Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Diễn biến thị trường hàng hóa – nguyên liệu trong nước năm 2016
Cập nhật: 16-1-2017

VÀNG

Giá vàng trong nước năm 2016 tăng mạnh nhất 5 năm


Giá vàng miếng SJC chốt năm 2016 ở mức 36,1 - 36,38 triệu đồng/lượng mua vào - bán ra, tăng gần 11% so với giá chốt năm 2015. Đây là mức tăng mạnh nhất của kim loại quý trong vòng 5 năm trở lại đây, theo khảo sát của Nhịp cầu đầu tư dựa trên dữ liệu giá vàng của Tập đoàn Vàng bạc đá quý Doji.

Trong năm qua, giá bán vàng có thời điểm tăng cao nhất lên 38,5 triệu đồng mỗi lượng, tương ứng mức tăng hơn 17% so với đầu năm 2016. Theo nhận định của Phòng Kinh doành vàng của tập đoàn Doji, diễn biến của kim loại quý khá phức tạp trong năm 2016, nhiều nhà đầu tư vẫn chưa dám mạo hiểm để mạnh dạn tham gia thị trường.

Biến động thất thường vốn là trạng thái chủ yếu diễn ra trên thị trường vàng, nhưng sự đối nghịch trong những tháng đầu năm và cuối năm đã khiến vàng trở nên bất thường so với những năm trước. Riêng 6 tuần đầu tiên của năm 2016, giá vàng đã có bước thay đổi chóng mặt. Nếu mở đầu năm ở giá 1.060 USD/ounce khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) quyết định tăng lãi suất sau 9 năm bất động, chỉ sau 6 tuần giá vàng đã tăng lên 1.240 USD/ounce. Việc giá vàng tăng cao sau động thái của FED trái ngược với dự đoán của chuyên gia, bởi nhà đầu tư đánh giá lãi suất USD ngay cả khi Mỹ điều chỉnh tăng vẫn ở vùng thấp, nên vàng là lựa chọn ưu tiên.

Thế nhưng, thị trường không kéo dài thời kỳ "leo thang". Sau những tháng đầu năm đi lên, giá vàng đã rơi vào thời kỳ đi ngang từ tháng 3 đến tháng 6. Đến cuối tháng 6, "cơn lốc" mang tên Brexit ở Anh (ngày 23-6-2016) đã khiến vàng tiến thẳng tới ngưỡng 1.366 USD/ounce vào ngày 6-7-2016. Nếu so với thời điểm diễn ra sự kiện Brexit, giá vàng thế giới đã tăng khoảng 100 USD/ounce. Mức giá này đã thiết lập "đỉnh" của giá vàng trong năm 2016. Trái ngược với giá vàng, sự kiện Brexit lại "cuốn phăng" hàng triệu USD trên thị trường chứng khoán toàn cầu. Vàng và thị trường chứng khoán vốn diễn biến trái chiều, bởi vậy khi chứng khoán sụt giảm, giá vàng lại có lực đỡ để tăng cao. Giới đầu tư quay lưng lại với chứng khoán trước những lo âu về nền kinh tế, nên vàng "lên ngôi", trở thành kênh đầu tư hấp dẫn.

Sự "leo thang" bất ngờ của giá vàng thế giới đã đẩy giá trong nước lên 39,7 triệu đồng/lượng, tăng tới 3 triệu đồng/lượng so với ngày trước đó. Các doanh nghiệp kinh doanh vàng cũng tìm cách "nới" rộng khoảng cách giữa mua và bán để tránh rủi ro, đề phòng giá vàng tiếp tục tăng bất thường, có thời điểm mức chênh này lên tới 1 triệu đồng/lượng. Mặc dù ngay sau đó, giá vàng thế giới chỉ giảm khoảng 10 USD/ounce, nhưng giá vàng trong nước lại "bay hơi" hơn 2 triệu đồng/lượng, nên mức giao dịch lùi xuống 36,55 triệu đồng/lượng (mua vào) - 36,95 triệu đồng/lượng (bán ra). Chạy theo cơn lốc vàng trong những ngày này, thị trường đã chứng kiến nhiều nhà đầu tư vàng “nghiệp dư” bung tiền mua ngay lúc giá ở gần đỉnh 40 triệu đồng để rồi sau đó phải nhận trái đắng khi bong bóng” vàng “xì hơi” không kiểm soát. Theo đó, chỉ trong vòng 24 tiếng, nếu nhà đầu tư bán lại thì sẽ bị lỗ đến 3,3 triệu đồng một lượng, tức mất 33 triệu đồng cho 10 cây vàng.

Trong suốt thời kỳ từ tháng 7 đến tháng 9-2016, giá vàng thế giới duy trì khá ổn định ngưỡng 1.300 USD/ounce, nên giá trong nước cũng hầu như đi ngang. Giá vàng có tăng, giảm cũng chỉ trong biên độ nhỏ nên mức giá phổ biến vẫn trên 36 triệu đồng/lượng. Tuy nhiên, sang tháng 10, giá vàng thế giới để tuột ngưỡng 1.300 USD/ounce, rơi xuống khoảng 1.250-1.260 USD/ ounce khiến giá thế giới cũng không còn duy trì trên 36 triệu đồng/lượng. Đến tháng 11, những thông tin liên quan đến cuộc bầu cử tổng thống ở Mỹ đã khiến loại hàng hóa đặc biệt này có cơ hội tạo sóng. Cụ thể, vào ngày 4-11, giá vàng tăng trở lại khi giới đầu tư dự đoán bà Hillary Clinton sẽ chiến thắng và thị trường sẽ không có nhiều biến động lớn. Song, thời điểm công bố ông Donald Trump giành chiến thắng vị trí Tổng thống Mỹ, nền tài chính thế giới chao đảo, với phiên "leo" đến 1.337 USD/ounce, để rồi chỉ ngay sau đó lại lùi về dưới 1.280 USD/ounce do đồng USD tăng giá trở lại, thị trường chứng khoán hồi phục.

Từ những ngày cuối tháng 11, giới đầu tư đã chú ý đến hiện tượng chênh lệch giữa giá vàng thế giới và giá vàng trong nước “neo” ở mức rất cao. Giá vàng SJC đắt hơn giá vàng thế giới khoảng 3 triệu đồng/lượng. Tại thời điểm đó, các chuyên gia đã cảnh báo nhà đầu tư về những rủi ro có thể xảy ra. Thế nhưng tình hình không được cải thiện. Sang tháng 12, mức chênh này được đẩy lên mức kỷ lục mới trên 5 triệu đồng/lượng. Doãng chênh lệch này vẫn được duy trì vào thời điểm hiện tại.

Nguyên nhân khiến cho giá vàng trong nước và quốc tế ngày càng xa nhau, theo đại diện Ngân hàng Nhà nước, là do sự sụt giảm của giá vàng quốc tế do đồng USD tiếp tục tăng giá so với những đồng tiền chủ chốt khác, lợi suất trái phiếu của Mỹ tăng cao và sự lạc quan về triển vọng của thị trường tài chính trong đại bộ phận giới đầu tư. Trong khi đó, do trước đây các doanh nghiệp và người dân đã mua vàng với giá cao chưa muốn bán ra nên giá vàng trong nước vẫn còn biến động chậm hơn.

Sự bấp bênh của giá vàng thế giới cũng khiến nhà đầu tư trong nước bất an, thị trường vàng khá trầm lắng. Giá vàng giao dịch phổ biến quanh ngưỡng 36 triệu đồng/lượng, có lúc rơi xuống dưới ngưỡng này. Ở tuần cuối cùng của năm 2016, hầu hết các nhà đầu tư tạm ngưng giao dịch. Dù chênh lệch giữa vàng nội và ngoại vẫn ở mức cao 5 triệu đồng/lượng, nhưng tính chung cả năm, mỗi lượng vàng miếng SJC cao hơn đầu năm khoảng 9%.

Trong năm 2016, có 2 thời điểm vàng trong nước ghi nhận mức giá thấp hơn thế giới. Đầu tiên là phiên đêm ngày 10/3 khi giá vàng thế giới tăng tới gần 1 triệu đồng/lượng còn giá vàng tại Việt Nam sáng 11/3 chỉ tăng 300-400 ngàn đồng/lượng. Bởi vậy, từ chỗ đứng cao hơn vài triệu đồng/lượng, giá vàng miếng trong nước đã rẻ hơn giá vàng thế giới. Chênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới ở ngưỡng -0,13 triệu đồng/lượng.

Lần thứ hai là phiên giao dịch ngày 30/6 khi chênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới ở ngưỡng -0,29 triệu đồng/lượng. Phiên này, thị trường vàng Việt Nam biến động mạnh hiếm có trong bối cảnh vàng thế giới đang tăng “điên loạn” sau khi phe ủng hộ Brexit chiếm ưu thế.

Theo giới phân tích, biến động giá không phải là câu chuyện đáng nhớ về năm 2016, mà thay vào đó, những cung bậc cảm xúc của thị trường mới là điểm mấu chốt. Nhìn lại thị trường vàng năm 2016 có thể thấy đó là một bức tranh có hai mảng đối lập, mảng rực rỡ vào những tháng đầu năm và mảng u ám trong những tháng cuối năm. Với nhà đầu tư kinh doanh vàng cũng vậy, những nhà đầu tư "đổ" vốn đầu năm không khó để thu được lợi nhuận, nhưng những người trót mua vào cuối năm khó có cơ hội thu lãi. Vậy, giá vàng sẽ thế nào trong năm 2017? Nhiều chuyên gia dự báo, vàng vẫn rơi vào nguy cơ giảm, bởi USD có cơ hội giành lại ngôi kênh đầu tư "vua" từ vàng.

ĐÔ LA

Thị trường ngoại tệ ổn định


Nhiều năm trước, nhìn trực diện vào cơ chế tỷ giá, nhà điều hành chủ yếu sử dụng trực tiếp công cụ lãi suất, nới hoặc co biên độ, cả mệnh lệnh hành chính, và cuối cùng thì xuất ngoại tệ ra bán.

Tuy nhiên bước sang năm 2016, về cơ bản tỷ giá USD/VND đã được duy trì ổn định. Hầu hết các dự báo đưa ra đầu năm, tăng 4-5%, đều trượt. Tính đến 24/12/2016, tỷ giá trung tâm chỉ tăng 1,18% so với đầu năm; tỷ giá trên biểu niêm yết của các ngân hàng thương mại cũng chỉ tăng khoảng 1,15%.

Chưa năm nào thị trường ngoại tệ trong nước lại ổn định như vậy, nhất là trong một năm mà thị trường ngoại hối thế giới biến động chưa từng có, chao đảo khắp nơi từ các nền kinh tế lớn tại châu Âu cho tới các nước mới nổi ở châu Á và châu Mỹ. Bảng Anh lao dốc, euro xuống mức thấp nhất 14 năm, NDT thấp nhất 8 năm so với USD. “Không có một đợt sốt lớn nào. Thị trường ngoại tệ luôn trong tình trạng thanh khoản đầy đủ, không sốt ảo, tâm lý bầy đàn giống như nhiều năm trước đây, muốn mua USD là mua được, miễn là có phiếu giấy tờ đầy đủ. Thị trường tự do cũng không hề hỗn loạn và chẳng có cớ gì để loạn khi nhu cầu của DN được đáp ứng” – theo nhận định của một nhà kinh doanh có tiếng tại Việt Nam.

Ngay từ đầu năm, cụ thể là ngày 4/1/2016, NHNN đã quyết định điều hành thị trường đồng đô la theo cơ chế tỷ giá trung tâm. Tỉ giá trung tâm USD/VNĐ được NHNN công bố đều đặn hàng ngày và quản lý theo Quyết định số 2730/QĐ-NHNN , với biên độ +-3%.

Thị trường đã chứng kiến tỷ giá USD/VND 8 tháng đầu năm lặng sóng, rất ổn định, khác xa với những biến động thất thường trong các năm trước đó.

Trong 4 tháng cuối năm, thị trường ngoại tệ chứng kiến 2 đợt tăng giá trên thị trường chợ đen, một vào cuối tháng 8 với giá USD được đẩy cao lên đến 22.950 đồng/USD và trong tuần đầu tháng 12 khi mà USD tự do có lúc lên tới 23.350 đồng/USD. Tuy nhiên, khoảng thời gian mà giá tăng vọt rất ngắn, có lần chỉ kéo dài 1-2 tiếng đồng hồ, thị trường không có sự hỗn loạn và giao dịch không có đột biến.

Giá USD tại các NHTM thời điểm cao nhất vẫn chỉ quanh mức 22.700-22.800 đồng/USD và nguồn cung đầy đủ. Tại nhưng thời điểm đó, NHNN luôn phát đi tín hiệu về cung cầu ổn định và sẵn sàng bán USD cho các NHTM có nhu cầu. Tuy nhiên, tiết lộ từ lãnh đạo NHNN là chào bán nhưng không ai mua. Mọi dấu hiệu đều là cố tình đánh vào tâm lý để gây sóng nhưng không thành.

Tỷ giá trung tâm tính đến cuối tháng 11 đã tăng khoảng hơn 1% so với đầu năm. Tỷ giá ngân hàng thương mại và thị trường phi chính thức cũng tăng trở lại, phổ biến ở mức 22.700 VND/USD vào cuối tháng 11, tăng khoảng 0,22% so với đầu năm.

Nguyên nhân khiến tỷ giá tăng vào thời điểm cuối năm chủ yếu do: Đồng đô la Mỹ liên tục lên giá so với các đồng tiền chủ chốt, đặc biệt sau khi có kết quả chính thức của bầu cử Tổng thống Mỹ. Mặt khác, nhu cầu ngoại tệ tăng trở lại theo yếu tố mùa vụ nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán về cuối năm và đón đầu khả năng FED tăng lãi suất vào tháng 12. Cụ thể, cầu ngoại tệ đã tăng lên, thể hiện: kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đã chấm dứt xu hướng giảm so với năm trước và bắt đầu tăng trở lại kể từ tháng 9; nhu cầu mua ngoại tệ để trả nợ USD trước hạn tăng lên do lo ngại tỷ giá có biến động sau bầu cử Tổng thống Mỹ.

Tuy nhiên, nguồn cung ngoại tệ hiện đang khá dồi dào do hỗ trợ tích cực từ cán cân thương mại thặng dư, FDI tăng khá. Cán cân thanh toán tổng thể dự báo có sự đảo chiều tích cực so với cuối năm 2015. Cụ thể, từ mức thâm hụt hơn 6 tỷ USD vào cuối năm 2015, cán cân thanh toán năm 2016 ước thặng dư ở mức khá cao, tương đương với năm 2014 do cán cân thương mại xuất siêu và khoản mục lỗi và sai sót giảm.

Bên cạnh đó, niềm tin vào VND và sự ổn định vĩ mô ngày càng được nâng cao, phản ánh rõ qua chỉ số CDS giảm khoảng 40% so với đầu năm, giúp cho khoản mục Lỗi và sai sót trong cán cân thanh toán tổng thể giảm so với cùng kỳ, giúp cán cân thanh toán tổng thể đạt thặng dư. Nhờ đó, NHNN đã bổ sung được dự trữ ngoại hối lên mức cao kỷ lục 40 tỷ USD.

Có thể nói năm 2016 đã ghi nhận sự thành công trong việc vận dụng cơ chế điều hành linh hoạt tỷ giá trung tâm của các nhà hoạch định thị trường, mà cụ thể là NHNN. Ngân hàng Nhà nước đã rất linh hoạt vận dụng rất nhiều cơ chế để ứng xử, theo mục tiêu bình ổn thị trường tài chính trong nước.

THÉP

Ngành thép tăng trưởng cao nhưng vẫn nhập siêu 6,7 tỷ USD


Theo ông Nguyễn Văn Sưa - Phó Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), năm 2016 sản xuất và tiêu thụ thép đều tăng trưởng mạnh.

Theo ðó, nãm 2016 tổng các loại sản phẩm thép mà các doanh nghiệp là thành viên của VSA sản xuất ðạt 17,5 triệu tấn, tãng 16,8% so với  nãm 2015. Trong ðó, tiêu thụ ðạt hõn 15,3 triệu tấn, tãng 23,7% so với nãm 2015. Ðiểm nổi bật trong nãm 2016 này là tốc ðộ tãng trýởng thép xây dựng, mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn (gần 50%) trong tất cả các loại sản phẩm thép của nýớc ta, ðạt mức cao so với các nãm trýớc, ðạt hõn 8,5 triệu tấn, tãng 18,3% về sản xuất và ðạt hõn 8,4 triệu tấn, tãng 20,6% về bán hàng. Các mặt hàng thép cuộn cán nguội, ống thép hàn và tôn mạ các loại cũng ðạt tãng trýởng cao hõn 20%.

Về tình hình nhập khẩu, do ngành thép Việt Nam phát triển chýa ðồng bộ giữa các khâu, ðặc biệt là thép cuộn cán nóng (HRC) và các loại thép hợp kim trong nýớc chýa sản xuất ðýợc nên hàng nãm vẫn phải nhập khẩu một số lýợng rất lớn nguyên liệu và bán thành phẩm phục vụ cho sản xuất.

Nhập khẩu của ngành thép trong nãm 2016 tãng cao so với nãm 2015, ðặc biệt ðáng chú ý là ðối với các mặt hàng mà chúng ta còn dý khả nãng sản xuất nhý: Phôi thép nhập khẩu hõn 1,1 triệu tấn, chiếm 12,6% thị phần phôi cả nýớc; Tôn mạ và sõn phủ màu ðạt hõn 1,8 triệu tấn, tãng 30,7% so với nãm 2015 và chiếm tới trên 50% thị phần nội ðịa; Thép hợp kim nhập khẩu hõn 8,1 triệu tấn; trong ðó có khoảng 1,9 triệu tấn thép dài có thể ðã ðýợc sử dụng nhý thép xây dựng thông thýờng.

Theo đánh giá của Bộ Công thương, năm 2016, sản xuất sắt thép trong nước tăng trưởng cao. Tuy nhiên, cũng mới chỉ đáp ứng được khoảng 40% nhu cầu sắt thép nội địa và tiếp tục là ngành nhập siêu lớn.

Năm 2016, lượng sắt thép thô đạt 5.154,3 nghìn tấn, tăng 20,5% so với cùng kỳ; thép cán đạt 5.351,5 nghìn tấn, tăng 26,8% so với cùng kỳ; thép thanh, thép góc đạt 4.702,9 nghìn tấn, tăng 9,9% so với cùng kỳ.

Báo cáo của Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) cũng cho thấy năm 2016, tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành thép đạt 2,4 tỷ USD, nhập khẩu đạt 9,1 tỷ USD. Như vậy, trong năm 2016, ngành Thép trong nước đã nhập siêu tới 6,7 tỷ USD.

Xét về thị trường, Trung Quốc tiếp tục là nước dẫn đầu về khối lượng xuất khẩu thép vào Việt Nam với gần 10 triệu tấn, tăng 18% so với cùng kỳ. Thứ hai là Nhật Bản với 2,4 triệu tấn, tăng 7%; Hàn Quốc đạt 1,69 triệu tấn, tăng 6,5% so với cùng kỳ.

Thực trạng nhập siêu ngành thép theo đánh giá của Bộ Công Thương, ngày càng trầm trọng, tình trạng nhập siêu lớn cho nền kinh tế, ảnh hưởng tới ổn định kinh tế vĩ mô của đất nước. Theo số liệu ước tính của Bộ Công Thương, đến năm 2020 cả nước sẽ thiếu hụt khoảng 15 triệu tấn thép thô, đến năm 2025, thiếu hụt sẽ vượt mức 20 triệu tấn thép thô.

Đầu tháng 3/2016, Bộ Công Thương đã ra quyết định áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời đối với mặt hàng phôi thép và thép dài nhập khẩu vào Việt Nam với mức thuế tự về lần lượt là 15,4% đối với thép dài và 23,3% đối với phôi thép. Tuy nhiên, đối phó với mức thuế bị áp, thép ngoại đã “lách” bằng cách kê khai mặt hàng thép dây cuộn, một trong những sản phẩm thuộc đối tượng áp thuế tự vệ thương mại sang mã HS khác.

Thực trạng này đã được Hiệp hội Thép Việt Nam chỉ ra trong văn bản gửi Bộ Tài chính. Cụ thể, Hiệp hội Thép dẫn chứng, kim ngạch nhập khẩu mặt hàng thép thuộc mã hàng phải áp dụng thuế tự vệ 10 tháng đầu năm 2016 giảm, chỉ bằng 69,87% so với cùng kỳ và bằng 58,22% so với cả năm 2015. Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu mặt hàng thép thuộc mã hàng không chịu thuế tự vệ 10 tháng đầu năm 2016 tăng mạnh bằng 155,91% so với cùng kỳ và bằng 129,93% so với cả năm 2015.

Phản hồi về nội dung này, Bộ Tài chính nhận định rằng, có hiện tượng tăng nhập khẩu các mặt hàng thép không chịu thuế tự vệ và giảm nhập khẩu đối với thép chịu thuế tự vệ và cho biết, trước phản ánh nhập khẩu thép cuộn ồ ạt từ nước ngoài vào Việt Nam và nghi ngờ lẩn tránh thuế tự vệ, Bộ Tài chính đã đang chỉ đạo các đơn vị trong ngành tăng cường chống buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế đối với các mặt hàng này và để đạt được hiệu quả cần sự phối hợp với doanh nghiệp, Hiệp hội Thép.

Bước sang năm 2017, về kế hoạch Bộ Công Thương cho biết dự kiến sản lượng sắt thép thô đạt 5,5 triệu tấn, tăng 16,6% so với ước thực hiện năm 2016, sản lượng thép cán đạt 5,8 triệu tấn, tăng 18% so với ước thực hiện năm 2016 đáp ứng đủ nhu cầu thép trong nước và xuất khẩu. Như vậy tổng sản lượng thép các loại dự kiến trong năm 2017 ngành này đạt ước khoảng 11,3 triệu tấn.

Bộ Công Thương nhấn mạnh trong năm nay sẽ áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại để bảo đảm cạnh tranh công bằng với hàng nhập khẩu nhưng theo dõi sát tác động của các biện pháp này tới sản xuất, tiêu dùng trong nước để có sự điều chỉnh kịp thời, nếu cần. Đồng thời bảo đảm hỗ trợ hợp lý cho sự phát triển của ngành thép trong dài hạn. Để triển khai kế hoạch năm, Bộ Công Thương chỉ đạo các doanh nghiệp ngành thép cần tiếp tục nỗ lực đổi mới công nghệ, tiết kiệm chi phí nhằm nâng cao hơn nữa khả năng canh tranh để có thể vượt qua giai đoạn khó khăn hiện nay. Và theo dự báo của Hiệp hội Thép, ngành công nghiệp thép năm 2017 của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trưởng, ước khoảng 12%.

XI MĂNG

Tổng sản lượng tiêu thụ xi măng năm 2016 đạt 76 triệu tấn, hoàn thành kế hoạch đề ra


Trong vòng vài 3 năm trở lại đây, thị trường sản xuất và tiêu thụ xi măng luôn nằm trong trạng thái bình ổn và có xu hướng phát triển năm sau cao hơn năm trước. Với sự ấm lên của thị trường bất động sản cùng với hàng loạt các dự án xây dựng đang được triển khai, trong 2 năm 2015 và 2016, thị trường xi măng đã đạt được những kết quả khả quan.

Trong 6 tháng đầu năm 2016, lượng sản xuất xi măng ước đạt khoảng 32,4 triệu tấn, tăng 4,1 triệu tấn (tương đương 14,5%) so với cùng kỳ năm trước; lượng tiêu thụ cũng khả quan, với 29,92 triệu tấn, tăng 3,9 triệu tấn so cùng kỳ.

Theo báo cáo của Tổng công ty Xi măng Việt Nam, giá xi măng trong nước 6 tháng đầu năm 2016 không có nhiều biến động. Nguyên nhân là do giá nguyên vật liệu đầu vào, chi phí sản xuất cơ bản ổn định nên các nhà máy sản xuất kinh doanh xi măng cơ bản giữ ổn định giá bán. Cụ thể giá bán tại nhà máy của các công ty xi măng thuộc Tổng công ty Công nghiệp xi măng Việt Nam trong 6 tháng của năm 2016 thường đứng ở mức: trên 1.200.000 đ/tấn (Giá giao trên phương tiện bên mua tại nhà máy và đã có thuế GTGT). Trên thị trường, theo báo cáo của Sở Tài chính các tỉnh, thành phố cho biết tại các tỉnh miền Bắc, miền Trung phổ biến từ 1.050.000 - 1.550.000 đồng/tấn; tại các tỉnh miền Nam phổ biến từ 1.460.000 - 1.850.000 đồng/tấn.

Thị trường xi măng 6 tháng cuối năm nhìn chung cũng không có nhiều biến động. Vừa qua, Bộ Xây dựng đã báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh, đầu tư ngành xi măng trong 11 tháng đầu năm 2016. Căn cứ dự báo kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2016 và các chính sách đầu tư phát triển, Bộ Xây dựng đã tính toán nhu cầu xi măng năm 2016 khoảng 75 - 77 triệu tấn, tăng 3,2 - 6% so với năm 2015. Trong đó tiêu thụ xi măng trong nước khoảng 59 - 60 triệu tấn, tăng 4,5% - 6,3%, xuất khẩu xi măng đạt 16 - 17 triệu tấn, tương đương năm 2015.

Tính đến hết tháng 11 năm 2016, cả nước có 78 dây chuyền sản xuất xi măng lò quay vận hành với tổng công suất là 86,16 triệu tấn. Sản lượng tiêu thụ xi măng 11 tháng đầu năm 2016 là 68,46 triệu tấn, tăng 6% so với cùng kỳ, đạt 90% so với kế hoạch. Xuất khẩu xi măng 11 tháng năm 2016 là 13,97 triệu tấn, giảm 6% so với cùng kỳ năm 2015. Dự kiến tổng sản lượng xi măng tiêu thụ năm 2016 khoảng 76 triệu tấn, tăng 5% so với cùng kỳ, đạt 100% so với kế hoạch. 

Trong năm 2016,  sự sụt giảm của thị trường xi măng xuất khẩu là do sản lượng dư thừa xi măng của Trung Quốc lớn, giá xuất khẩu lại quá thấp nên đã tạo ra sự cạnh tranh quyết liệt đối với sản phẩm xi măng xuất khẩu của Việt Nam. Vì vậy, các doanh nghiệp không mặn mà với xuất khẩu xi măng.

Hiện nay, sản phẩm xi măng Việt Nam đã có mặt tại 17 nước, trong đó lớn nhất vẫn là thị trường Bangladesh và Indonesia.

Nhìn lại gần một năm phát triển của thị trường xi măng, Ông Nguyễn Quang Cung - Chủ tịch Hiệp hội XM Việt Nam cho biết, với dự báo tiêu thụ trong nước năm 2020 khoảng 82 triệu tấn, trong vòng vài năm tới đây Việt Nam sẽ dư thừa 36 - 47 triệu tấn xi măng. Theo ông Cung, sự dư thừa này có thể bắt đầu từ năm 2017. Và đương nhiên áp lực cạnh tranh tiêu thụ nội địa tiếp tục gia tăng, các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh xi măng sẽ tiếp tục “cuộc chiến” giành giật thị phần đầy căng thẳng.

XĂNG DẦU

Xăng dầu đã có 10 lần giảm giá và 13 lần tăng giá trong năm 2016


Biến động thị trường xăng dầu trong nước gắn liền với biến động của thị trường thế giới. Năm 2016, giá xăng dầu đã chính thức khép lại sau đợt điều chỉnh cuối cùng vào ngày 20/12 vừa qua với mức tăng cao nhất từ đầu năm tới nay. Cụ thể, xăng RON 92 đã tăng thêm 919 đồng/lít lên mức tối đa 17.594 đồng/lít. Giá xăng sinh học E5 cũng tăng 800 đồng/lít lên mức tối đa 17.322 đồng/lít.

Các chuyên gia lo ngại, giá xăng tăng sốc là nguy cơ đòn bẩy cho nhiều mặt hàng, dịch vụ ăn theo tăng giá, khiến thị trường hàng hóa, dịch vụ cuối năm càng xáo động hơn. Chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long cho rằng việc tăng giá xăng dầu là bất khả kháng, nhưng đề phòng phản ứng dây chuyền bởi giá xăng dầu là giá đầu vào của vận tải, vận chuyển hàng hóa, tránh hiện tượng té nước theo mưa.

Từ đầu năm đến nay, giá xăng trong nước có 23 lần điều chỉnh với 10 lần giảm giá và 13 lần tăng giá. Giá xăng thấp nhất trong năm 2016 là 13.750 (21-3-2016) và cao nhất năm 2016 là 17.590 (20-12-2016).

Đại diện Vụ Thị trường trong nước, Bộ Công Thương khẳng định, giá xăng dầu trong nước đã theo sát diễn biến giá thế giới. Với mục tiêu kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, phương án điều hành giá xăng dầu sẽ đảm bảo có sự điều tiết hài hòa của Nhà nước thông qua công cụ thuế, quỹ bình ổn. 

Theo dự báo, trong năm 2017, có nhiều yếu tố bất lợi tạo sức ép lên giá cả, trong đó không thể bỏ qua khả năng tăng giá xăng dầu. Mấy năm gần đây, việc điều hành giá cả đã trở nên nhịp nhàng, uyển chuyển hơn. Cụ thể, không đồng loạt tăng giá xăng dầu, giá điện trước Tết. Cũng theo đại diện Vụ thị trường trong nước, mặt hàng giá xăng dầu trong nước bình quân cả năm 2017 có thể cao hơn mức bình quân năm 2016 nhưng mức tăng không quá lớn, dưới 10%.

Trong một diễn biến khác, báo cáo của Tổng cục Hải quan cho thấy, tính đến hết tháng 11-2016, cả nước nhập khẩu 10,6 triệu tấn xăng dầu các loại với trị giá là 4,3 tỉ đô la Mỹ, tăng 16,9% về lượng nhưng giảm 12,7% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.

GAS

Giá gas năm 2016: 6 lần tăng, 6 lần giảm


Thị trường gas năm 2016 không có nhiều đột biến, giá gas trong nước được điều chỉnh theo diễn biến giá nhập khẩu trên thị trường thế giới.

Ngay từ khi bước vào đầu năm mới, giá gas đã được điều chỉnh giảm mạnh. Theo đó, mức giảm là 2.583 đồng một kg (tương đương 31.000 đồng với bình 12 kg). Như vậy giá mỗi bình 12kg đến tay người tiêu dùng dao động từ 276.500 đồng đến 287.000 đồng.

Sang tháng 2, theo công bố của các đầu mối kinh doanh, giá gas lại tiếp tục xu hướng giảm. Với mức giá gas thế giới bình quân tháng 2/2016 là 300 USD/tấn, giảm 67,5 USD/tấn so với tháng 1/2016, giá gas trong nước được điều chỉnh xuống còn 250 – 260 nghìn đồng/bình 12 kg (tương đương giảm 1.780 nghìn đồng/kg).

Chấm dứt xu hướng giảm giá, bước sang tháng 3 và tháng 4 giá gas đã tăng trở lại. Ông Trần Văn Phúc, Trưởng phòng Kinh doanh gas Saigon Petro cho biết: “Kể từ ngày 1/3, giá gas sản phẩm tăng 125 đồng/kg (đã có VAT) tương đương 1.500 đồng/bình 12 kg so với giá hiện hành”. Theo lý giải thì giá gas tháng 3 tăng là do giá thế giới tăng lên 5 USD so với tháng 2 (ở mức 305 USD/tấn). Còn trong tháng 4, giá gas đã tăng 791,67 đồng/kg (tương đương mức tăng 9.500 đồng/bình 12kg so với tháng 3/2016).

Giá gas đã tăng nhẹ thêm hơn 400 đồng/kg, tương đương khoảng 5.000 đồng/bình 12 kg từ ngày 1/5/2016. Cụ thể, giá gas bán lẻ tối đa của các thương hiệu Pacific Petro, City Petro không vượt quá 281.000 đồng/bình 12 kg; bình Eff gas không vượt quá 296.000 đồng/bình 12,5 kg. Tại thời điểm này, bình quân giá gas thế giới đứng ở mức 352,5 USD/tấn.

Sau 3 tháng tăng liên tiếp, sang đến tháng 6, 7, 8/2016 giá gas đã liên tục giảm. Từ 1/6, với mức giảm 125 đồng/kg, giá gas đã giảm tương đương 1.500 đồng/bình 12kg so với cùng kỳ tháng trước. Mức giá bán lẻ đến tay người tiêu dùng tại khu vực phía Nam đứng ở mức trung bình khoảng 270.000 – 275.000 đồng đối với bình 12kg. Và từ 1/7, giá giảm tới 1.167 đồng/kg tương đương 14.000 đồng/bình 12 kg, giá bán lẻ tối đa đến người tiêu dùng là 258.000 đồng/bình 12 kg. Tháng 8/2016, giá gas giảm tiếp 375 đồng/kg, tương đương 4.500 đồng/bình 12kg so với tháng 7/2016.

Chấm dứt mạch giảm liên tục trong 3 tháng, bước sang đầu tháng 9 giá gas được công bố tăng 500 đồng/kg, tương đương 6.000 đồng/bình 12kg so với tháng 8/2016. Với mức giá thế giới bình quân ở khoảng 307,5 USD/tấn, giá gas đến tay người tiêu dùng trong tháng 9 là 259-260 nghìn đồng mỗi bình.

Mức giá tăng cao hơn khi bước sang tháng 10 và tháng 11. Với mức bật tăng tới 1.250 đồng/kg, mỗi bình gas trong tháng 10 đã tăng tương ứng 15 nghìn đồng và giá bán lẻ tối đa tới tay người dùng khu vực TPHCM là 274.500 đồng/bình 12kg”. Và từ 1/11, giá gas đã tăng 1.583 đồng/kg, tương đương 19.000 đồng mỗi bình (giá bán lẻ đã ở mức 300 nghìn đồng/bình).

Tháng kết thúc của năm 2016, sau 6 lần giảm và 6 lần tăng, giá gas bán lẻ trên thị trường đứng ở mức 291.000 đồng/bình 12 kg đến 300.500 đồng/bình 12 kg (giảm 2.500 đồng mỗi bình so với tháng 11). Tại thời điểm này, bình quân giá gas thế giới ở mức 400 USD/tấn, giảm 15 USD/tấn so với tháng 11/2016. 

Bước sang năm 2017, Hiệp hội Gas Việt Nam dự báo cung cầu gas của Việt Nam vào khoảng 1,84 triệu tấn, tăng 8% so với năm 2016.  Dự kiến nguồn nhập khẩu sẽ tiếp tục ổn định dồi dào. Nguồn sản xuất trong nước giữ ở mức 20%. Tỷ trọng hàng trong nước vào khoảng 45% và nhập khẩu khoảng 55%. Cũng theo Hiệp hội Gas Việt Nam, năm 2017, giá gas tăng giảm ở ngưỡng ổn định chứ không có nhiều biến động. Trong đó, giá thế giới dao động trong khoảng 318-518 USD/tấn. Giá bán trong nước vào khoảng 250.000-400.000 đồng/bình 12 kg, tùy từng thương hiệu.

Ô TÔ

Thị trường ô tô 2016: Xáo trộn bởi các chính sách thuế


Năm 2016 đã khép lại với những thay đổi lớn liên quan đến ngành công nghiệp và thị trường ô tô, xe máy Việt Nam, cùng một số quy định giao thông mới...

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, tính đến hết ngày 15-12-2016 số lượng ôtô nguyên chiếc cả nước nhập khẩu đạt 107.569 xe, với tổng giá trị kim ngạch đạt 2,221 tỉ USD. Trong đó hai dòng xe nhập khẩu nhiều nhất là xe dưới 9 chỗ ngồi với tổng giá trị kim ngạch 659 triệu USD và xe tải với 912,5 triệu USD.

Theo Hiệp hội các nhà sản xuất ôtô Việt Nam (VAMA), cả năm qua, người Việt đã mua 304.427 ôtô, tăng 27% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, doanh số xe du lịch tăng 27%, đạt hơn 182.000 chiếc; xe thương mại tăng 25%, hơn 106.000 chiếc; xe chuyên dụng tăng 33% với hơn 13.700 chiếc. Tính theo xuất xứ thì cả xe lắp ráp nội địa và xe nguyên chiếc nhập khẩu đều ghi nhận tăng trưởng. Tuy nhiên, doanh số xe lắp ráp tăng đến 32% (gần 230.000 chiếc), trong khi lượng xe nhập khẩu nguyên chiếc bán ra chỉ tăng 5% (hơn 765.4000 chiếc).

Riêng trong dịp cận Tết, đã có gần 33.300 ôtô được mua về để đón năm mới, tăng 17% so với tháng 11/2016 và tăng 13% so với cùng kỳ tháng 12/2015. Vì là cao điểm mua xe cá nhân nên doanh số xe du lịch tăng đến 27%, đạt hơn 22.800 chiếc. Trong khi đó, doanh số xe thương mại và xe chuyên dụng trong tháng qua chỉ đứng yên hoặc thậm chí là suy giảm. Với đà diễn biến lạc quan, VAMA dự báo doanh số của toàn thị trường ôtô năm nay sẽ tăng 10%, tức người Việt sẽ mua thêm gần 335.000 ôtô mới trong năm 2017.

Trong năm 2016, trở ngại đáng kể nhất trực tiếp kìm hãm tốc độ tăng trưởng của ôtô nhập khẩu  là chính sách thuế.

Trong đó, ngay từ ngày đầu năm ôtô nhập khẩu đã phải chịu cách tính giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt mới. Cụ thể, thuế tiêu thụ đặc biệt áp dụng đối với mặt hàng ôtô sẽ được tính trên giá bán buôn của nhà nhập khẩu thay vì cách tính trên giá CIF + thuế nhập khẩu như trước thời điểm 1/1/2016. Thay đổi này được tính toán là đã khiến giá thành ôtô nhập khẩu tăng lên khoảng 3%.

Đến giữa năm, kể từ ngày 1/7, mặt hàng ôtô tiếp tục chịu tác động mạnh từ chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt. Theo luật sửa đổi mới, thuế tiêu thụ đặc biệt tách thành nhiều mức khác nhau theo hướng giảm nhẹ hoặc giữ nguyên với xe có động cơ dung tích nhỏ và tăng mạnh với xe trang bị động cơ dung tích lớn.

Đáng kể nhất là mức thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ôtô trang bị động cơ có dung tích xi-lanh từ 3.0 lít trở lên, cá biệt là có những loại xe phải chịu mức thuế suất lên đến 150% thay vì mức tối đa 60% theo luật cũ.

Biến động theo chiều hướng bất lợi chủ yếu diễn ra ở thị trường xe nhập khẩu bởi đây là nhóm có tỷ lệ xe trang bị động cơ dung tích lớn nhiều nhất. Hầu hết các loại xe lắp ráp trong nước đều trang bị động cơ dung tích nhỏ không chịu ảnh hưởng nhiều hoặc thậm chí được hưởng lợi từ chính sách mới.

Điểm sáng của ôtô nhập khẩu nửa cuối năm 2016 sau khi chịu các mức thuế tiêu thụ đặc biệt mới chính là xe có xuất xứ từ khu vực Đông Nam Á, cụ thể là Thái Lan và Indonesia.

Nhóm xe này chủ yếu tham gia các phân khúc phổ thông và trang bị động cơ dung tích nhỏ, do đó vừa hưởng lợi từ chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt mới vừa được hưởng lợi từ lộ trình cách giảm thuế quan theo hiệp định ATIGA.

Đây cũng là một lý giải cho hiện tượng gia tăng chóng mặt của các loại ôtô nhập khẩu từ các nước Đông Nam Á. Theo thống kê của Tổng cục Hải quan (Bộ Tài chính), lượng ôtô nhập khẩu từ Thái Lan và Indonesia chiếm đến 2/3 tổng lượng ôtô nhập khẩu trong năm 2016.

Đánh giá về ảnh hưởng của việc giảm thuế NK, một chuyên gia trong ngành cho rằng trong năm 2017, thị trường xe sẽ chưa có biến động lớn về giá, kỳ vọng giá xe sẽ giảm khi thuế NK giảm sẽ không đạt được như người tiêu dùng mong muốn.

Dự báo về ngành kinh doanh và sản xuất ôtô trong năm 2017 này là nhu cầu nhập khẩu xe ôtô nguyên chiếc (bao gồm cả xe mới và xe cũ) sẽ tăng lên rất nhiều, đặc biệt đối với mặt hàng xe mới, khi đã có khá nhiều thương hiệu đang lắp ráp trong nước sẽ chuyển sang nhập khẩu nguyên chiếc, như Toyota Fortuner, Honda Civic, Ford Everest, Mitsubishi Pajero Sport..., bên cạnh toàn bộ phân khúc xe bán tải ở Việt Nam đã được nhập khẩu từ Thái Lan.

Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng cho rằng việc kinh doanh nhập khẩu ôtô trong năm 2017 tới đây sẽ có rất nhiều khó khăn do các cơ quan quản lí sẽ siết chặt các quy định về nhập khẩu, thông quan, trách nhiệm nghĩa vụ thuế..., sau những vụ việc xảy ra cuối năm 2016 và sẽ kéo dài sang năm 2017 với những quyết định truy thu thuế lên đến gần 1.000 tỉ đồng (thậm chí nhà phân phối BMW tại Việt Nam cũng đã chính thức bị khởi tố do hành vi gian lận thuế, lừa đảo khách hàng). Chính vì vậy, cũng đã có nhiều nhà nhập khẩu chính thức ôtô tại Việt Nam đưa ra các kiến nghị để có những phương án giữ cho thị trường ôtô Việt Nam duy trì được sự minh bạch, bảo vệ quyền lợi khách hàng.

DỆT MAY

Dệt may Việt Nam tăng trưởng thấp nhất trong 10 năm


Là ngành có tỷ trọng đóng góp lớn vào GDP cả nước, nhưng năm qua dệt may đã không có bước phát triển và đột phá như mong đợi. Đã có nhiều mục tiêu không đạt được, những khó khăn mới phát sinh, những bất cập tồn tại vẫn chưa được giải quyết. Lịch sử huy hoàng của ngành dệt may rất tiếc đã không kéo dài trong năm 2016.

Mục tiêu xuất khẩu dệt may đề ra hồi đầu năm là 31 tỷ USD tuy đã điều chỉnh xuống còn 29 tỷ USD nhưng vẫn không thể hoàn thành. Bộ Công Thương cho biết, Hiệp hội Dệt may Việt Nam đã đưa ra dự báo kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sẽ đạt khoảng 28,5 tỷ USD trong năm 2016, thấp hơn dự kiến khoảng 1,5 tỷ USD. So với kế hoạch đề ra, ngành dệt may đạt khoảng 92% kế hoạch. Như vậy ngành dệt may đã không đạt mục tiêu như đã đề ra. Cụ thể, tốc độ tăng trưởng chỉ đạt 5,2%, thấp nhất trong 10 năm gần đây. Tổng cầu thế giới yếu, giá sản phẩm giảm đang là một trong số những nguyên nhân khiến không ít các doanh nghiệp dệt may gặp khó khăn.

Khó khăn không chỉ đến với những doanh nghiệp vừa và nhỏ, mà ngay cả các công ty lớn cũng gặp nhiều bất lợi. Các nhà nhập khẩu từ Mỹ, châu Âu đều có xu hướng giảm lượng nhập khẩu ở Việt Nam và tìm đến thị trường có lao động, thuế quan rẻ hơn như Bangladesh, Myanmar hay Campuchia.

Cũng theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam, thị trường xuất khẩu chính hàng dệt may của Việt Nam trong năm nay vẫn là Trung Quốc với hơn 50% tổng lượng xuất khẩu. Tuy nhiên sau khi Thổ Nhĩ Kỳ áp thuế chống bán phá giá đối với mặt hàng dệt may của Việt Nam, thị trường Trung Quốc hiện có diễn biến khiến doanh nghiệp xuất khẩu sợi có thể gặp rủi ro khi quá phụ thuộc vào thị trường này.

Xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang Mỹ năm 2016 ước đạt 11,4 tỷ USD, tăng 4% so với năm 2015. Các thị trường xuất khẩu lớn khác của dệt may Việt Nam là EU, Nhật Bản, Ấn Độ, Brazil, Nga và Canada.

Trong năm 2016, về mặt khách quan, không phủ nhận sự kiện Brexit hay thông tin Mỹ có khả năng rút khỏi TPP đã tác động đến dệt may. Tuy nhiên, điều này hiện mới chỉ ảnh hưởng về mặt tâm lý. Ở chiều nội tại, bất lợi nhất đó là chi phí sản xuất cao, sản phẩm khó cạnh tranh về giá.

Bên cạnh đó, thị trường dệt may xuất khẩu gặp khó khăn trong thời gian qua ngoài những yếu tố đã nêu trên còn phải kể đến nguyên nhân bắt nguồn từ chính sách giữ tỷ giá của Việt Nam ổn định.

Nhiều doanh nghiệp cho biết, trong khi các đồng tiền khác ở những thị trường nhập khẩu chính đã điều chỉnh rất mạnh. Ngoài ra, lãi vay ngân hàng quá cao, ở mức 8% - 10%/năm, gấp từ 2 đến 4 lần so với nhiều nước. Những yếu tố này khiến hàng dệt may Việt Nam đắt hơn các nước đối thủ cạnh tranh từ 20% - 30%.

Ngoài ra, mới đây, Hội đồng Tiền lương Quốc gia đã quyết định điều chỉnh lương lương tối thiếu vùng tăng vào năm 2017 là 7,3%. Nhiều doanh nghiệp dệt may trong nước cho rằng, quyết định tăng lương sẽ tiếp tục là gánh nặng cho doanh nghiệp dệt may khi những khó khăn của ngành dệt may chưa được tháo gỡ.

Trong năm 2017, dự báo tổng cầu thế giới vẫn tăng trưởng chậm. Khó khăn song ngành dệt may vẫn đặt mục tiêu xuất khẩu cao hơn năm nay. Định hướng trong năm mới sẽ đẩy mạnh chuyển từ lượng sang chất. Mua tận gốc bán tận ngọn. Đầu tư cả khâu thiết kế, mẫu mã, vận chuyển chứ không chỉ gia công. Hơn nữa, ngoài TPP vẫn có hàng chục hiệp định thương mại tự do mở ra dư địa cho xuất khẩu. Nếu tận dụng tốt các lợi thế trên, dệt may kỳ vọng sớm trở lại thời kỳ hoàng kim.

LÚA GẠO

1 năm buồn cho hạt gạo Việt


Năm 2016 qua đi với rất nhiều khó khăn cho các nước xuất khẩu gạo. Đặc biệt Việt Nam được  xem là chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi các đơn hàng sụt giảm do nguồn cung giảm và nhu cầu thấp từ các thị trường chính.

Theo báo cáo mới nhất của Bộ NN&PTNT, khối lượng xuất khẩu gạo của Việt Nam năm 2016 đạt gần 4,9 triệu tấn với trị giá 2,2 tỉ USD, giảm 26% về khối lượng và giảm 21% về giá trị so với năm 2015. Như vậy, đây là năm xuất khẩu gạo đạt thấp nhất trong vòng năm năm trở lại đây. Cụ thể, năm 2012, được ghi nhận là năm có khối lượng xuất khẩu gạo lớn nhất với 8,1 triệu tấn với 3,7 tỉ đô la Mỹ.

Trung Quốc vẫn tiếp tục đứng vị trí thứ nhất về thị trường nhập khẩu gạo của Việt Nam với 36% thị phần. Xuất khẩu gạo sang thị trường này giảm 21% về khối lượng và giảm 12% về giá trị so với năm ngoái.

Nhiều thị trường có giá trị xuất khẩu gạo giảm mạnh trong năm qua như Philippines (giảm 65%), Malaysia (giảm 48%), Mỹ (giảm 33%), Singapore, Indonesia, Bờ Biển Ngà và Hong Kong đều đồng loạt giảm tiêu thụ gạo Việt trong năm 2016. Như vậy, sản lượng xuất khẩu gạo cả năm thấp hơn tới 1,6 triệu tấn so với dự báo mà Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) đưa ra từ đầu năm.

Về giá, năm nay giá bán gạo trung bình lại cao nhất trong trong vòng 5 năm qua (tính theo số liệu trung bình 11 tháng của mỗi năm). Cụ thể, giá gạo xuất khẩu bình quân 11 tháng đầu năm 2016 đạt 488 đô la Mỹ/tấn, còn của năm 2015 là gần 426 đô la Mỹ/tấn, thấp nhất là năm 2012 với mức giá trung bình 457 đô la Mỹ/tấn.

Dù giá gạo xuất khẩu tăng nhưng giá lúa gạo trên thị trường nội địa nhìn chung giảm.

Tính chung cả năm, lúa IR50404 tại An Giang đã giảm 450 đồng/kg, từ 4.850 đồng/kg xuống 4.400 đồng/kg; lúa IR50404 tại Vĩnh Long giảm 400-500 đồng/kg, từ 4.800 đồng/kg xuống 4.300-4.400 đồng/kg; lúa tẻ thường tại Kiên Giang giảm 500 đồng/kg, từ 5.900 đồng/kg xuống 5.400 đồng/kg; lúa dài từ 6.100 đồng/kg xuống 5.800 đồng/kg.

Trong năm 2016, gần như quý nào nước ta cũng xảy ra thiên tai và đều ở mức độ khốc liệt. Đầu năm, trận rét đậm, rét hại lịch sử trong vòng 60 năm trở lại đây xảy ra ở 14 tỉnh miền núi phía Bắc, gây ra thiệt hại rất lớn cho sản xuất nông nghiệp. Sau đó, đợt hạn hán lớn ở các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, cùng với đó là hạn, mặn lịch sử trong vòng 100 năm ở Đồng bằng sông Cửu Long. Gần đây nhất là từ đầu tháng 10/2016 đến nay, 8 tỉnh Nam Trung Bộ hứng chịu 5 đợt mưa lũ lịch sử với lượng mưa lên đến 2.300 mm - 2.700 mm. Do chịu thiệt hại nặng nề của thiên tai và sự cố môi trường biển ở 4 tỉnh miền Trung nên 6 tháng đầu năm, tăng trưởng ngành nông nghiệp đã giảm 0,18%. Nghành sản xuất lúa gạo cũng bị ảnh hưởng nặng nề. Theo báo cáo về tình hình hạn mặn, xâm nhập mặn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại Hội nghị giao ban công tác ứng phó với hạn hán, xâm nhập mặn ở ĐBSCL vào tháng 4-2016, hạn hán và xâm nhập mặn đã làm toàn vùng thiệt hại trên 208.000 héc ta lúa, sản lượng lúa giảm 700.000 tấn, tương đương khoảng 350.000 tấn gạo. Thực trạng này khiến giá lúa gạo trong nước tăng mạnh.

Nhằm tháo gỡ những khó khăn về thị trường xuất khẩu gạo, mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ đạo về việc đẩy mạnh thu mua, tiêu thụ lúa gạo hàng hóa cho người dân. Thủ tướng chỉ đạo Bộ NN&PTNT có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và VFA phân tích tình hình xuất khẩu gạo tại các thị trường, xác định rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan, điểm yếu, hạn chế để có những biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu gạo phù hợp nhằm phát triển thị trường xuất khẩu gạo. Đặc biệt, rà soát tình hình thu mua, tiêu thụ lúa gạo hàng hóa, đề xuất giải pháp cụ thể, phân tích rõ các khó khăn vướng mắc tại các thị trường tập trung, tận dụng các khả năng tiếp cận thị trường, thâm nhập vào các thị trường khó tính, đẩy mạnh xuất khẩu thông qua các hiệp định thương mại đã ký kết cũng như tích cực thu mua lúa gạo ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Bước sang năm 2017, theo Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin (Bộ Công Thương), thương mại gạo được dự báo sẽ tăng lên do nhu cầu cao từ châu Á và Trung Đông. Xuất khẩu gạo của Việt Nam cũng được dự báo tăng nhưng ít có khả năng đạt được mức như những năm trước.

THỦY SẢN

Dù thiếu nguyên liệu, xuất khẩu cá tra đạt 1,67 tỷ USD, tăng 6,6% so với năm 2015


Vượt qua những khó khăn về thị trường xuất khẩu, bất lợi do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, sự cố môi trường biển, năm 2016, thủy sản tiếp tục khẳng định là ngành hàng xuất khẩu mũi nhọn lớn nhất trong kim ngạch của toàn ngành, với giá trị 7 tỉ USD.

Tổng sản lượng thủy sản cả năm ước đạt hơn 6,7 triệu tấn; trong đó, tỷ trọng sản lượng nuôi trồng chiếm hơn 54%, cao hơn năm ngoái. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản tăng 6,5%.

Theo Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Vũ Văn Tám, năm 2017, ngành tiếp tục phát huy thế mạnh về nuôi tôm nước lợ và cá tra tiếp tục đóng góp vào tăng trưởng ngành nông nghiệp.

Năm 2016 tiếp tục là một năm nhiều khó khăn với cá tra, mặt hàng thủy sản chủ lực đứng hàng thứ 2 sau con tôm. Tại thị trường lớn nhất là Mỹ, cá tra phải đối mặt với rào cản thương mại thuế chống bán phá giá. Ở thị trường EU, cá tra bị cạnh tranh mạnh mẽ bởi các loại cá thịt trắng khác nên NK cá tra tiếp tục giảm sút. Ở nhiều thị trường tiềm năng như Mexico, Brazil, Colombia, Ảrập Xêút..., XK cá tra Việt Nam cũng bị suy giảm đáng kể.

Trong bối cảnh ấy, XK cá tra đến hết tháng 10 vẫn đạt mức tăng trưởng 6,4% và đạt 1,39 tỷ USD. Sự tăng trưởng ấy có đóng góp lớn từ thị trường Trung Quốc. Trong 10 tháng đầu năm 2016, Trung Quốc đã NK cá tra Việt Nam với giá trị tới 235,5 triệu USD, tăng 76,1% so với cùng kỳ 2015. Qua đó, Trung Quốc đã vươn lên trở thành thị trường lớn thứ 2 của cá tra Việt Nam. XK cá tra sang Trung Quốc tăng mạnh là nhờ các yếu tố như giá rẻ, phù hợp để chế biến các món fastfood dùng trong nhà hàng, khách sạn, bếp ăn tập thể, suất ăn trên máy bay.

Do chương trình thanh tra cá da trơn chưa ảnh hưởng tới XK cá tra Việt Nam vào Mỹ trong năm 2016, cộng với nhu cầu tăng, nên trong 10 tháng đầu năm 2016, XK cá tra vào nước này vẫn đạt 319,8 triệu USD, tăng 22,7%. Nhờ vậy, Mỹ vẫn là thị trường lớn nhất của cá tra Việt Nam. Tuy nhiên, với sự tăng trưởng mạnh ở thị trường Trung Quốc, đã có những dự báo cho rằng trong năm 2017, Mỹ sẽ phải nhường vị trí đó cho Trung Quốc.

Nhờ tăng trưởng XK tốt ở Trung Quốc và Mỹ, mà cá tra đã giảm bớt được khó khăn về đầu ra khi một thị trường lớn là EU tiếp tục ảm đạm. Dự báo trong cả năm 2016, giá trị XK cá tra sang EU giảm tới 12% so năm 2015. Còn tại các thị trường tiềm năng khác như ASEAN, Mexico, Brazil, Colombia…, XK cá tra vẫn chưa có sự ổn định.

Theo dự báo của VASEP, trong cả năm 2016, giá trị XK cá tra sẽ đạt 1,66 tỷ USD, tăng 6,4% so với năm 2015.

Tại thị trường nội địa, ngành cá tra đang phải đối mặt với bài toán nguồn nguyên liệu. Trong năm 2016, tình trạng lúc thừa lúc thiếu nguồn nguyên liệu cá tra là nguyên nhân khiến nguồn cung cá tra của Việt Nam không ổn định, giảm tính cạnh tranh trên trường quốc tế. Nếu như năm 2015, cá tra nguyên liệu đã có thời gian dài giảm xuống mức kỷ lục, dưới 20.000 đồng/kg, xấp xỉ giá thành sản xuất thì sang năm 2016, tình trạng giá bị đẩy lên cao liên tục, dẫn tới người nuôi lại “đổ” đi nuôi cá tra. Đến tháng 8/2016, giá cá tra đã xuống mức thấp nhất trong nhiều năm qua, từ 18.500-19.000 đồng/kg, song lượng tiêu thụ vẫn rất chậm. Đầu tháng 10 vừa qua, giá cá tra ở Đồng bằng sông Cửu Long liên tục tăng mạnh, ở mức 22.200-22.500 đồng/kg. Và mức giá trên đã duy trì liên tục cho đến hết năm 2016.

Mặc dù vậy, theo dự báo của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam, các doanh nghiệp cá tra vẫn thiếu nguyên liệu cho xuất khẩu thời gian tới. Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu cũng lo lắng dự đoán, có thể từ nay đến hết tháng 2/2017, lượng cá tra nuôi tại Đồng bằng sông Cửu Long không đủ cho chế biến và xuất khẩu. Do nguồn cung thiếu nên giá cá tra sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới.

2016: Kim ngạch XK tôm đạt 3,1 tỷ USD, tăng 5% so với năm trước

Năm 2015, XK tôm giảm tới 25% về giá trị so với 2014. Đó là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến cho XK thủy sản cả năm 2015 không đạt 7 tỷ USD và giảm nhiều so với năm trước đó, bởi nhiều năm qua, tôm luôn là sản phẩm XK số 1 của thủy sản Việt Nam.

Sang năm 2016, XK tôm đã tăng trưởng trở lại. Đến hết tháng 10, XK tôm đạt 2,58 tỷ USD, tăng 5,2% so với cùng kỳ 2015, và chiếm 45% giá trị XK thủy sản. XK tôm tăng trưởng nhờ vào 3 thị trường lớn là Mỹ, EU và Trung Quốc.

Trong đó, Mỹ vẫn là thị trường lớn nhất của tôm Việt Nam khi chiếm 23,4% giá trị XK tôm trong 10 tháng đầu năm 2016. Hiện Việt Nam đang đứng thứ 4 trong số những nước XK tôm vào Mỹ. Điều đáng chú ý là trong nửa đầu năm 2016, trong khi nhiều nước XK tôm lớn như Indonesia, Ấn Độ, Thái Lan và Ecuador đều giảm về giá trị XK tôm vào Mỹ, thì Việt Nam vẫn tăng trưởng.

Xuất khẩu tôm sang Mỹ tăng có nguyên nhân quan trọng từ việc nguồn cung tại nhiều nước như Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan và Ecuador gặp khó khăn. Do nguồn cung suy giảm nên giá tôm XK sang Mỹ đã được cải thiện hơn so với năm 2015.

Trong 10 tháng đầu năm 2016, chỉ có 2 tháng XK tôm sang Mỹ giảm nhẹ là tháng 6 (giảm 1,5%) và tháng 10 (giảm 1,1%) so cùng kỳ 2015. Còn các tháng khác đều tăng trưởng. Đặc biệt, trong quý III, giá trị XK tôm của từng tháng đều cao hơn các tháng quý I và quý II, với giá trị đạt 65 - 85 triệu USD/tháng. Nhờ đó, giá trị XK tôm sang Mỹ trong quý 3 đạt 221,3 triệu USD, tăng lần lượt 51% và 45,4% so với quý II và quý I, đồng thời tăng 17,2% so quý III/2015.

Dù Bộ Thương mại Mỹ đã công bố kết quả cuối cùng của đợt xem xét hành chính thuế CBPG lần thứ 10 (POR 10) với mức thuế áp cho tôm đông lạnh Việt Nam là khá cao, nhưng phải sang năm 2017, kết quả này mới ảnh hưởng đến XK tôm Việt Nam. Vì vậy, trong quý IV/2016, XK tôm sang Mỹ vẫn tiếp tục tăng trưởng.

Nhu cầu tiêu thụ tôm tăng lên ở EU, trong khi lượng tôm tồn kho giảm, cũng đã tạo điều kiện thuận lợi để các DN Việt Nam gia tăng giá trị XK tôm vào thị trường này trong năm 2016. Nguồn cung giảm từ nhiều nước XK tôm lớn, cộng với nhu cầu tăng cao ở thị trường Trung Quốc, cũng là những tác nhân quan trọng, góp phần không nhỏ vào tăng trưởng về giá trị XK tôm Việt Nam sang EU, khi giá tôm tăng lên.

Trung Quốc là thị trường có sự tăng trưởng mạnh nhất đối với XK tôm Việt Nam trong năm 2016. Đến hết tháng 10, giá trị XK tôm sang Trung Quốc tăng 24,7% so với cùng ỳ 2015. Sản lượng tôm nội địa của Trung Quốc giảm mạnh do dịch bệnh là nguyên nhân chính khiến các thương nhân nước này phải tăng mạnh NK tôm từ Việt Nam. Dự báo trong cả năm 2016, sản lượng tôm của Trung Quốc chỉ vào khoảng 1,2 - 1,3 triệu tấn, giảm mạnh so với mức 1,5 triệu tấn của năm 2015.

Tại một số thị trường quan trọng khác, nhu cầu tiêu dùng tôm tăng lên trong những tháng cuối năm, cũng góp phần không nhỏ vào tăng trưởng XK của tôm Việt Nam. Như vào tháng 10/2016, XK tôm Việt Nam đã tăng trưởng trở lại với mức tăng tới 8,7%. Dự báo trong cả năm 2016, XK tôm sang Nhật Bản có thể tăng nhẹ khoảng 3% và đạt 601 triệu USD.

Với những kết quả khả quan như trên, VASEP dự báo năm 2016, kim ngạch XK tôm đạt 3,1 tỷ USD, tăng 5% so với năm trước.

HẠT TIÊU

Xuất khẩu hạt tiêu tăng mạnh cả về lượng và kim ngạch


Năm 2016 là một năm khởi sắc của ngành sản xuất hạt tiêu khi xuất khẩu tiêu tăng mạnh cả về lượng và giá trị.

Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, khối lượng hạt tiêu xuất khẩu 11 tháng đầu năm 2016 đạt 168.494 tấn, tương đương 1,36 tỷ USD, tăng 36% về khối lượng và tăng 14,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015.

Ước tính tháng 12 ước đạt 8 nghìn tấn, giá trị 63 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu tiêu năm 2016 lên 177 nghìn tấn, thu về 1,42 tỷ USD (tăng 34,3% về khối lượng và tăng 12,9% về giá trị so với năm 2015).

Giá tiêu xuất khẩu bình quân 11 tháng năm 2016 đạt 8.062 USD/tấn, giảm 15,8% so với cùng kỳ năm 2015. Các thị trường xuất khẩu tiêu lớn nhất của Việt Nam trong 11 tháng năm 2016 là Hoa Kỳ (327,4 triệu USD, chiếm 24,1% tổng kim ngạch), các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất 91 triệu USD, chiếm 6,7%), Ấn Độ (79,2 triệu USD, chiếm 5,8%) và Đức (64,1 triệu USD, chiếm 4,7%). Các thị trường có giá trị xuất khẩu tăng mạnh là Pakistan (tăng 213,9% so cùng kỳ), Philippin (198%), Thổ Nhĩ Kỳ (tăng 40%), Nam Phi (tăng 36%), Hoa Kỳ (31,3%).

Tại thị trường trong nước, giá hạt tiêu tháng 12/2016 diễn biến khá phức tạp, nhưng nhìn chung giá thu mua hạt tiêu đen trong nước phục hồi tăng khoảng 5.000 đ/kg so với tháng 11 và hiện đang ở mức khoảng 135.000-140.000 đồng/kg. Việc nông dân ngừng bán ra khi giá tiêu rớt mạnh trong tháng 11 đã đẩy giá tiêu tăng trở lại phần nào. Tính trung bình trong tháng 12/2016, giá thu mua tiêu đen xô tại các tỉnh trồng tiêu trọng điểm Gia Lai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Đắk Lắk, Đồng Nai lần lượt ở mức 138.600 đồng/kg, 142.000 đồng/kg, 138.900 đồng/kg, 139.600 đồng/kg.

Kể từ đầu năm đến nay, thị trường hồ tiêu trong nước trải qua nhiều biến động, có lúc giảm mạnh xuống chỉ còn 130.000 đồng/kg (giữa tháng 3/2016) và tăng lên 180.000 đồng/kg (tháng 5/2016), nhưng từ tháng 8 đến nay, giá có xu hướng giảm dần. Thực tế cho thấy đến thời điểm này, dù giá tiêu giảm so với cùng kỳ năm 2015 từ 30-40 ngàn đồng/kg nhưng đa phần nông dân cho rằng trồng tiêu vẫn thu lợi nhuận cao. Hiện nay, phần lớn các hộ trồng vẫn còn trữ tiêu với kỳ vọng giá tiêu tăng so với đầu vụ. Tuy nhiên, thời điểm gần cuối năm giá tiêu lại đang đi xuống, chỉ khoảng 139.000 đồng/kg tiêu đen (giá cổng trại) nên khá nhiều nông dân vẫn tiếp tục găm hàng và chưa bán ra.

Do ảnh hưởng của hạn hán đầu năm tại Tây Nguyên nên năng suất cây hồ tiêu vùng này giảm 6,4% so với năm 2015, nhưng do diện tích tăng mạnh (diện tích gieo trồng tăng 22,5%, diện tích cho sản phẩm tăng 30,7%) nên sản lượng hồ tiêu tăng 9,4% so cùng kỳ 11%.

HẠT ĐIỀU

Xuất khẩu điều năm 2016 đạt mức kỷ lục 2,7 tỷ USD


Theo Hiệp hội Điều Việt Nam, ước tính năm nay Việt Nam sẽ xuất khẩu đạt 300.000 tấn hạt chế biến. Giá trị xuất khẩu cả năm nay có thể đạt mức kỷ lục 2,7 tỷ USD, vượt qua mức kỷ lục của năm ngoái là 2,4 tỷ USD.

Còn theo báo cáo mới nhất của Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) cho thấy, khối lượng điều xuất khẩu của Việt Nam tháng 11 ước đạt 29.000 tấn với giá trị đạt 257 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu điều 11 tháng đầu năm đạt 320.000 tấn nâng giá trị xuất khẩu lên gần 2,6 tỷ USD, tăng 6,2% về khối lượng và 18,3% về giá trị so với cùng kỳ.

Với kết quả này, năm 2016 Việt Nam sẽ tiếp tục duy trì thị phần trên 50% tổng giá trị thương mại trên toàn cầu. Tuy nhiên, theo nhận định của các chuyên gia sản lượng và giá trị của ngành điều Việt Nam tăng trong thời gian qua dù là tín hiệu đáng mừng song chưa bền vững.

Về giá thành, giá hạt điều khô bắt đầu tăng mạnh từ đầu quý 2 năm nay, leo một mạch từ 37.000 đồng/kg lên 55.000 đồng/kg trong vòng năm tháng. Và càng đến thời điểm cuối năm, giá điều khô do ảnh hưởng bởi nhu cầu Giáng sinh, Lễ tết nên giá luôn giữ vững ở mức cao. Ngoài ra, hai quốc gia có lượng điều lớn là Ấn Độ và Bờ Biển Ngà đang hạn chế xuất khẩu, hầu hết các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu nhân điều VN đều có đơn hàng lớn, cầu vượt cung nên đẩy giá lên.

Tuy nhiên, nhiều nông dân cho biết lại không được hưởng lợi, bởi phần lớn đã bán hạt điều tươi ngay sau khi thu hoạch và cây điều năm nay mất mùa, chỉ đạt năng suất khoảng 1-2 tấn/ha, bằng 60% mọi năm.

Tính đến thời điểm hiện tại, 60 -70% lượng điều chế biến xuất khẩu trong nước vẫn đang phải nhập khẩu từ Campuchia, một số nước châu Phi... nên chất lượng và số lượng khá bấp bênh, khó kiểm soát. Hơn nữa nhìn vào cơ cấu hàng hóa xuất khẩu, vẫn chủ yếu là xuất thô, nên hàm lượng giá trị gia tăng rất thấp.

Theo ông Nguyễn Đức Thanh, Chủ tịch Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas), bài toán phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu đến nay vẫn chưa thể giải quyết triệt để bởi có những thời điểm giá thu mua nguyên liệu xuống thấp, người nông dân trồng điều lại chặt bỏ để trồng loại cây khác khiến diện tích ngày càng bị thu hẹp.

Việc nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài khiến cho các DN chế biến xuất khẩu khó kiểm soát chất lượng dẫn đến giảm giá trị hàng hóa thương phẩm điều của Việt Nam. Bên cạnh đó, việc các DN chưa chú trọng xây dựng thương hiệu cho sản phẩm điều chế biến trong nước cũng là một hạn chế cần được sớm khắc phục.

CAO SU


Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, năm 2016, Việt Nam XK trên 1,26 triệu tấn cao su, tổng kim ngạch XK ước đạt trên 1,67 tỷ USD, tăng 10,6% về khối lượng và tăng 9% về giá trị so với năm 2015. Việt Nam cũng XK 1,5 tỷ USD từ cao su như lốp xe, linh kiện cao su, băng tải và 1,2 tỷ USD các sản phẩm từ gỗ cao su.

Năm 2016, cao su vẫn nằm trong top 10 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD của ngành nông nghiệp Việt Nam. Nhưng, những dư âm của cuộc “khủng hoảng thừa” của ngành cao su toàn cầu vẫn đang tác động tới ngành cao su Việt Nam. Theo đó, giá cao su XK bình quân 11 tháng đầu 2016 đạt 1.290 USD/tấn, giảm 6,3% so với cùng kỳ năm 2015.

Tuy nhiên, bất ngờ xảy đến ở quý IV/2016, đặc biệt trong tháng 12, khi giá cao su đã bật lên mức 40 triệu đồng/tấn (so với 26 – 27 triệu đồng/tấn của 3 quý trước), khiến nhiều người trồng cao su và DN chế biến, XK cao su vui mừng và đặt nhiều kỳ vọng trong năm 2017.

Theo báo cáo của VRA, giá mủ cao su tăng một phần do biến đổi khí hậu khiến sản lượng cao su tại các quốc gia hàng đầu thế giới suy giảm. Điển hình như “ông lớn” Thái Lan giảm 50% sản lượng do hạn hán kéo dài. Hơn nữa, giá dầu tăng nhẹ cũng là động lực kéo giá cao su tăng theo.

Bà Trần Thị Thúy Hoa – Trưởng ban cố vấn của Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA), cho hay: “Giá cao su bật tăng bởi nhiều nước giảm sản lượng cao su bằng cách giảm khai thác, chặt phá cây cao su trồng lại hoặc trồng cây khác. Sản lượng thấp đã đẩy giá cao su trong hai tháng cuối cùng tăng lên, mang lại hy vọng cho các DN XK và người nông dân”.

Xét về giá, dù đạt đỉnh cao nhất kể từ cuối năm 2013, nhưng thực tế chỉ ngang bằng với mức giá năm 2014. Trước khủng hoảng, giá mủ cao su luôn đạt từ 70 – 80 triệu đồng/tấn, đơn cử như năm 2011 vọt lên 110 triệu đồng/tấn. Nhưng mức tăng mạnh trong tháng 12/2016 vẫn khiến người nông dân và DN đặt nhiều hy vọng trong năm 2017.

Sở dĩ các DN chế biến, XK và người trồng cao su đặt nhiều kỳ vọng trong thời gian tới là vì những dự báo lạc quan cho rằng giá cao su sẽ tiếp tục tăng trong khoảng 10 năm tới. Trong đó, Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đều dự báo ngành cao su toàn cầu sẽ bước qua “đêm đen” và phục hồi mạnh mẽ từ nay tới năm 2025.

Rõ ràng, cao su Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn trong năm 2017. Tuy nhiên, thực tế cho thấy giá trị XK cao su Việt Nam vẫn ở mức thấp, chỉ bằng 1/10 của Thái Lan, Malaysia… Thực tế này đòi hỏi các DN Việt Nam cần đầu tư mạnh hơn vào công nghiệp chế biến, mở rộng mối quan hệ khách hàng mới, tăng cường triển lãm quốc tế để gây dựng hình ảnh.

Tuy nhiên trong báo cáo của Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam mới đây, dự báo bước sang năm 2017, giá cao su chỉ ở mức trung bình 35 triệu đồng/tấn, nghĩa là năm 2017 vẫn là một năm khó khăn của cây cao su.

CÀ PHÊ

Xuất khẩu cà phê lấy lại đà tăng trưởng


Theo thống kê của Bộ NN&PTNT, xuất khẩu cà phê năm 2016 đạt 1,79 triệu tấn với kim ngạch 3,36 tỷ USD, tăng 33,6% về khối lượng và tăng 25,6% về giá trị so với năm 2015.

Như vậy, xuất khẩu cà phê của Việt Nam đã tăng trưởng trở lại. Trước đó, năm 2015, kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam đã giảm 20,63% về lượng và giảm 24,82% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.

Về tình hình giá nội địa, nếu như trong 6 tháng đầu năm 2016, giá cà phê chỉ dừng ở mức 30.000-32.000 đồng/kg thì đến cuối vụ giá cà phê đã tăng vọt, có thời điểm lên đến trên 45.000 đồng/kg. Giá cà phê có sự biến động khá lớn, không chỉ phụ thuộc vào cung – cầu thế giới mà còn chịu tác động của nhiều yếu tố khác. Với mức giá cà phê nhân xô hiện nay ở mức trên 42.000 đồng/kg, người nông dân khá phấn khởi. Và với mức giá trên, giá cà phê đã tăng gần 12.000 đồng  so với năm 2015.  Tuy nhiên, do mưa kéo dài đã ảnh hưởng đến việc thu hoạch cà phê tại Tây Nguyên, gây lo ngại về nguồn cung cho xuất khẩu trong ngắn hạn, cũng như chất lượng cà phê bị ảnh hưởng.

Trong năm 2016, diện tích cà phê trên cả nước đã tăng nhẹ trở lại (khoảng 0,3% so với năm 2015), đạt 645.400 ha. Sản lượng cà phê ước đạt 1,47 triệu tấn, tăng 1% so với năm 2015 mặc dù năng suất cà phê giảm 0,4% do ảnh hưởng của hạn hán tại Tây Nguyên hồi đầu năm.

Đức và Mỹ tiếp tục là 2 thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam với thị phần lần lượt là 15,2% và 13,1%.

Giá trị xuất khẩu cà phê trong năm 2016 ở hầu hết các thị trường chính của Việt Nam đều tăng so với cùng kỳ năm 2015. Các thị trường tăng trưởng mạnh là Philippines (83,5%), Algeria (67,7%), Trung Quốc (49,7%), Hoa Kỳ (49%), Đức (42,4%), Nhật Bản (16,8%) và Nga (16,1%).

Ông Lương Văn Tự – Chủ tịch Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam nhận định, điểm đáng chú ý trong năm 2016 là đóng góp ngày càng lớn của các sản phẩm cà phê chế biến trong tổng giá trị xuất khẩu cà phê Việt Nam.

Xuất khẩu cà phê chế biến của Việt Nam được dự báo sẽ còn tăng mạnh trong những năm tới do nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước đã và đang tiếp tục đẩy mạnh đầu tư vào lĩnh vực này. Đơn cử như Nestlé đã đầu tư gần 300 triệu USD và đưa vào hoạt động nhà máy chế biến cà phê hòa tan tại tỉnh Đồng Nai. Các công ty trong nước như: Trung Nguyên, Mê Trang, Vinacafe… đang mở rộng quy mô sản xuất.

Các chuyên gia cũng cho rằng, Việt Nam ký các hiệp định thương mại tự do với EU, Liên minh Kinh tế Á – Âu, Hàn Quốc… cũng sẽ tạo cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu cà phê chế biến của Việt Nam.

Nếu như trước đây chỉ cà phê nhân của Việt Nam xuất khẩu vào những thị trường này mới được hưởng mức thuế 0%, còn các sản phẩm cà phê chế biến phải chịu mức thuế cao từ 15 – 20% thì nay với những hiệp định thương mại tự do, cà phê chế biến của Việt Nam chỉ chịu thuế 0 – 5% sẽ tạo điều kiện cho việc xuất khẩu vào các thị trường đã ký FTA trở nên dễ dàng, thuận lợi hơn.

Mặc dù tình hình xuất khẩu và giá cả hiện tương đối thuận lợi, song theo nhận định của một số doanh nghiệp thì không nên quá kỳ vọng vào kết quả này. Theo ông Đỗ Hà Nam, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Tập đoàn Intimex, việc sản lượng cà phê xuất khẩu tăng trong niên vụ này chủ yếu là do trong niên vụ 2014-2015 giá cà phê xuống quá thấp nên nông dân và các nhà xuất khẩu giữ hàng lại, khiến lượng tồn kho chuyển sang khá lớn, lên đến 300.000 tấn. Trong khi đó, sản lượng cà phê thu hoạch trong niên vụ 2016-2017 dự báo sụt giảm trên 20%, cộng thêm lượng tồn kho của vụ 2015-2016 chuyển sang vụ mới chỉ còn khá ít, khoảng 50.000-60.000 tấn sẽ khiến sản lượng xuất khẩu trong năm tới chỉ còn 1,3-1,4 triệu tấn, sụt giảm khá mạnh. Theo VIFOCA, trong niên vụ 2016-2017, sản lượng cà phê của Việt Nam dự báo giảm trên 20% so với vụ trước, chỉ khoảng 1,3 triệu tấn.

Bên cạnh đó, đại diện lãnh đạo VIFOCA cho rằng, báo động nhất hiện nay trong ngành cà phê là tình trạng chặt phá cà phê, khiến diện tích cà phê giảm mạnh. Cây cà phê đang bước vào thời kỳ “lão hóa”, năng suất, sản lượng thấp, lợi nhuận không cao. Trong khi đó, giá hồ tiêu cao và tình trạng trồng xen cây ăn quả như bơ, sầu riêng vào vườn cà phê đang lan rộng. Những cây trồng này lại có lợi nhuận cao hơn nên được nông dân dần lựa chọn để trồng thay thế cà phê. Nếu Nhà nước không sớm có biện pháp can thiệp thì sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc phát triển cây cà phê bền vững trong thời gian tới.

(TTGCVT tổng hợp)

Các tin khác
Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (04) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (04) 39762593 
Email: ttgcvattu@yahoo.com