị trường Philippines - quốc gia tiêu thụ gạo lớn nhất của Việt Nam, mới đây Chính phủ nước này quyết định duy trì thuế nhập khẩu gạo ở mức 35%. Việc duy trì chính sách giảm thuế nhập khẩu của Philippines sẽ là thông tin tốt cho xuất khẩu gạo Việt Nam vì sẽ đảm bảo cho tính ổn định của thị trường. Bên cạnh đó, dự báo của Liên đoàn Nông dân Tự do (FFF) Philippines cho biết quốc gia này có thể cần nhập khẩu ít nhất 3 triệu tấn gạo vào năm tới do tình trạng thiếu hụt đang diễn ra khi sản lượng gạo ở mức thấp hơn so với nhu cầu.

THỦY SẢN

Xuất khẩu ngành thuỷ sản bứt phá trong năm 2022

Năm 2022 là một năm bứt phá của ngành thủy sản khi xuất khẩu đạt kim ngạch cao nhất sau 20 năm gia nhập thị trường quốc tế.Đây là nỗ lực rất lớn của cả ngành hàng, đặc biệt, việc duy trì chuỗi sản xuất liên tục, đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm và tận dụng tốt cơ hội từ các thị trường.

Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), xuất khẩu (XK) thủy sản tháng cuối cùng của năm 2022 tuy giảm 13% so với cùng kỳ năm 2021 nhưng nhờ tăng trưởng liên tục trong 10 tháng đầu năm nên ngành thủy sản đã cán đích năm 2022 với kim ngạch XK 11 tỷ USD, tăng gần 24% so với năm 2021.

Trong đó, các mặt hàng XK chủ lực đều ghi nhận mức cao nhất từ trước đến nay, gồm: Tôm đạt trên 4,3 tỷ USD; cá tra hơn 2,4 tỷ USD; cá ngừ lần đầu gia nhập “câu lạc bộ” tỷ USD khi cán mốc 1 tỷ USD. Ngoài ra, các mặt hàng khác cũng tăng trưởng hai con số, như: Mực, bạch tuộc đạt 764 triệu USD (tăng 26%); các loại cá khác mang về 2 tỷ USD (tăng 22%)…

Về thị trường, Mỹ tiếp tục là thị trường số 1 của xuất khẩu thủy sản Việt Nam khi cán mốc hơn 2,1 tỷ USD năm 2022. Riêng trong tháng 12/2022, XK thủy sản sang Mỹ đã giảm mạnh 40%. 

 

 

Đáng chú ý, xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường Trung Quốc và Hongkong lần đầu tiên chạm mốc 1,8 tỷ USD (tăng 57% so với năm 2021). Năm 2022 cũng là năm đầu tiên Trung Quốc vượt qua Nhật Bản để trở thành thị trường nhập khẩu thủy sản lớn thứ 2 của Việt Nam. XK thủy sản sang Nhật Bản năm 2022 đạt 1,7 tỷ USD.

 

Các nước ASEAN cũng là điểm đến tiềm năng và thuận lợi cho các doanh nghiệp (DN) thủy sản. Năm 2022 xuất khẩu thủy sản sang ASEAN đạt 790 triệu USD. Lợi thế về vị trí địa lý và sự ổn định kinh tế của khu vực này là động lực để các DN đẩy mạnh xuất khẩu. Các thị trường như EU và Hàn Quốc cũng đều ghi nhận tăng trưởng hai con số…

Theo VASEP, những thuận lợi của năm 2022 như nhu cầu cao, giá xuất khẩu tăng, nguồn cung ổn định đã và sẽ không còn tiếp tục trong quý I/2023. Lạm phát ngấm sâu vào nền kinh tế các nước, khiến nhu cầu và đơn hàng giảm mạnh. Do vậy, dự báo xuất khẩu quý I/2023 sẽ sụt giảm đáng kể so với quý IV và cùng kỳ năm 2022.

Tuy nhiên, ngành thủy sản vẫn có những hy vọng lạc quan vào tín hiệu tốt từ một số thị trường có nền kinh tế ổn định hơn, ít bị ảnh hưởng bởi lạm phát hơn như ASEAN, Trung Đông và khối các nước CPTPP. Đặc biệt, việc Trung Quốc bỏ các quy định kiểm soát ngặt nghèo đối với hàng nhập khẩu như xét nghiệm, khử trùng và kiểm dịch, sẽ giải tỏa một ách tắc lớn, mở rộng cửa hơn cho XK sang thị trường đông dân nhất thế giới này. Đó sẽ là cơ hội và lợi thế cho các DN Việt Nam trong thời gian tới.

Theo Tổng cục Thủy sản, năm 2023 sản lượng thủy sản phấn đấu đạt khoảng 8,74 triệu tấn (khai thác 3,58 triệu tấn; nuôi trồng 5,16 triệu tấn). Riêng sản lượng cá tra đạt khoảng 1,62 triệu tấn, tôm nước lợ 960 nghìn tấn… Kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2023 đạt khoảng 10 tỷ USD.

HẠT TIÊU

Xuất khẩu hạt tiêu giảm về lượng nhưng tăng về trị giá so với năm 2021

Theo số liệu từ Cục Xuất nhập khẩu, xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam năm 2022 đạt 226 nghìn tấn, trị giá 963 triệu USD, giảm 13,3% về lượng, nhưng tăng 2,7% về trị giá so với năm 2021. 

Năm 2022, ngành hạt tiêu của Việt Nam đối mặt với nhiều khó khăn do lạm phát tăng cao, nhu cầu tiêu thụ giảm. Do đó, xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam sang nhiều thị trường chủ lực như Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc giảm. 

 

 

Theo ước tính, xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam năm 2022 đạt 226 nghìn tấn, trị giá 963 triệu USD, giảm 13,3% về lượng, nhưng tăng 2,7% về trị giá so với năm 2021. Giá xuất khẩu bình quân hạt tiêu của Việt Nam năm 2022 ước đạt 4.257 USD/tấn, tăng 18,5% so với năm 2021.

Xét về thị trường tiêu thụ, 11 tháng năm 2022, trị giá hạt tiêu xuất khẩu sang hầu hết các thị trường chủ lực tăng, ngoại trừ Đức, Trung Quốc. Tỷ trọng xuất khẩu hạt tiêu sang thị trường Hoa Kỳ tăng từ 24,10% trong 11 tháng năm 2021 lên 28,57% trong 11 tháng năm 2022.  

 

 

Ngược lại, tỷ trọng xuất khẩu hạt tiêu sang Trung Quốc giảm từ 10,08% trong 11 tháng năm 2021 xuống 4,54% trong 11 tháng năm 2022. 

 

Cũng trong 11 tháng năm 2022, trị giá xuất khẩu hầu hết các chủng loại hạt tiêu tăng so với cùng kỳ năm 2021, ngoại trừ hạt tiêu đen. Tỷ trọng xuất khẩu hạt tiêu đen giảm từ 71,38% tổng trị giá trong 11 tháng năm 2021 xuống 65,96% trong 11 tháng năm 2022. Ngược lại, tỷ trọng xuất khẩu hạt tiêu đen xay tăng từ 12,46% trong 11 tháng năm 2021 lên 15,59% trong 11 tháng năm 2022. 

 

 

Về giá cả nguyên liệu trong nước, hạt tiêu Việt Nam đã "xuống đáy" 34.000 đồng/kg vào tháng 3/2020, và từ nửa cuối năm 2020 giá tiêu đã tăng trở lại và đạt mức 89.000 đồng/kg vào đầu năm 2022.Từ tháng 3/2022 giá hồ tiêu lại liên tục giảm và thời điểm hiện tại đứng ở mức 60.000 đồng/kg.

 

Với mức giá trên nhiều nông dân sẽ tiếp tục bỏ vườn trong vụ tới, dẫn đến diện tích hồ tiêu có thể sụt giảm mạnh. Tuy nhiên đây cũng là cơ hội để ngành tiêu Việt Nam cơ cấu lại, tập trung phát triển các vườn tiêu theo hướng hữu cơ, cho năng suất cao.

Dự báo năm 2023, giá hạt tiêu thế giới tiếp tục chịu sức ép giảm do nhu cầu tiêu thụ vẫn ở mức thấp, nguồn cung dồi dào. Tuy nhiên, trong năm nay, với sự mở cửa của thị trường Trung Quốc sau dịch và sự phục hồi của thị trường hồ tiêu nói chung, xuất khẩu hồ tiêu Việt Nam kỳ vọng trở lại danh sách cây trồng tỷ đô.

Theo báo cáo mới nhất từ Cục Xuất Nhập khẩu (Bộ Công Thương), giá hạt tiêu thế giới vào cuối năm 2022 giảm do các nước châu Âu và Mỹ bước vào kỳ nghỉ Giáng sinh và năm mới 2023. Tại Brazil, ngày 23/12/2022, giá hạt tiêu đen xuất khẩu giảm 125 USD/tấn so với ngày 29/11/2022, xuống 2.500 USD/tấn.

Tại cảng khu vực Thành phố Hồ Chí Minh của Việt Nam, ngày 23/12/2022, giá hạt tiêu đen loại 500g/l và 550g/l xuất khẩu cùng giảm 100 USD/tấn so với ngày 29/11/2022, xuống mức 3.050 USD/ tấn và 3.150 USD/tấn.

Giá hạt tiêu trắng xuất khẩu tại cảng khu vực Thành phố Hồ Chí Minh giảm 50 USD/tấn so với ngày 29/11/2022, xuống mức 4.550 USD/tấn.

Cục Xuất nhập khẩu dự báo năm 2023, xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam sẽ tiếp tục đối mặt với khó khăn trong bối cảnh giá thế giới chịu áp lực do nhu cầu tiêu thụ thấp. Nhu cầu hạt tiêu sẽ giảm mạnh vào quý I/2023 với mùa Đông rất khó khăn ở khu vực EU, do cuộc khủng hoảng năng lượng. 

Đây cũng là thời điểm trùng với hàng vụ mới của Việt Nam được đưa ra thị trường. Do đó, ngành hạt tiêu Việt Nam cần tăng khả năng hợp chuẩn theo các tiêu chuẩn quốc tế, đặc biệt là về các khía cạnh như dư lượng hóa chất, các tiêu chí sản xuất bền vững về kinh tế, xã hội, môi trường. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh chế biến sâu, tạo ra những sản phẩm mới giúp tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới. 

 

 

CÀ PHÊ 

Xuất khẩu cà phê của Việt Nam năm 2022 đạt 1,72 triệu tấn, trị giá 3,94 tỷ USD 

Những ngày cuối năm 2022 và đầu năm 2023, giá cà phê tại các tỉnh khu vực Tây Nguyên đi ngang và được thu mua với giá từ 38.500 đến dưới 40.000 đồng/kg.

Theo Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam (VICOFA), niên vụ cà phê 2021-2022 đã kết thúc, nước ta xuất khẩu tổng khối lượng hơn 1,68 triệu tấn cà phê các loại, trị giá trên 3,9 tỷ USD. Đây là niên vụ cà phê đạt giá trị kim ngạch cao nhất từ trước đến nay.

Trong niên vụ 2021-2022, doanh nghiệp FDI xuất khẩu cà phê nhân sống chiếm thị phần 33,2% trong tổng khối lượng xuất khẩu cà phê nhân và chiếm 31,7% về giá trị kim ngạch. Còn lại là xuất khẩu bởi các doanh nghiệp trong nước.

Về thị trường xuất khẩu Đức là thị trường số 1 với 216.000 tấn, Ý đứng thứ 2 với gần 139.000 tấn, Hoa kỳ thứ 3 với trên 126.000 tấn, Bỉ thứ đứng thứ 4 với 120.000 tấn, Nhật Bản thứ 5 với 111.300  tấn.

Về chủng loại sản phẩm, xuất khẩu cà phê của Việt Nam chủ yếu vẫn là cà phê nhân. Mặc dù tỷ trọng cà phê chế biến sâu vẫn rất thấp, nhưng đã tăng so với các năm trước, khẳng định vị thế cà phê Việt Nam.

Xuất khẩu cà phê rang xay, hòa tan trên 92.000 tấn (chưa quy đổi ra cà phê nhân), với kim ngạch 598,2 triệu USD, chiếm 5,5% về lượng và chiếm 15,3% kim ngạch/ tổng các loại cà phê xuất khẩu trong niên vụ 2021-2022. Trong đó, doanh nghiệp FDI chiếm thị phần 59,9% trong tổng khối lượng xuất khẩu cà phê rang xay hòa tan và chiếm khoảng 66% về kim ngạch.

Theo VICOFA, niên vụ cà phê 2022-2023 đã bước vào mùa thu hoạch, tức là bắt đầu một năm kinh doanh mới giữa những biến động phức tạp trên thị trường toàn cầu. Chính phủ Trung Quốc vẫn áp dụng chính sách “zero Covid”, lạm phát cao tại các thị trường xuất khẩu cà phê trọng điểm, logictics chưa thật sự ổn định đang gây khó khăn cho ngành cà phê.

Theo Tổ chức Cà phê thế giới (ICO), nguồn cung cà phê niên vụ 2021 – 2022 thiếu hụt khoảng 167,2 triệu bao trong khi nhu cầu tiêu thụ đến 170,83 triệu bao. Niên vụ cà phê 2022 - 2023, cung cầu của thị trường sẽ cần bằng lại, thậm chí cung sẽ cao hơn cầu vì tại Brazil, nước xuất khẩu cà phê số 1 thế giới có một vụ mùa bội thu, và vụ cà phê mới của Việt Nam sẽ đạt trên dưới 30 triệu bao, tăng thêm trên 3 triệu bao so với niên vụ trước đó.

Dẫn số liệu Tổng cục Hải quan cho biết, ước tính, xuất khẩu cà phê của Việt Nam năm 2022 vừa qua đạt 1,72 triệu tấn, trị giá 3,94 tỷ USD, tăng 10,1% về lượng và tăng 28,3% về trị giá so với năm 2021. Giá xuất khẩu bình quân cà phê năm 2022 ở mức 2.293 USD/tấn, tăng 16,6% so với năm 2021.

Năm 2022 thị trường cà phê toàn cầu đối mặt với nhiều khó khăn khi lạm phát toàn cầu tăng phi mã, người tiêu dùng có xu hướng “thắt lưng buộc bụng” khiến nhu cầu tiêu thụ cà phê giảm.Mặc dù vậy, ngành cà phê Việt Nam vẫn đạt được kết quả đáng ghi nhận khi xuất khẩu tăng trưởng ở mức 2 con số so với năm 2021.Dù đạt con số xuất khẩu trên 3 tỷ USD, tuy nhiên, nhiệm vụ đặt ra cho những năm tới đây đối với ngành cà phê đó là cần giảm bán hàng theo "bao" tăng bán hàng theo "gói", và hướng đến phát triển bền vững ngành cà phê.

Dự báo năm 2023, ngành cà phê Việt Nam sẽ vẫn được hưởng lợi nhờ nhu cầu thế giới có khả năng phục hồi và nguồn cung trong nước được đảm bảo cả về sản lượng và chất lượng, đáp ứng yêu cầu xuất khẩu

HẠT ĐIỀU

Xuất khẩu hạt điều tiếp tục khó khăn trong năm 2023

Theo báo cáo của Hiệp hội Điều Việt Nam (VINACAS), năm 2022 có thể nói đã chấm dứt giai đoạn tăng trưởng về xuất khẩu kéo dài 10 năm của ngành điều, từ năm 2011 - 2021. Cả năm 2022, Việt Nam chỉ xuất khẩu nhân điều đạt giá trị 3,07 tỉ USD, chưa đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu 3,2 tỉ USD dù đã điều chỉnh giảm khoảng 600 triệu USD so với mục tiêu ban đầu là 3,8 tỉ USD. Các thị trường nhập khẩu hạt điều chính vẫn là: Mỹ, EU, Trung Quốc... Về các sản phẩm điều nhân chế biến sâu, lượng tiêu thụ trong nước và xuất khẩu vẫn được duy trì so với năm 2021, chiếm khoảng 5% tổng sản lượng điều nhân được chế biến của toàn ngành. Xu hướng giảm chi tiêu cho thực phẩm không thiết yếu như hạt điều do ảnh hưởng của tình hình lạm phát, suy thoái kinh tế dự báo còn kéo dài sang năm 2023, tiêu thụ sẽ chậm và giá cả khó tăng trong thời điểm này, tình hình xuất khẩu điều nhân giai đoạn 2022 - 2023 xem ra càng khó khăn hơn giai đoạn 2019 - 2021.

Theo dự báo của Hội đồng thông tin VINACAS, tính đến tháng cuối của năm 2022 và năm 2023, hoạt động sản xuất cũng như chuỗi cung ứng điều toàn cầu và ở Việt Nam tiếp tục còn gặp rất nhiều khó khăn và thách thức lớn từ tình hình kinh tế - chính trị quốc tế; vấn đề lạm phát, suy thoái; chính sách thắt chặt tín dụng của Ngân hàng Nhà nước, biến động tỷ giá USD/ VND; tiêu dùng giảm sút, chi phí chế biến ngày càng tăng, sản xuất đình trệ...

Như vậy, tình hình xuất khẩu năm 2023 sẽ tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Sau khi bàn bạc và cân nhắc, Ban chấp hành VINACAS đề nghị điều chỉnh mức chỉ tiêu doanh số xuất khẩu điều nhân năm 2023 ở mức khiêm tốn khoảng 3,1 tỉ USD, tăng nhẹ 30 triệu USD so với năm 2022.

(TTGCVT tổng hợp) 

 

 

 
Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (024) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (024) 39762593 
Email:ttgcvattu1989@gmail.com