Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Tổng quan thị trường hàng hóa thế giới năm 2016 và dự báo năm 2017
Cập nhật: 16-1-2017

Năm 2016, các kênh hàng hóa đã ghi nhận năm leo dốc mạnh nhất kể từ năm 2010, khi các ngành công nghiệp tăng trưởng mạnh mẽ. Các hàng hóa bắt đầu phục hồi và rút ra khỏi thị trường con gấu kéo dài 5 năm. Quặng sắt, kẽm và khí thiên nhiên là những hàng hóa có thành quả tốt nhất trong năm nay, dù đây là những hàng hóa sụt giảm mạnh nhất trong năm 2015.

Quặng sắt dẫn đầu đà tăng của các hàng hóa trong năm 2016. Giá quặng sắt đã tăng gấp đôi trong năm 2016 sau khi lao dốc gần 46% trong cùng kỳ 2015, giá đồng đã vọt 22% trong năm 2016, sau khi sụt giảm 24% trong năm liền trước. Bên cạnh đó, giá paladi tiến hơn 29% trong năm nay, qua đó gần như xóa sạch đà lao dốc trong năm 2015.

Dầu Brent nhảy vọt 46%, cao hơn so với mức leo dốc gần 38% của dầu thô ngọt nhẹ WTI.

Giá vàng cũng khép lại năm 2016 với mức tăng 8%, qua đó xóa sạch phần lớn đà sụt giảm 10,5% trong năm 2015. Trong khi đó, giá bạc tăng hơn 22% trong năm 2016, sau khi mất gần 12% trong năm trước.

Chỉ số Hàng hóa của Bloomberg cũng ghi nhận năm leo dốc đầu tiên về phương diện phần trăm trong 6 năm vừa qua, trái ngược hoàn toàn so với thời điểm cuối năm 2015 khi chỉ số này ghi nhận năm có kết quả tồi tệ nhất về phương diện phần trăm kể từ năm 2008. Tính tới giữa tháng 12/2016, chỉ số Hàng hóa của Bloomberg vọt 11,5% trong năm 2016, sau khi sụt giảm gần 25% trong năm trước.

Vàng

Giá tăng khoảng 8% trong năm 2016


Diễn biến giá vàng thế giới năm 2016 (nguồn: kitco)

Vàng đã ghi nhận năm tăng giá đầu tiên kể từ năm 2012, dù chỉ là tiến nhẹ. Cụ thể, kim loại quý đã leo dốc 8% trong năm 2016, qua đó xóa bớt một phần đà sụt giảm 11% trong năm 2015. Khởi đầu năm 2016 bằng mức giá 1.060 USD/oz, đến cuối năm, kim loại quý tăng thêm 70 USD và mức giá hiện tại là quanh 1.130 USD/oz. Trong năm, mức giá cao nhất đạt được là 1.367,20 USD (ngày 6/7) và mức giá thấp nhất chính là mức giá “chào năm 2016”.

Vàng đã có một khởi đầu năm 2016 tuyệt vời khi các mối lo ngại về tốc độ tăng trưởng toàn cầu, sự bất ổn xoay quanh chiến dịch Brexit cũng như cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ, và sự sụt giảm về kỳ vọng nâng lãi suất tại Mỹ đã giúp kim loại quý trở thành hàng hóa có thành quả tốt nhất trong tất cả các loại tài sản.

Tuy nhiên, vàng đã chạm đỉnh sau chiến dịch Brexit, rồi lại trồi sụt trong suốt quý 3/2016 khi sự bất ổn về cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ được bù đắp bởi kỳ vọng nâng lãi suất. Sau cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ, giá vàng đã trượt dốc nặng nề khi niềm tin của nhà đầu tư về tốc độ tăng trưởng toàn cầu cùng với kỳ vọng nâng lãi suất cao hơn đã tác động tiêu cực đến kim loại quý.

Trước năm này, vàng đã có 4 năm giảm liên tiếp. Sau khi lên đỉnh cao nhất mọi thời đại vào tháng 8/2011 tại 1.920 USD/ounce, giá vàng đã đi xuống liên tục, năm này qua năm khác. Thậm chí cuối năm 2015 giá vàng còn có lúc về gần 1.000 USD/ounce.

Một số cột mốc quan trọng của vàng trong năm 2016:

1. Tăng 300 USD trong 6 tuần đầu tiên của năm

Thị trường vàng bước chân vào năm 2016 tại mốc giá $1.060 sau khi Cục Dự trữ Liên bang ngày 16/12/2015 đưa ra quyết định nâng lãi suất lần đầu tiên sau 9 năm án binh bất động. Điều bất ngờ xảy ra, thậm chí có thể gọi là trái ngang, khi kim loại quý nhanh chóng lấy thêm 300 USD chỉ trong vòng 6 tuần đầu tiên của năm tới. Cụ thể, thị trường di chuyển từ ngưỡng $1.060 lên ngưỡng $1.240. Rõ ràng động thái của FED chẳng khiến cho giới đầu tư vàng sợ hãi. Họ cho rằng dù lãi suất tăng thì con số đó vẫn khá thấp, đặc biệt là trong bối cảnh tỷ lệ lãi suất tại nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới vẫn đứng ở vùng âm.

Đáng chú ý là phiên giao dịch ngày 11 tháng 2 - một ngày cực kỳ u ám trên thị trường thế giới: giá dầu giảm xuống $26/thùng, thị trường chứng khoán Mỹ mất 11% trong vòng 10 ngày và vàng tăng tới 17%. Diễn biến xấu này cũng là một lý do khiến FED phải cân nhắc lại lời hứa điều chỉnh lãi suất 3 lần trong năm nay đã phát đi trước đó. Và rõ ràng trong năm 2016 họ chỉ tăng lãi suất thêm một lần nữa trong ngày 14/12.

2. Bùng nổ khi Anh quyết định rời Liên minh Châu Âu

Thị trường vàng di chuyển bằng phẳng trong hầu hết giai đoạn từ tháng Ba tới tháng Sáu để lấy hơi bứt tốc vào tháng Bảy.

Đón nhận kết quả trưng cầu dân ý “Brexit” ngày 23/6, vàng chính thức thiết lập đà đi lên dữ dội hướng về ngưỡng $1.262. Thị trường chạm con số $1.366 vào ngày 06/7- mức giá cao nhất trong năm nay. Cũng vào thời điểm đó, lãi suất trái phiếu kho bạc 10 năm rơi xuống mức đáy mọi thời đại tại 1,357% vào ngày 5/7. Đồng thời, lãi suất chính phủ vẫn đứng dưới mức 0 tại Nhật Bản và hầu khắp các quốc gia châu Âu, tạo điều kiện cho vàng tỏa sáng.

Thời gian này, thị trường châu Âu liên tục lao dốc ngay khi mở cửa, nhiều ngân hàng mất tới 1/3 vốn hóa chỉ trong nửa giờ. Hàng loạt ngân hàng trung ương tại Anh, châu Âu và Mỹ sau đó đã phải lên tiếng trấn an thị trường và cam kết bơm tiền hỗ trợ các nhà băng để đối phó với biến động. Thế nhưng, hàng loạt nhà đầu tư vẫn ồ ạt rút tiền khỏi các tài sản rủi ro để đổ vào công cụ trú ẩn, trong đó có vàng.

3. Giảm 8% trong tháng 11 sau khi Donald Trump đắc cử Tổng thống

Vàng trụ vững trên ngưỡng $1.300 trong suốt tháng 10 với mối quan tâm lớn nhất là kết quả bầu cử Tổng thống Mỹ. Cụ thể, vào ngày 4/11- ngày thứ Sáu trước khi bầu cử, kim loại quý vẫn hồ hởi đứng trên vùng giá này với dự đoán rằng bà Hillary Clinton sẽ chiến thắng và thị trường sẽ chẳng có nhiều biến động lớn.

Chính vì thế, vào thời điểm cái tên Donald Trump được xướng lên, toàn bộ tài chính thế giới được một phen chao đảo. Đầu tiên, giá vàng bứt tốc lên sát $1.337,40/ounce với suy nghĩ rằng các chính sách mới của tân Tổng thống Mỹ sẽ kéo theo nhiều bất ổn cho nền kinh tế quốc gia. Vậy mà thật bất ngờ, cú sốc tưởng chừng vô tận này lại chỉ kéo dài trong vòng vài giờ đồng hồ, kim loại quý nhanh chóng “đổ đèo” đi xuống, trượt về dưới $1.280/ounce do đồng USD quay đầu tăng cao và các chỉ số chứng khoán Mỹ lên điểm.

Cũng từ thời điểm này, các quỹ ETF nhanh chóng từ bỏ kim loại vàng. Cuối tháng 12, Commerzbank báo cáo rằng họ đã cắt giảm lượng nắm giữ vàng tại đây suốt 26 ngày liên tiếp. Hiện lượng nắm giữ vàng tại các quỹ ETF đang ở mức thấp nhất kể từ trước sự kiện Brexit .

4. Đồng dollar vẫn là đối thủ truyền kiếp

Tính riêng trong tháng 11/2016, giá vàng đã giảm hơn 8%, giá vàng thậm chí còn chạm mức đáy của 10 tháng vào giữa tháng 12/2016 do xu hướng lên giá của đồng USD và lợi suất trái phiếu sau khi ông Trump chiến thắng trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ. Đà tăng giá của đồng tiền này kéo dài sau khi các tín hiệu sáng gần đây từ kinh tế Mỹ đã khiến FED quyết định nâng lãi suất lần đầu tiên trong một năm qua. FED cũng phát tín hiệu có thể sẽ tiếp tục nâng lãi suất trong năm 2017. Fed nâng lãi suất sẽ làm giảm sức hút của tài sản kém sinh lời như vàng và hỗ trợ đồng USD mạnh lên.,

Đặc biệt, trong phiên 20/12, chỉ số US Index đo lường sức mạnh của vàng so với các đối thủ khác đã có lúc chạm vùng 103,65 - cao nhất kể từ tháng 12/2002. Cho tới thời điểm hiện tại, chỉ số này vẫn lình xình quanh ngưỡng 102,9 và chưa có dấu hiệu thoái lui. Vàng thật khó tìm được cơ hội hồi phục khi nỗi ám ảnh mang tên USD chưa thể mờ đi.

Kết thúc quý cuối cùng của năm 2016, vàng có quý giao dịch tồi tệ nhất lần thứ 2 kể từ quý II/2014 tới nay mà áp lực lớn nhất chính là đồng bạc xanh. Trước đó, vàng đã để mất 12% trong quý cuối cùng của năm 1997.

Giá vàng thế giới được dự báo sẽ tiếp tục biến động mạnh trong năm 2017, trong bối cảnh thị trường tài chính thế giới ngày càng bất định.

Hiện, có nhiều kỳ vọng việc thay đổi chính sách của Mỹ sẽ thúc đẩy phát triển kinh tế. Tuy nhiên, cũng nhiều vấn đề không chắc chắn liên quan đến chính quyền mới của Mỹ.

Các nhà phân tích cho rằng ngay cả khi Fed tăng lãi suất, giá vàng cũng có cơ hội tăng lên. Lịch sử cho thấy giá vàng vẫn tăng hơn 50% trong giai đoạn Fed tăng lãi suất vào năm 2004 - 2006.

Đồng

Tăng trưởng 20% trong năm 2016


Đồng cũng là một trong những hàng hóa có thành quả tồi tệ nhất trong năm 2015 nhưng đã trở lại mạnh mẽ trong năm 2016, với mức tăng trưởng 20%.

Đầu tư vào lĩnh vực khai thác mỏ và luyện kim tại Trung Quốc đang cho thấy dấu hiệu hụt hơi, qua đó cho thấy sự thận trọng của các nhà đầu tư.

Goldman Sachs cho rằng, nếu nhu cầu không đột biến khi tăng trưởng sản lượng chững lại, giá hàng hóa sẽ vẫn duy trì ở mức cao.

Christopher Ecclestone, Chiến lược gia khai khoáng tại Hallgarten & Co., dự báo giá đồng sẽ dao động quanh mức 3.10 USD/lb trong năm 2017.

Kẽm

Giá kẽm đã nhảy vọt 72% trong năm 2016.


Trong số các kim loại cơ bản, kẽm lên mức giá cao nhất trong năm do dự báo thị trường sẽ thiếu hụt nguồn cung. Trong quý II, kẽm tăng giá hơn 15%, mạnh nhất kể từ quý III/2010, còn trong 6 tháng đầu năm kẽm tăng giá hơn 30%, lên mức cao kỷ lục 12 tháng bởi đã tới thời điểm các mỏ phải cắt giảm khai thác vì mục tiêu giảm ô nhiễm môi trường.

Vốn được sử dụng để phủ bề ngoài của thép và sắt nhằm chống gỉ sét, giá kẽm đã tăng cao nhờ tình trạng đầu tư dưới mức kéo dài, quyết định của Glencore, cùng với việc đóng cửa vĩnh viễn hoạt động khai khoáng của các công ty khác.

Chris Gaffney, Chủ tịch của các thị trường thế giới tại EverBank, cho hay cũng như đa số các kim loại công nghiệp khác, tương lai của kẽm gắn chặt với tình hình kinh tế của Trung Quốc, vốn là nhà sản xuất, tiêu dùng và tinh chế kẽm lớn nhất thế giới.

Thị trường nhận thấy các mối lo ngại về tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc trong 6 tháng đầu năm 2016, qua đó khiến nhu cầu kim loại sụt giảm đáng kể. Tuy nhiên, bước qua 6 tháng cuối năm, thị trường kim loại lại tăng cao nhờ kỳ vọng về chính sách gia tăng chi tiêu cũng như dự báo thâm hụt nguồn cung.

Dự báo các dự án cơ sở hạ tầng ở Mỹ, Trung Quốc và Ấn Độ sẽ tiếp tục gia tăng nhu cầu kẽm và hoạt động sản xuất sẽ dần khôi phục trở lại.

Quặng sắt

Giá quặng sắt đã tăng liên tục trong năm 2016


Quặng sắt là một trong các hàng hóa trỗi dậy mạnh mẽ sau đà trượt dốc nặng nề hồi năm 2015, với mức tăng 81% trong năm 2016.

Sau khi chạm đáy tại vùng giá 40 USD/tấn vào cuối năm 2015, giá quặng hồi phục mạnh mẽ trong 6 tháng đầu năm 2016 nhờ hoạt động đầu cơ tích trữ, các phiếu giao dịch quặng sắt tăng đột biến với khối lượng giao dịch lên tới 500 triệu tấn/ngày kéo dài suốt từ tháng 2 đến tháng 4, đẩy mức giá của quặng sắt từ 44 USD/tấn lên tới hơn 66 USD/tấn. Sau đó, hoạt động đầu cơ và trữ kho kết thúc, giá quặng sắt giảm khá mạnh trở lại về vùng 50-55 USD/tấn trong quý 3/2016, phản ánh đúng thực trạng dư cung của thị trường.

Sang quý 4/2016, giá quặng sắt thế giới tiếp tục tăng mạnh sau khi đi ngang trong vài tuần ở vùng giá 50-55 USD/tấn trước thông tin Vale (nhà sản xuất quặng sắt lớn nhất thế giới - Brazil) hạ dự báo đối với tổng sản lượng khai thác năm 2017 của họ so với con số công bố gần nhất, từ 380 triệu - 400 triệu tấn còn 360 triệu - 380 triệu tấn (tương đương mức giảm 5% ytd). Theo đó, giá quặng sắt bật tăng mạnh đạt tới 80 USD/tấn. Đồng thời, bước vào thời kì cuối năm, các doanh nghiệp Trung Quốc bắt đầu bước vào thời gian tích trữ nguyên liệu cho quý đầu năm 2017, dẫn tới sản lượng tồn kho tại các cảng tăng mạnh, gần tới mức đỉnh cũ thời kì 2014-2015, đạt 110 triệu tấn.

Sự phục hồi của giá quặng sắt trong nửa đầu năm được cho là đến từ hoạt động đầu cơ trên sàn giao dịch hàng hóa tại Trung Quốc khi nhà đầu tư mua vào để đóng trạng thái bán khống trước đó và các doanh nghiệp thép bước vào chu kỳ nhập nguyên liệu để sản xuất khiến nhu cầu tăng trở lại.

Thị trường quặng sắt dần phân hóa, tập trung về các nhà sản xuất lớn. Trung Quốc có trữ lượng mỏ quặng sắt lớn lên tới 7 tỷ tấn (đã điều chỉnh cho hàm lượng quặng), tuy nhiên chất lượng quặng khá kém, không phù hợp để luyện gang, khiến cho chi phí xử lý khá cao so với các đối thủ khác. Ở chiều ngược lại, những nhà sản xuất lớn nhất thế giới bao gồm Rio Tinto, BHP Billiton (Úc) và Vale (Brazil) với lợi thế chi phí sản xuất thấp, mỏ quặng chất lượng cao hơn so với các nhà sản xuất Trung Quốc tạo ra lợi thế cạnh tranh lớn trong thời kỳ giá quặng giảm sâu như hiện nay, chiếm lĩnh thị phần xuất khẩu lớn trên thế giới.

Triển vọng thị trường năm 2017, nhu cầu quặng sắt trên thế giới vẫn duy trì ở mức thấp. Hiện nay, mức trung bình hiệu suất sản xuất thép chỉ đạt khoảng 67% (theo WSA). Bên cạnh đó, nhu cầu từ Trung Quốc, nhà nhập khẩu quặng sắt lớn nhất thế giới, đang có xu hướng giảm.

Nguồn cung quặng sắt được dự báo tiếp tục dồi dào trong năm 2017, vói sự đóng góp sản lượng từ Úc và Brazil. Theo báo cáo từ Citigroup, sản lượng đóng góp từ 2 nhà sản xuất lớn nhất là Úc và Brazil sẽ tăng thêm 208 triệu tấn trong 4 năm tới, nâng mức dư cung từ 20 triệu tấn trong năm nay lên tới hơn 58 triệu tấn trong năm tới.

Xu hướng giá quặng sắt thế sớm giảm trở lại bởi nguồn cung dồi dào, nhu cầu từ Trung Quốc sụt giảm, trong khi đó nguồn cầu từ Ấn Độ vẫn chưa đủ để bù đắp cho sự sụt giảm đó, khả năng Úc và Brazil bắt tay cắt giảm sản lượng để hỗ trợ giá quặng là không lớn trong năm tới.

Dự báo, giá quặng sắt trung bình trong năm 2017 sẽ đạt khoảng 52 USD/tấn, giảm từ khoảng 80 USD/tấn mức hiện tại.

Thép

Kỳ vọng các chính sách kích thích kinh tế từ Trung Quốc đã hỗ trợ giá thép tăng trong năm qua


Trong 2 tháng đầu năm 2016, về cơ bản giá thép tương đối ổn định trên thị trường thế giới.

Tuy nhiên, bắt đầu từ cuối tháng 2, giá một số mặt hàng thép có sự dao động mạnh trên một số thị trường và sự tăng giá này không đồng nhất ở một mặt hàng giống nhau. Tại Mỹ, thép thanh vằn nhập khẩu có giá ổn định ở mức 310 - 330 USD/t (CIF); thép cuộn cán nóng nhập khẩu giữ mức 320 - 350 USD/t (CIF); thép tấm mạ kẽm nóng ổn định ở 610 - 630 USD/t (CIF). Trong khi đó, thép dẹt, thép dài nhập khẩu lại có xu hướng tăng giá trong nội địa. Sang tháng 3, lợi thế tăng giá nghiêng về thép tấm mỏng trong bối cảnh niềm tin thị trường cho thấy giá thép tấm mỏng tiếp tục xu hướng tăng, các nhà máy sản xuất thép của Mỹ đang cố gắng tận dụng cơ hội này. Vì vậy, trung tuần tháng 3, các nhà máy thép tại Mỹ đã đua nhau tăng báo giá lên cao hơn. Tại châu Âu, trong những ngày đầu năm, thị trường thép cuộn cán nóng EU duy trì ổn định, giá tại Bắc Âu không đổi ở mức 315-325 Euro/t. Thị trường thép dây và thép thanh vằn châu Âu cũng chưa nhiều giao dịch so với trước kia. Tại châu Á, giá thép thanh cốt thép và thép cuộn Trung Quốc duy trì vững trong thời gian qua. Cuối tháng 3, thị trường đã được chứng kiến thanh cốt thép, một sản phẩm thép xây dựng tại Sở giao dịch kỳ hạn Thượng Hải tăng 2.147 NDT (tương đương 332 USD)/tấn, mức cao nhất kể từ ngày 3/7/2015. Giá thanh cốt thép tăng 3,8%, lên 2.125 NDT/tấn. Giá thép đã tăng do nhà đầu cơ đổ tiền vào mặt hàng này cũng như những kỳ vọng rằng các chính sách kích thích kinh tế của chính quyền Bắc Kinh sẽ thúc đẩy nền kinh tế Trung Quốc hồi phục đà tăng trưởng trở lại.

Bước sang quý 2, sau khi đạt đỉnh vào tháng 4/2016 thì giá thép đã quay đầu đi xuống trong tháng 5 và tăng mạnh trở lại, đạt đỉnh cao nhất vào cuối tháng 6.  Quý 2 đã đánh dấu thời điểm sản lượng thép Trung Quốc đảo ngược xu hướng giảm kéo dài suốt 14 tháng trước đó. Các nhà máy Trung Quốc khôi phục sản xuất. Highsee Steel đi đầu trong trào lưu mở cửa sản xuất trở lại sau khi giá thép tăng 20% chỉ trong một thời gian ngắn. Sản lượng thép trong quý 2 năm nay tăng 9,7% so với quý trước và tăng 4,4% so với cùng kỳ năm ngoái.

Sau khi tăng liên tiếp trong hai quý đầu năm, giá thép đã giảm trong quý 3. Nguyên nhân khiến giá giảm là do nguồn cung tiếp tục dư thừa, nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm thép cán đã chậm lại, nhiều khách hàng đã có đủ dự trữ để tiêu thụ trong suốt mùa hè.

Nhiều đợt chào bán hàng nhập khẩu từ nước thứ ba rất hấp dẫn, đặc biệt từ Nam Âu, cộng với nguồn hàng được cải thiện từ các nhà máy trong nước trong mùa thu, khiến người mua dự kiến giá có thể giảm vào cuối năm nay.Tuy nhiên, giá sẽ được hỗ trợ nhờ các biện pháp phòng vệ thương mại hiện có và mới.

Giá thép tại Châu Á có chiều hướng tăng lên trong quý 4/2016 do nhu cầu tăng cao.  Platts định giá thép cây BS500 đường kính 16-20mm giao ngay tại Châu Á ở mức 350-352 USD/tấn, FOB vào đầu tháng 10/2016, tăng 50 USD/tấn so với đầu tháng 6/2016.

Các nhà máy Trung Quốc tăng cường tập trung vào thị trường nội địa, trong khi cũng duy trì khối lượng xuất khẩu mặc dù chào giá tương đối đắt. Nhu cầu trong nước mạnh hơn đẩy giá phôi thép và thép cây trong nước và xuất khẩu tăng cao. Giá phôi thép đạt đỉnh 350 USD/tấn FOB Trung Quốc trong tháng 8. Nhiều nhà máy thép lớn của Trung Quốc như Benxi Steel, Shagang, Angang..đã thông báo nâng giá thép trong những tháng cuối năm.

Trong năm 2016, ngành thép Trung Quốc đối mặt với nhiều khó khăn lớn trong xuất khẩu do số vụ kiện thương mại gia tăng. Trong nửa đầu năm, các sản phẩm thép xuất xứ Trung Quốc bị 17 nước nhắm tới với không dưới 65 vụ kiện thương mại, so với chỉ có 46 vụ cho cả năm 2015.

Dầu thô

Năm 2016, giá dầu tăng mạnh nhất kể từ năm 2009


Năm 2016, nhiều biến động về cả chính trị, kinh tế và kỹ thuật đã cho thấy dầu mỏ vẫn tiếp tục là chiến trường giữa các quốc gia nhằm gây sức ép và thử thách sức chịu đựng lẫn nhau… Đặc biệt cần nhấn mạnh, chưa bao giờ giá dầu lại chịu cộng hưởng từ những yếu tố không chắc chắn của tương lai như hiện nay.

Trong năm, đã có lúc giá dầu rớt xuống dưới 28 USD/thùng hồi đầu tháng 2 - đây là mức thấp nhất trong hơn 1 thập kỷ nhưng tính cả năm, giá dầu ghi nhận mức tăng mạnh nhất tính từ khủng hoảng tài chính toàn cầu, dầu Brent nhảy vọt gần 45% và dầu WTI leo dốc gần 38%. Đây là những con số khá ấn tượng, nhưng vẫn chưa ấn tượng bằng đà bứt phá hơn 52% của các hợp đồng khí thiên nhiên tương lai. Mức tăng của giá dầu như vậy mạnh nhất từ năm 2009 - năm của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Chốt phiên giao dịch cuối cùng của năm 2016, thị trường New York, giá dầu thô ngọt nhẹ WTI giao tháng 2/2017 giảm 5 cent tương đương 0,1% xuống 53,72 USD/thùng; Giá dầu Brent kỳ hạn tháng 2/2017 trên thị trường London giảm 3 cent tương đương 0,1% xuống 56,82 USD/thùng.

Sự kiện nước Anh sẽ rời Liên hiệp châu Âu (Brexit) trong tháng 8 và khủng bố ở Thổ Nhĩ Kỳ trong tháng 7 đã khiến giá dầu giảm xuống ngưỡng 40 USD/thùng.

Chiến thắng đầy kịch tính của ông Donald Trump trong cuộc bầu cử Tổng thống tại Mỹ ngày 9-11 cũng khiến thị trường chao đảo.

Những động thái của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) đã tác động mạnh đến giá dầu. Sau khi các nước sản xuất khẩu dầu mỏ quyết định cắt giảm sản lượng, giá dầu mỏ trên thị trường thế giới luôn trên đà tăng, tăng khoảng 23% kể từ giữa tháng 11/2016 đến cuối năm thậm chí còn tăng lên mức cao nhất kể từ tháng 2/2015.

Suốt năm 2016, cả giới đầu tư và chuyên gia trên thị trường năng lượng cũng như người tiêu dùng thế giới luôn hoài nghi về tính chắc chắn trong cam kết giảm sản lượng của OPEC. Dù giá dầu nhìn chung trong xu thế tăng nhưng cũng có nhiều thời điểm giá dầu gần như đứng yên quanh ngưỡng 50 USD/thùng, bởi nhà đầu tư chưa tin vào OPEC hoặc lo ngại các công ty năng lượng Mỹ sẽ tăng mạnh sản lượng.

Tuy nhiên, sau nhiều lần đàm phán căng thẳng, ngày 30/11, tại Vienna (Áo), Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) đã nhất trí cắt giảm sản lượng dầu mỏ lần đầu tiên kể từ năm 2008.

Theo thỏa thuận đã đạt được, trong nửa đầu năm 2017, các nước OPEC sẽ giảm khai thác 1,164 triệu thùng mỗi ngày, xuống mức 32,5 triệu thùng/ngày.

Không chỉ có các nước thành viên OPEC, ngay cả 11 nước sản xuất dầu ngoài tổ chức này cũng đã bắt tay với OPEC. Các nước đã ký thỏa thuận cắt giảm sản lượng với OPEC vào ngày 10/12 vừa qua gồm Azerbaijan, Bahrain, Brunei, Guinea Xích đạo, Kazakhstan, Malaysia, Mexico, Oman, Nga, Sudan và Nam Sudan.

Nhóm nước này dự kiến sẽ giảm 558.000 thùng/ngày, đưa tổng sản lượng dầu mỏ được cắt giảm trong nửa đầu năm 2017 tới lên đến 1,7-1,8 triệu thùng/ngày.

Ngoài ra, một ủy ban cấp cao phụ trách kiểm soát khai thác cũng được thành lập, trong đó có 2 đại diện là các bộ trưởng đến từ các nước ngoài OPEC gồm Nga và Oman, và 3 đại diện của nước thành viên OPEC, gồm Venezuela, Algeria và Kuwait. Phiên họp đầu tiên của ủy ban này sẽ được tổ chức vào tháng 1/2017.

Dự báo thị trường dầu thô thế giới năm 2017 sẽ chịu nhiều tác động từ phía Mỹ. Chính người Mỹ “góp công” gây ra tình trạng thừa dầu khi họ cố gắng khai thác dầu đá phiến với chi phí thấp. Họ đã khiến Saudi Arabia và nhiều nước xuất khẩu dầu lớn của thế giới phải nâng sản lượng lên mức cao kỷ lục để giành khách hàng. Nay khi Saudi Arabia và các nước khác đã nhượng bộ, các công ty năng lượng Mỹ nhiều khả năng hưởng lợi lớn.

Thị trường dầu mỏ luôn luôn song hành cùng tình hình kinh tế thế giới, vốn đang có tốc độ tăng trưởng chậm và thiếu bền vững. Cụ thể, tăng trưởng thế giới tiếp tục duy trì ở mức 2,9% trong năm 2016 và 3,1% trong năm 2017. Tăng trưởng GDP của Mỹ được dự đoán thấp hơn dự kiến, giữ nguyên mức 1,5% trong năm 2016 và 2,1% trong năm 2017. Tăng trưởng GDP của Nhật Bản cũng tiếp tục được dự báo giữ nguyên ở mức thấp, đạt 0,7% trong năm 2016 và 0,9% trong năm 2017. Trung Quốc đã chứng kiến mức tăng trưởng GDP ba quý gần đây nhất đạt 6,7%, hứa hẹn duy trì con số này cho suốt cả năm 2016. Sang năm 2017, Trung Quốc được dự báo tăng trưởng GDP lên 6,2%. Theo IMF dự báo tháng 10-2016, GDP toàn thế giới chỉ tăng trưởng 3,1% năm đến hết 2016 và sang 2017, con số này là 3,4%. Đây là mức giữ nguyên so với dự báo tháng 7-2016, nhưng vẫn thấp hơn 0,1% so dự báo hồi tháng 4-2016.

Sang năm 2017, giá dầu có thể tăng do nhu cầu dầu thô của thế giới có thể tăng nhẹ và sự đồng thuận đậm nét hơn (dù công khai hay ngấm ngầm) của các nước xuất khẩu dầu mỏ, song các rủi ro làm giảm nhu cầu xăng dầu có thể đến từ các nguồn nhiên liệu thay thế, đặc biệt là sự xuất hiện của các phương tiện đi lại tiết kiệm năng lượng. Theo nhiều dự báo, trong năm 2017, nhu cầu dầu mỏ của các nước Trung Đông sẽ tăng 0,11 triệu thùng/ngày; nhu cầu dầu mỏ của Mỹ sẽ tăng nhẹ và của Trung Quốc tăng 0,27 triệu thùng/ngày. Các quốc gia châu Âu đều tăng nhẹ nhu cầu dầu mỏ, với mức tăng ước đạt khoảng 0,15 triệu thùng/ngày trong năm 2017 so với 0,14 triệu thùng/ngày trong năm 2016. Tuy triển vọng nhu cầu dầu mỏ khá tích cực, song các yếu tố bất ổn liên quan đến kinh tế và chính trị trong khu vực có tiềm năng gây ảnh hưởng tiêu cực đến nhu cầu dầu mỏ nói chung. Tại Nhật Bản, năm 2017, nhu cầu dầu mỏ suy giảm do tái khởi động các nhà máy điện hạt nhân sau khi bị tạm ngừng. Hàn Quốc, Ấn Độ và Mỹ Latinh đều có nhu cầu về dầu mỏ tiếp tục tăng năm 2017.

Về nguồn cung dầu mỏ, các quốc gia ngoài OPEC được dự đoán sẽ giảm sản lượng xuống mức trung bình 56,2 triệu thùng/ngày đến hết năm 2016, và giảm còn 56,43 triệu thùng/ngày sang năm 2017. Sản lượng khí hóa lỏng của OPEC được dự kiến đạt trung bình 6,43 triệu thùng/ngày vào năm 2017, tăng 0,15 triệu thùng/ngày so với hiện nay.

Năm 2017 sẽ còn chứa đựng nhiều yếu tố bất ngờ cả về kinh tế lẫn chính trị có thể ảnh hưởng đến giá dầu, đặc biệt là việc thực thi thỏa thuận cắt giảm sản lượng. Diễn biến mới nhất là đại diện chính quyền Iran hôm 6/1 đã tuyên bố cắt giảm sản lượng 200.000 thùng dầu/ngày theo thỏa thuận cắt giảm sản lượng của OPEC. Quyết tâm tăng sản lượng dầu của Iran sau khi được dỡ bỏ các lệnh trừng phạt hồi tháng 7/2015 từng là một trong những nút thắt lớn trong tiến trình giảm sản lượng dầu. Hành động tiên phong của nhà sản xuất dầu lửa hàng đầu thế giới cho thấy triển vọng giá “vàng đen” trong năm 2017 sẽ tiếp tục phục hồi. Các chuyên gia kinh tế thế giới phần lớn đều nhận định giá năng lượng, đặc biệt là dầu mỏ sẽ tăng vững chắc trong năm nay. 

Than

Giá thế giới tăng hơn 100% trong một năm trở lại đây - mức tăng ngoạn mục nhất trong vòng nửa thập kỷ


Sau hơn 5 năm khủng hoảng, bắt đầu từ năm 2011, giá than thế giới liên tục giảm giá và trở thành mặt hàng ít được chú ý nhất trên thị trường. Tuy nhiên, kể từ giữa năm 2016, dưới tác động của nhiều yếu tố, giá than thế giới đã ghi nhận sự phục hồi đáng kể và trở thành một trong những mặt hàng “hot” nhất trong số những hàng hoá quan trọng. Dữ liệu từ Trading Economics cho biết, các mặt hàng than cốc dùng để luyện kim và than cám đã tăng đột biến trong những tháng cuối năm. Than cốc ghi nhận mức tăng gần 3 lần đạt hơn 300 USD một tấn trong khi than cám tăng từ mức đáy hơn 48,8 USD xác lập vào đầu năm 2016 lên trên 110 USD.

Giá than nhiệt Australia tại cảng Newcastle - tham chiếu cho toàn thị trường than châu Á - đã tăng trên 35% kể từ giữa tháng 6 tới nay và hiện đạt mức cao nhất trong vòng hơn một năm, là gần 70 USD/tấn, sau khi nhập khẩu vào Trung Quốc bất ngờ tăng mạnh. Trước đó, giá than nhiệt đã giảm 70% từ năm 2011 đến cuối năm 2015.

Giá than của Trung Quốc trong những tháng cuối năm 2016 liên tục đạt đỉnh mới. Theo đó, giá than cốc thời điểm thấp nhất tại Trung Quốc vào đầu năm nay là 558 NDT/tấn, đến ngày 26/10/2016, giá này đã lên đến 1.765NDT/tấn (khoảng 261 USD), tăng hơn 200%. Giá than tại thị trường Trung Quốc tiếp tục tăng cao do nhu cầu sử dụng than cung ứng cho phát điện vào mùa đông cũng như khởi động các lò sưởi nhiệt tăng cao. Thêm vào đó chỉ số công nghiệp của Trung Quốc cũng đang ấm trở lại kéo theo nhu cầu sử dụng than cho ngành này cũng tăng lên. Với tâm lý “mua khi giá lên, không mua khi giá rớt” và sợ không mua đủ than cung ứng cho mùa đông của nhiều nhà máy nhiệt điệt đã làm cho giá than tại Trung Quốc càng đẩy giá than tăng cao.

Đà phục hồi của giá than có nguyên nhân chủ yếu từ kỳ vọng nguồn cung trong tương lai sẽ giảm mạnh. Trong đó, chính sách mới của Trung Quốc là nguyên nhân chính, khi mà quốc gia này đã giảm công suất sản xuất than từ 330 ngày một năm xuống còn 270 ngày do vấn đề về môi trường. Bên cạnh đó là sự sụt giảm về sản lượng của Bắc Mỹ, các mỏ than cám ở Indonesia.

Tháng 7/2016, Trung Quốc chỉ sản xuất được 270 triệu tấn than, giảm 13,1% so với một năm trước đó. Sản lượng trong 7 tháng đầu năm đạt 1,9 tỷ tấn, giảm 10,1% so với cùng kỳ. Việc cắt giảm 95 triệu tấn sản lượng trong 7 tháng đầu năm, mục tiêu giảm 250 triệu tấn trong năm nay của Trung Quốc có thể không đạt được.

Hiệp hội Khai thác Than Indonesia cho biết xuất khẩu than nước này năm 2016 chỉ ở mức 300 triệu tấn như năm ngoái, và năm tới cũng vẫn tương tự, mặc dù các nhà sản xuất sẽ nỗ lực tăng sản lượng trong năm 2017 nếu giá tiếp tục cải thiện. Sản lượng than năm 2016 dự báo sẽ giảm xuống 400 triệu tấn, so với 440 triệu tấn năm 2015.

Giá than tăng mạnh trái ngược hẳn với dự đoán trước đây của nhiều tổ chức lớn, như Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) và Goldman Sachs - năm ngoái đã từng cho rằng kỷ nguyên vàng của than ở Trung Quốc dường như đã qua, đồng thời hạ dự đoán nhu cầu than thế giới từ nay đến năm 2020 bởi quá trình tái cơ cấu kinh tế ở Trung Quốc, các chính sách của chính phủ nước này hướng tới ứng phó với những thách thức về môi trường sẽ tác động tới nhu cầu sử dụng than ở nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này. Do đó, việc Trung Quốc tăng mạnh nhập khẩu than là mọt điều bất ngờ.

Giá than tăng trở lại có sự hậu thuẫn từ các cường quốc công nghiệp châu Á là Nhật Bản và Hàn Quốc, và nhu cầu tiếp tục vững ở Ấn Độ, Việt Nam và Philippines.

Nhật Bản đã sử dụng khối lượng kỷ lục nhiên liệu hoá thạch để phát điện sau thảm hoạt hạt nhân Fukushima khiến các nhà máy điện nguyên tử bị dừng hoạt động, trong khi Hàn Quốc kế hoạch xây mới 20 nhà máy điện sử dụng nguyên liệu rẻ nhất này trước năm 2022.

Cuối tháng 10 vừa qua, Ủy ban phát triển cải cách quốc gia, Cục Năng lượng quốc gia, Cục giám sát an toàn ngành than và Hiệp hội công nghiệp than Trung Quốc đã nhóm họp đưa ra giải pháp nhằm giải quyết tình trạng thiếu than của Trung Quốc trong giai đoạn vừa qua. Theo đó, Trung Quốc chỉ đạo các giếng than có công nghệ khai thác tiên tiến đã được phê chuẩn đẩy nhanh tiến độ khai thác gia tăng sản lượng, đồng thời cổ vũ các doanh nghiệp sử dụng than ký kết hợp đồng lớn, dài hạn cho năm sau và hy vọng với việc sản lượng được tăng lên sẽ giảm bớt áp lực tăng giá của ngành than Trung Quốc hiện nay.

Giấy và bột giấy

Thị trường khởi sắc trong 6 tháng cuối năm


Thị trường giấy và bột giấy thế giới nhìn chung ảm đạm trong quý I/2016, nhưng đã khởi sắc trở lại từ quý II và duy trì vững trong 6 tháng cuối năm do nhu cầu từ Trung Quốc có dấu hiệu hồi phục. Tuy nhiên, giá tăng chưa trở thành xu hướng bền vững bởi tồn trữ duy trì ở mức cao. Nhu cầu trên thị trường thế giới đang hồi phục rất chậm, do vậy các nhà nhập khẩu khó chấp nhận giá tăng.

Sản lượng bột giấy thế giới quý II/2016 đã tăng 4,8% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó tăng mạnh nhất ở Tây Âu, Mỹ Latinh và Nga.

Thương mại bột giấy tăng khoảng 5% trong 5 tháng đầu năm 2016 so với cùng kỳ năm 2015. Trung Quốc đã tăng mạnh nhập khẩu trong tháng 7 năm nay lên mức cao kỷ lục. Tuy nhiên, tồn trữ bột giấy cao tiếp tục gây áp lực lên giá.

Theo Wood Resource Quarterly (WRQ), giá bột/sợi gỗ làm giấy đã liên tiếp giảm trong suốt gần 5 năm qua, trong đó giá gỗ cứng giảm mạnh nhất. Xu hướng giảm tiếp diễn tới quý I/2016, nhưng đảo chiều tăng trong quý II - lần tăng đầu tiên trong vòng 2 năm. Lý do giá tăng có liên quan chủ yếu tới biến động tỷ giá đồng USD so với tiền tệ của những nước xuất khẩu bột gỗ chủ chốt.

Chỉ số giá sợi gỗ cứng (HFPI) đã giảm 0,6% trong quý I/2016 do giá các loại gỗ sản xuất bột giấy ở Nga, Đông Canada, Đức và Pháp đều giảm. Tuy nhiên, giá hồi phục từ quý II bởi giá gỗ dăm và gỗ cây dùng sản xuất bột giấy đều tăng ở những thị trrường lớn trên thế giới.

Giá HFPI đã giảm liên tiếp trong mấy năm qua, ở thời điểm quý I/2016 thấp hơn khoảng 29% so với mức cao kỷ lục của năm 2011. Giá giảm mạnh nhất ở những nước có tốc độ trồng cây gỗ nguyên liệu phát triển nhanh nhất là Chile, Brazil, Australia và Indonesia. Đồng USD tăng giá là nguyên nhân chính khiến giá bột gỗ giảm, bởi giá gỗ cứng tính theo nội tệ của các nước trồng gỗ (như Brazl, Chile, Indonesia và Nga) đã tăng 25%. Sang quý II/2016, HFPI tăng 3,7% so với quý I và quý tăng đầu tiên trong vòng 2 năm. Giá tăng mạnh nhất (tính theo USD) ở Nga, Brazil, Chile, Australia và Đông Canada.

Tuy nhiên, sang tháng 7, giá bột gỗ cứng quay đầu giảm trở lại, và giảm tiếp trong tháng 8 trong bối cảnh nguồn cung dư thừa. Nguồn cung bột gỗ bạch đàn vẫn dồi dào khiến giá giảm trên thị trường châu Âu.

Chỉ số giá sợi gỗ mềm (SFPI) cũng đồng loạt giảm tại các nước sản xuất trên toàn thế giới trong quý I kể cả tính theo nội tệ cũng như theo USD, theo báo cáo của WRQ. Xu hướng giảm bắt đầu tại châu Âu từ đầu năm 2014 và vẫn tiếp diễn, mặc dù ở một số thị trường giá đã chạm đáy. Trong quý I giá giảm mạnh nhất ở Nga, Canada, Pháp và New Zealand. SFPI giảm 1% trong quý I/2016 so với quý trrước đó, mức giảm ít nhất kể từ quý I/2006. Khu vực duy nhất có giá sợi gỗ mềm tăng trong mấy năm qua là miền Nam nước Mỹ, nơi giá gỗ mềm dùng sản xuất bột giấy tăng 21% trong quý I/2016 so với năm 2012. Sang quý II, Chỉ số SFPI tăng 2,3% so với quý I, lên 89,63 USD/tấn. Đây cũng là quý tăng giá đầu tiên kể từ đầu năm 2014. Đồng USD yếu đi và giá sợi gỗ tăng khi tiính theo nội tệ ở các thị trường Tây Canada, Pháp, Brazil và Đức là những lý do chính đẩy giá SFPI tăng trong quý này.

Giá bột gỗ mềm không thay đổi trong suốt quý III. Tuy nhiên, thị trường có dấu hiệu khởi sắc từ giữa tháng 9.

Tại châu Âu, sau khi tăng trong tháng 8 do nhu cầu mạnh cả trên thị trường trong và ngoài khu vực, giá giấy và bìa giảm trở lại trong tháng 9 do xuất khẩu sang châu Á sụt giảm và nguồn cung dồi dào. Mặt khác, việc giá quá nhiều trong tháng 8 cũng là lý do khiến giá giảm trong tháng 9 bởi giá tăng khiến khách hàng từ chối mua vào. Nhiều khách hàng chuyển hướng từ nguồn cung châu Âu sang nguồn cung Mỹ, nơi giá giảm trở lại vào tháng 9 sau khi tăng trong tháng 7 và 8.

Giá giấy in báo tại Anh tăng từ 1/7 sau khi người dân Anh bỏ phiếu quyết định rời khỏi EU. Đồng bảng Anh giảm giá so với Euro và USD đã đẩy giá mặt hàng này tăng lên. Giá từ tháng 7 thường được áp dụng cho cả 6 tháng cuối năm. Tuy nhiên, nhiều nhà sản xuất chỉ dám ký hợp đồng quý, để xem xét lại mức giá mới cho quý IV (ký hợp đồng từ 1/10). Giá tại Ấn Độ tăng 5% trong tháng 7 do lo ngại nguồn cung bị gián đoạn sau những hạn chế đối với nhập khẩu.

Cao su

Chính sách cắt giảm sản lượng và giá dầu thô tăng đã hỗ trợ thị trường cao su tăng giá trong quý 4/2016


Sau khi tạo đỉnh vào cuối năm 2011, giá cao su thế giới đã trải qua giai đoạn lao dốc tương đối mạnh trong vòng hơn 4 năm tiếp theo. Tuy vậy, giá cao su đã có dấu hiệu phục hồi và tạo đáy kể từ khoảng thời gian đầu năm 2016. Giá cao su trung bình đã đi ngang trong 9 tháng đầu năm 2016. Trong thời gian này, giá cao su đạt mức trung bình 1,06 USD/kg, ngang bằng với mức trung bình của năm 2015, sau 4 năm liên tiếp suy giảm với mức CAGR là 22,4%. Sự suy giảm của giá cao su là kết quả của việc dư cung trong thời gian dài, khiến lượng hàng tồn kho tăng lên gấp đôi trong vòng 5 năm.

Giá cao su bắt đầu tăng từ quý 4/2016, khi OPEC và các nước ngoài OPEC đồng ý cắt giảm nguồn cung dầu mỏ 1,2 triệu thùng/ngày trong nửa đầu năm 2017. Giảm nguồn cung dầu hỗ trợ giá cao su nhân tạo tăng, là sản phẩm thay thế của cao su tự nhiên, tăng theo giá dầu thế giới và thúc đẩy các nhà sản xuất lốp xe lớn chuyển sang cao su tự nhiên. Giá cao su tự nhiên đã chuyển từ mức thấp nhất 1,2 USD/kg vào đầu năm 2016 lên 1,6 USD/kg trong quý 4/2016 và lên 2,4 USD/kg trong thời điểm cuối năm 2016.

Sự phục hồi tốt của giá cao su là kết quả của nhiều yếu tố tác động, bao gồm:  Giá cao su đang được hỗ trợ tích cực bởi giá dầu. Dầu thô là nguyên liệu đầu vào chính để sản xuất cao su tổng hợp, là sản phẩm thay thế cao su tự nhiên trong nhiều lĩnh vực. Do vậy, việc giá dầu phục hồi từ đầu năm đã làm tăng chi phí sản xuất cao su tổng hợp và giúp cải thiện nguồn cầu cho cao su tự nhiên. Khảo sát giai đoạn 1999-2016, mối tương quan giữa giá cao su và giá dầu là 83.1%.

Các chính sách cắt giảm sản lượng hỗ trợ. Ngày 4/2/2016, Hội đồng Cao su Quốc tế Ba bên (ITRC) đã quyết định cắt giảm xuất khẩu cao su thiên nhiên tổng cộng 615.000 tấn cao su, trong giai đoạn 6 tháng bắt đầu từ ngày 1/3/2016. Tiếp đó, bắt đầu từ tháng 9/2016, ITRC tiếp tục đồng thuận cắt giảm xuất khẩu 85.000 tấn cao su bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 12 năm 2016. Như vậy, trong năm 2016, 3 nước sản xuất cao su thiên nhiên hàng đầu thế giới là Indonesia, Thái Lan và Malaysia sẽ giảm xuất khẩu tổng cộng là 700.000 tấn. Indonesia, Thái Lan và Malaysia cung cấp 67% lượng cao su thiên nhiên trên thế giới. Bên cạnh cắt giảm xuất khẩu, các quốc gia cũng đồng ý tăng tiêu thụ cao su thiên nhiên trong nước thông qua các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng để góp phần giảm lượng cao su tồn kho và sớm cải thiện giá. 

Ảnh hưởng bởi yếu tố thời tiết làm tăng giá cao su. Theo đó, hiện tượng La Nina nối tiếp El Nino gây ảnh hưởng tiêu cực tới sản lượng cao su tự nhiên trong ngắn hạn. Dữ liệu lịch sử cho thấy tình trạng mưa kéo dài sẽ ảnh hưởng một phần tới năng suất khai thác mủ cao su, qua đó tác động tích cực tới giá cao su tự nhiên.

Hiện tượng El-nino dẫn đến khô hạn ở một số nước sản xuất trọng yếu như Indonesia, Thái Lan và Ấn Độ, qua đó làm sụt giảm sản lượng cao su sản xuất trong 2016. Bên cạnh đó, thời tiết khô hạn cũng gián tiếp tạo nên sương mù cho Malaysia và Indonesia, khiến cây cao su thiếu nắng và ảnh hưởng đến chất lượng cao su. Trong khi đó, hiện tương La-nina được dự báo sẽ xuất hiện vào cuối 2016, cũng ảnh hưởng đáng kể đến sản xuất cao su. Theo đợt La-nina năm 2011, lượng mưa tăng cao đã gây lũ lụt ở Thái Lan, dẫn đến thiếu hụt lượng cung và đẩy giá cao su lên mức cao nhất trong lịch sử vào năm 2011. Bên cạnh đó, việc lượng mưa tăng cao hơn bình thường sẽ ảnh hưởng không tốt lên chất lượng mủ cao su, và giảm số lượng ngày cạo mủ của cao su trong năm.

Các yếu tố khác bao gồm nguồn cung giảm do giá thấp và chi phí sản xuất cao. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB), tổng sản lượng của Hiệp hội các nước sản xuất cao su thiên nhiên đang chiếm khoản 92% tổng sản lượng toàn cầu đã giảm hai năm liên tiếp, năm 2014 giảm 1,9% so với năm 2013 và năm 2015 giảm 0,9% so với năm 2014 và lượng tồn kho cao su thế giới cũng đã giảm từ mức 2,06 triệu tấn năm 2014 xuống 1,84 triệu tấn vào thời điểm cuối tháng 10/2015. Bên cạnh đó, Ấn Độ đã công bố sản lượng cao su thiên nhiên giảm mạnh nhất (-21%) trong tất cả các nước sản xuất cao su. Ngành công nghiệp ô tô Trung Quốc có tín hiệu hồi phục cũng phần nào tác động tích cực đến nhu cầu tiêu thu cao su trên thế giới. Trung Quốc là nước tiêu thụ cao su tự nhiên lớn nhất thế giới, năm 2014 lượng tiêu thụ đạt 4,7 triệu tấn, tăng 13,1% so với năm trước và chiếm 39,1% tổng mức tiêu thụ của thế giới. Nhờ nhu cầu lớn từ ngành lốp xe nên mặc dù nền kinh tế Trung Quốc tạm thời chững lại, lượng tiêu thụ cao su tự nhiên của Trung Quốc vẫn được dự đoán sẽ đạt 6,7 triệu tấn vào năm 2018. Trong đó, ngành lốp ô tô chiếm 70% tổng tiêu thụ cao su tự nhiên, các sản phẩm cao su khác chiếm 30%.

Giá cao su có thể tiếp tục duy trì đà tăng trong năm 2017 do kinh tế toàn cầu phục hồi và cầu đang trên đà vượt cung.

Bên cạnh những yếu tố hỗ trợ trên, nguồn cung cao su cũng được dự báo giảm xuống mức thấp hơn nhu cầu trong vài năm do biện pháp giảm nguồn cung để tăng giá tại các nước sản xuất lớn, trong đó biện pháp đốn hạ cây cao su có thể làm giảm nguồn cung trong 7 năm tới. Tuy nhiên, các nhà giao dịch cho rằng vẫn có một số rủi ro lớn có thể ngăn đà tăng giá cao su. Lo ngại chính là chính sách kinh tế trong thời gian tới của tổng thống Mỹ mới đắc cử Donald Trump. Bất cứ rào cản thương mại hoặc các biện pháp thuộc chủ nghĩa bảo hộ nào được triển khai cũng sẽ có tác động tiêu cực lên giá cao su.

Đường

Giá tăng gấp đôi trong 9 tháng đầu năm


Thị trường đường thế giới 6 tháng đầu năm ghi nhận chuyển động tích cực theo hướng đường trở thành là mặt hàng có mức giá cả phục hồi cao nhất năm 2016 do nguồn cung với sản lượng 8,6 triệu tấn/ngày, giảm sút trầm trọng sau năm năm thặng dư. Theo nhiều dự báo quốc tế, tình trạng thâm hụt nguồn cung này sẽ kéo dài cho tới đầu năm 2017. Tổ chức đường thế giới (ISO) vừa cho rằng trong năm 2016/2017, thế giới có thể thiếu khoảng 3,8 triệu tấn đường cùng sự sụt giảm sản lượng tại quốc gia xuất khẩu đường lớn thứ 2 thế giới là Ấn Độ.

Đường thô kỳ hạn giao sau đã tăng giá gần 40% trong quý II, manh nhất kể từ 2010, kết thúc ở mức cao kỷ lục hơn 3 năm rưỡi, trong bối cảnh các nhà đầu tư mua mạnh và đồng nội tệ Brazil - đồng real - tăng lên mức cao kỷ lục 11 tháng so với USD. Tính trong nửa đầu năm, giá đường đã tăng 32%. Tại Mỹ, giá đường tương lai (Sugar #11 future) giao ngày 16-7-2016  ở mức 16,74 USD (13-5-2016), so với mức 14,29 USD ngày 13-4-2016 và tăng tới 30% so với giá 12,83 USD ngày 2-2-2016. Giá đường thô đã tăng hơn gấp đôi, lên đỉnh điểm ở mức 23,90 cent/pound trong tháng Mười khi các quỹ đầu tư đã thiết lập một trạng thái nắm giữ kỷ lục trong bối cảnh suy giảm nguồn cung. Giá đường đã vượt 20 US centy/lb, cao nhất kể từ 2012, bởi tiêu thụ cao kỷ lục khiến tồn trữ giảm. Mưa lớn và sương giá ở Brazil gây lo ngại về sản lượng ở nước sản xuất đường lớn nhất thế giới này.

Thái-lan phải đối mặt với sản lượng mía giảm dưới 100 triệu m3/tấn trong vụ mùa 2015-2016 kết thúc vào tháng 9-2016, mức thấp nhất kể từ thời điểm năm 2011 - 2012. Trong khi ở nhiều quốc gia sẽ giảm sản lượng đường do thiếu mía nguyên liệu thì châu Âu dự kiến sẽ trở lại thị trường đường thế giới vào năm 2017, sau khi hạn ngạch sản xuất và hạn chế xuất khẩu đường được dỡ bỏ. Một số công ty sản xuất đường tại EU đã công bố ý định tăng sản lượng trong năm 2017. Được sản xuất từ củ cải, đường tại khu vực này có ưu thế sản lượng cao và chi phí thấp, giúp EU từ chỗ nhập khẩu đường ròng có thể trở thành nhà xuất khẩu ròng hàng đầu trong thời gian tới.

Tuy nguồn cung vẫn thiếu hụt trong cả năm 2016, nhưng hoạt động của những nhà đầu cơ và các quỹ phòng ngừa rủi ro tạo thêm xung lực khiến giá đường có nhiều biến động phức tạp trong thời gian tới.

Những vụ kiện cáo quốc tế về trợ giá đường cũng gia tăng giữa những nước sản xuất đường lớn nhất thế giới. Từ cuối năm 2015, các nhà sản xuất đường Brazil đã thu thập nhiều chứng cứ sẵn sàng kiện Thái-lan và Ấn Độ. Mới đây, Brazil đệ đơn kiện Thái-lan lên Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) với cáo buộc cho rằng việc nước này trợ giá đường nội địa đã gián tiếp kéo giá đường thế giới giảm, làm tăng thị phần xuất khẩu của đường Thái-lan ra thế giới từ 12,1% lên mức 15,8% trong vòng bốn năm qua. Cùng trong thời điểm này, thị phần của Brazil trên thị trường đường giảm sút từ mức 50% xuống mức 44,7%, khiến Brazil thiệt hại ước tính khoảng 1,2 tỷ USD/năm.

Thiếu hụt nguồn cung đường trong hai năm qua, yếu tố quan trọng thúc đẩy giá đường tăng mạnh thời gian vừa rồi được dự báo sẽ kết thúc vào vụ 2017/18 sắp tới. Lý do nhờ mưa quay trở lại đối với khu vực sản xuất chính của châu Á cùng những cải cách trong liên minh châu Âu nhằm thúc đẩy khối lượng giao dịch thương mại.

Tại EU, sản lượng đường sẽ tăng sau khi hạn ngạch được bãi bỏ cho phép các nhà sản xuất dựa trên hiệu suất cao nhất của họ, đặc biệt là ở Pháp và Đức.

Các nhà phân tích nói rằng sản lượng của EU có thể tăng thêm khoảng 3 triệu tấn trong năm 2017/18 mặc dù người đứng đầu của nhà sản xuất lớn thứ hai của EU, Nordzucker của Đức, cảnh báo những thách thức trong vận hành có thể làm chậm sự tăng trưởng.

Sản xuất ở Brazil cũng vẫn đang xem xét mở rộng bất chấp sự suy giảm gần đây của giá do tiền tệ suy yếu so với USD.

(TTGCVT/M.Anh tổng hợp)

Các tin khác
Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (024) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (024) 39762593 
Email: ttgcvattu@yahoo.com