Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Thị trường hàng hóa nguyên liệu trong nước tháng 9/2020
Cập nhật: 1-10-2020



Vàng

Sau đợt tăng phi mã đầu tháng 8, trong tháng 9 giá vàng có chiều hướng giảm mạnh

Cụ thể, sau khi đạt kỉ lục tới hơn 62 triệu đồng/lượng hôm 8/8, giá vàng SJC cuối tháng 9 còn khoảng 55,6 triệu đồng/lượng, tức giảm 10,3%. Tương tự, giá vàng thế giới cũng trong xu hướng giảm sau khi đạt đỉnh 2.070 USD/ounce hồi đầu tháng 8. Hiện giá vàng thế giới giao dịch ở mức khoảng 1.852 USD/ounce. 

Giới chuyên gia nhận định rằng đây là diễn biến bình thường của giá vàng sau khi trải qua thời kì tăng giá phi mã và nhà đầu tư chốt lời.

Tuần đầu tháng 9, giá vàng tiếp tục duy trì đà tăng tại các hệ thống kinh doanh. Theo đó, giá mua vào - bán ra tăng lần lượt là 450.000 đồng/lượng và 300.000 đồng/lượng.

Tuần tiếp theo, thị trường vàng trong nước ghi nhận một tuần khá "bình yên". Giá vàng trong nước quanh quẩn dưới ngưỡng 57 triệu đồng/lượng. Những phiên đầu tuần, giá vàng trong nước biến động nhẹ và giao dịch trên mốc 56 triệu đồng/lượng. Đà giảm giá của kim loại quý này vẫn hạn chế giữa bối cảnh các nhà đầu tư thế giới chờ đợi những động thái từ các ngân hàng trung ương. Sang phiên 10/9, giá vàng trong nước có sự điều chỉnh tăng mạnh theo giá vàng thế giới và tiến về mốc 57 triệu đồng/lượng.

Tuy nhiên, đà tăng của giá vàng đã dừng lại trong phiên cuối tuần (12/9) khi Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và Chính phủ Mỹ đều không đưa ra thêm biện pháp kích thích nào. Giá vàng trong nước theo đó cũng giảm nhẹ và giao dịch dưới mốc 57 triệu đồng/lượng. Tính chung cả tuần, các doanh nghiệp vàng đã điều chỉnh giá vàng SJC giảm nhẹ khoảng 200.000 đồng/lượng.

Tuần giao dịch 13-20/9 khép lại với những phiên tăng giảm đan xen của thị trường vàng trong nước và thế giới. Trong phiên đầu tuần, giá vàng trong nước và thế giới hầu như đi ngang trong bối cảnh các nhà đầu tư thận trọng trước quyết định về chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cũng như tâm lý lạc quan về vắc-xin ngừa dịch COVID-19.

Tuy nhiên, giá vàng thế giới tăng 1% trong phiên giao dịch đêm 14/9, khi đồng USD suy yếu và những dự đoán của thị trường trước thềm cuộc họp chính sách trong hai ngày 15-16/9 của Fed đang nghiêng về khả năng ngân hàng này vẫn sẽ duy trì chính sách tiền tệ ôn hòa. Qua đó, củng cố sức hấp dẫn của các tài sản an toàn như vàng và điều này kéo giá vàng trong nước tăng mạnh trong phiên 15/9.

Đến phiên 17/9, giá vàng trong nước tiếp tục giảm trong bối cảnh giá vàng châu Á giảm. Phiên này giá vàng châu Á giảm do đồng USD tăng giá sau khi Fed dự báo đà phục hồi kinh tế thuận lợi, nhưng ngừng đưa ra các tín hiệu về các biện pháp kích thích kinh tế.

Sáng 20/9, Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn niêm yết giá vàng SJC tại thị trường Hà Nội ở mức 56-56,52 triệu đồng/lượng (mua vào-bán ra).

Còn tại Công ty Vàng bạc Đá quý Bảo Tín Minh Châu, giá vàng SJC cũng được giao dịch mua vào-bán ra ở mức 56,13-56,43 triệu đồng/lượng (mua vào-bán ra).

Với những phiên tăng giảm đan xen, giá vàng trong nước kết thúc tuần này hầu như vẫn giữ nguyên giá so với phiên đầu tuần.

Tuần cuối tháng 9, giá vàng SJC tăng giảm trái chiều ở các hệ thống, giao dịch quanh mốc 55 triệu đồng/lượng. Mở phiên giao dịch đầu tuần sáng thứ Hai ngày 21/9, giá vàng trong nước bất ngờ tăng 100.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua và bán tại các hệ thống kinh doanh trên toàn quốc.

Giá vàng SJC sáng 22/9, đảo chiều quay đầu giảm không quá 350.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua và bán tại cửa hàng vàng bạc đá quí (VBĐQ) Sài Gòn chi nhánh Hà Nội và TP HCM.

Vàng duy trì đà giảm mạnh hôm 24/9 tại các hệ thống kinh doanh trên toàn quốc. Theo đó, giá mua vào và bán ra mất thêm không vượt quá 400.000 đồng/lượng ở doanh nghiệp Phú Quý.

Giá đảo chiểu tăng trở lại nhưng không quá 200.000 đồng/lượng SJC trong phiên 25/9 rồi lại quay đầu sụt giảm 150.000 đồng/lượng trong ngày 26/9.

Phiên 28/9, giá vàng SJC giảm 430.000 đồng/lượng ở chiều mua và bán ra giảm 250.000 đồng/lượng. Phiên 29/9, giá vàng 24K đã tăng trở lại với mức tăng thêm từ 50.000 đồng/lượng đến 200.000 đồng/lượng ở chiều mua và bán.

Chuyên gia tài chính Nguyễn Trí Hiếu cho rằng hiện tại thị trường vàng đang dao động trong tình trạng bất định, nhà đầu tư cũng không rõ giá vàng sẽ đi về đâu, giá vàng lúc lên lúc xuống rất bất định.  Ông Hiếu cho rằng việc giá vàng có thể vượt ngưỡng 2.000 USD/ounce thêm lần nữa tùy thuộc tình hình dịch bệnh trên thế giới từ đây đến cuối  và hiện tại khu vực châu Âu tình hình dịch vẫn rất nghiêm trọng, đặc biệt tại Anh, Mỹ. 

 

Sắt thép

Dự báo nhu cầu tiêu thụ thép xây dựng tăng mạnh dịp cuối năm

Trong tháng 9 giá bán thép trong nước ở mức bình quân khoảng 11.000-11.050 đồng/kg tùy thuộc từng chủng loại sản phẩm và từng doanh nghiệp cụ thể. Theo VSA, các doanh nghiệp có sự cạnh tranh gay gắt để giữ thị phần hay phát triển thêm thị phần, cạnh tranh trong cả lĩnh vực công trình và dân dụng. Do đó, giá thép xây dựng trong nước không điều chỉnh nhiều dù giá nguyên liệu tăng cao...

Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) cho biết, sản xuất thép xây dựng trong 8 tháng qua đạt hơn 6,607 triệu tấn, giảm 6,9% so với cùng kỳ năm 2019. Bán hàng sản phẩm thép xây dựng đạt hơn 6.66 triệu tấn, giảm 5,8% so với cùng kỳ năm 2019; trong đó, xuất khẩu là 906.962 tấn, giảm 5,9% so với cùng kỳ. Hiện tại, tồn kho của các doanh nghiệp thép là hơn 604.000 tấn. Đây là mức tồn kho trung bình để gối đầu bán hàng các tháng sau.

Tính chung trong cả 8 tháng đầu năm 2020, sắt thép xuất khẩu nhiều nhất sang Trung Quốc, với 2,07 triệu tấn, tương đương 844,5 triệu USD, giá trung bình 407,4 USD/tấn, tăng mạnh 1.827,5% về lượng, tăng 1.470% về kim ngạch nhưng giảm 18,6% về giá so với cùng kỳ năm trước, chiếm 34,8% trong tổng lượng và chiếm 27,2% trong tổng kim ngạch xuất khẩu sắt thép của cả nước.

VSA nhận định, sản lượng thép xây dựng sản xuất, bán hàng và xuất khẩu trong 8 tháng của năm 2020 đều giảm do tác động của dịch Covid-19. Tuy nhiên, dự kiến từ tháng 9 đến cuối năm, thị trường thép xây dựng sẽ khởi sắc hơn. 

Ông Trịnh Khôi Nguyên, Phó Chủ tịch VSA dự báo, trong ngắn hạn thị trường nội địa có nhu cầu tiêu thụ thép nhiều hơn sau thời gian giãn cách do dịch bệnh Covid-19. Tình hình sản xuất và bán hàng thép xây dựng trong nước sẽ bớt khó khăn hơn và thị trường thép xây dựng từ tháng 9 sẽ tốt hơn.

Ngày 22/9/2020, Cơ quan Dịch vụ Biên giới Canada (CBSA) thông báo khởi xướng điều tra chống bán phá giá (CBPG) đối với sản phẩm thép cốt bê tông (Concrete reinforcing bar - mã HS: 7213.10, 7214.20, 7215.90, 7727.90) có xuất xứ từ Việt Nam và một số nước. Thời kỳ điều tra là từ ngày 1/6/2019-30/6/2020. Thời kỳ phân tích khả năng sinh lời là từ ngày 1/4/2019 - 30/6/2020.

Theo thông báo khởi xướng, CBSA không khởi xướng điều tra vụ việc theo Mục 20 (coi một ngành sản xuất cụ thể không hoạt động theo cơ chế thị trường và do đó áp dụng giá thay thế từ một quốc gia khác) như cáo buộc của nguyên đơn. Bản báo cáo lý do khởi xướng điều tra vụ việc dự kiến sẽ công bố trong vòng 15 ngày kể từ ngày khởi xướng.

Để đảm bảo quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp, Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương) khuyến nghị các hiệp hội và doanh nghiệp sản xuất/xuất khẩu sản phẩm liên quan đọc kỹ hướng dẫn, trả lời đầy đủ, đúng quy định và nộp bản câu hỏi điều tra đúng thời hạn; hợp tác toàn diện với CBSA trong suốt quá trình vụ việc diễn ra, bao gồm cả việc điều tra tại chỗ để xác minh các nội dung trong bản trả lời câu hỏi.

 

Xăng dầu

Tháng  qua, 2 kỳ điều chỉnh giá xăng dầu theo chu kỳ  của Liên bộ Tài chính - Công Thương đều theo xu hướng giảm nhẹ

Ở kỳ điều chỉnh ngày 11/9, xăng, dầu đồng loạt giảm giá từ 130 - 532 đồng/lít. Cụ thể, giá bán xăng E5RON92 không cao hơn 14.266 đồng/lít (giảm 143 đồng/lít so với giá hiện hành); xăng RON95-III không cao hơn 14.984 đồng/lít (giảm 130 đồng/lít); dầu diesel 0.05S không cao hơn 11.518 đồng/lít (giảm 443 đồng/lít); dầu hỏa không cao hơn 9.593 đồng/lít (giảm 532 đồng/lít); dầu mazut 180CST 3.5S hông cao hơn 10.943 đồng/kg (giảm 240 đồng/kg).

Ở kỳ điều chỉnh ngày 26/9, xăng, dầu giảm nhẹ, xăng RON92 giảm 51 đồng/lít, xăng RON95 giữ nguyên giá và các loại dầu giảm từ 117 - 390 đồng/lít. Cụ thể, giá bán xăng E5RON92 không cao hơn 14.215 đồng/lít (giảm 51 đồng/lít so với giá hiện hành); xăng RON95-III không cao hơn 14.984 đồng/lít (giữ nguyên giá); dầu diesel 0.05S không cao hơn 11.128 đồng/lít (giảm 390 đồng/lít); dầu hỏa không cao hơn 9.449 đồng/lít (giảm 144 đồng/lít); dầu mazut 180CST 3.5S hông cao hơn 10.826 đồng/kg (giảm 117 đồng/kg).

Tình hình dịch bệnh trong nước mặc dù đang dần được kiểm soát nhưng vẫn còn tác động tiêu cực đến sự phục hồi tăng trưởng kinh tế và nhu cầu sử dụng nhiên liệu, năng lượng. Trong các kỳ điều hành gần đây, nhằm hỗ trợ cho nền kinh tế đang phục hồi, hạn chế mức tăng và giữ ổn định giá xăng dầu, Liên Bộ Công Thương - Tài chính đã thực hiện chi sử dụng liên tục Quỹ BOG ở mức khá cao (453 đồng/lít/kg -1.295 đồng/lít/kg đối với các loại xăng dầu).

Để bảo đảm giá xăng dầu trong nước phản ánh đúng xu hướng biến động của giá xăng dầu thế giới, tiếp tục hỗ trợ cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của người dân và doanh nghiệp trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19, Liên Bộ Công Thương - Tài Chính quyết định không trích lập Quỹ BOG đối với xăng E5RON92 và dầu mazut, tiếp tục chi Quỹ BOG ở mức cao đối với các loại xăng và dầu mazut để giảm giá bán lẻ đối với các loại xăng dầu.

Việc điều hành giá xăng dầu cũng góp phần bảo đảm thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát năm 2020, tiếp tục duy trì mức chênh lệch giá giữa xăng sinh học E5RON92 và xăng khoáng RON95 ở mức hợp lý để khuyến khích sử dụng xăng sinh học nhằm bảo vệ môi trường theo chủ trương của Chính phủ.

Trong tháng qua, Bộ Công Thương tiếp tục lấy ý kiến dự thảo sửa đổi Nghị định 83 về kinh doanh xăng dầu và dự kiến trình Chính phủ vào quý IV năm nay.

Theo dự thảo mới, công thức tính giá cơ sở sẽ không phụ thuộc vào một nguồn duy nhất nhập khẩu như trước mà tính cả nguồn sản xuất trong nước (từ các nhà máy lọc hoá dầu). Như vậy, giá cơ sở xăng dầu sẽ phụ thuộc vào cả giá và tỷ lệ nhập khẩu cũng như sản xuất trong nước. Trong đó, giá xăng dầu từ nguồn nhập khẩu được xác định trên cơ sở yếu tố đầu vào như giá xăng dầu thế giới, chi phí định mức tối đa, lợi nhuận định mức, thuế, phí... và bổ sung quy định về cách tính thuế thu nhập theo bình quân gia quyền.

Còn giá xăng dầu từ nguồn sản xuất trong nước được xác định trên cơ sở giá xăng dầu thế giới cùng Premium (khoản chênh lệch so với giá thế giới, được xác định theo phương pháp bình quân gia quyền theo sản lượng), chi phí định mức tối đa đưa về cảng, thuế tiêu thụ đặc biệt cùng các chi phí thuế, phí khác.

Hoặc, giá xăng dầu sản xuất trong nước sẽ được xác định bằng giá bình quân của các nhà máy lọc dầu trong nước, cộng với chi phí định mức tối đa đưa xăng dầu từ nhà máy lọc dầu trong nước về đến cảng, chi phí kinh doanh định mức tối đa, lợi nhuận định mức, trích quỹ và thuế, phí khác.

Riêng xăng sinh học (E5, E10...) được tính thêm giá của ethanol nhiên liệu được nhập khẩu và mua từ nguồn trong nước theo tỷ lệ nhất định.

Tỷ trọng cơ cấu nguồn xăng dầu đã thay đổi khác trước với 70-75% đến từ nguồn sản xuất trong nước là lý do Bộ Công Thương đưa ra giải thích cho việc bổ sung thêm nguồn hàng này trong công thức tính giá cơ sở bán lẻ xăng dầu. Ngoài ra, việc tham gia các hiệp định thương mại (FTA) dẫn nhiều mức thuế suất thuế nhập khẩu xăng dầu khác nhau, nên cần thiết phải sửa đổi công thức tính giá cơ sở dựa trên các yếu tố chi phí hình thành từ hai nguồn, gắn với xác định mức thuế nhập khẩu phù hợp từ các nguồn khác nhau để đưa vào công thức tính giá.

 

Lúa gạo

Tháng 9, giá lúa gạo có xu hướng ổn định

Tuần đầu tháng 9, giá lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long có xu hướng ổn định sau một thời gian dài tăng giá trong tháng Tám.

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn An Giang, giá lúa tươi thường tại tỉnh dao động từ 5.850-6.100 đồng/kg, tương đương tuần trước đó; các loại lúa chất lượng cũng có giá đi ngang, cụ thể Jasmine từ 6.000 - 6.300 đồng/kg, lúa OM từ 5.950-6.200 đồng/kg.

Giá lúa Hè Thu cuối vụ ở Đồng Tháp tăng từ 300-600 đồng/kg so với tháng trước. Lúa tươi giống IR 50404 có giá 5.900-6.000 đồng/kg; OM 5451 giá 6.000 đồng/kg; Đài thơm 8 giá 6.000 đồng/kg; Jasmine giá 6.100 đồng/kg; OM 6976 giá 5.900-6.000 đồng/kg.

Nhiều nông dân thu hoạch lúa Hè Thu muộn trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp rất phấn khởi vì lúa tươi được doanh nghiệp thu mua với giá cao. Giá lúa tăng là do thị trường tiêu thụ nội địa và xuất khẩu có dấu hiệu hút hàng.

Theo Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương, gạo 5% tấm của Việt Nam giá tuần này tăng lên 490 USD/tấn, so với 480-490 USD/tấn của tuần trước đó, do nguồn cung khan hiếm.

Tuy nhiên, các thương gia cho biết nhu cầu yếu có thể cản trở giá tăng thêm nữa trong những tuần tới. Nguồn cung trên thị trường Việt Nam sẽ không tăng cho tới vụ thu hoạch mới.

Tuần tiếp theo, giá lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long có xu hướng ổn định ở mức cao. Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn An Giang, giá lúa tươi thường tại tỉnh dao động từ 5.900 - 6.100 đồng/kg, tương đương tuần trước; các loại lúa chất lượng ổn định, cụ thể Jasmine từ 6.200 - 6.300 đồng/kg, lúa OM từ 5.950 - 6.300 đồng/kg.

Vụ lúa Hè Thu năm nay, nông dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long sản xuất trong điều kiện thuận lợi bởi giá ở mức cao, đảm bảo có lãi khá. Lúa gạo được giá và hút hàng, trong khi mùa lũ năm 2020 dự báo ở mức thấp, đây là cơ hội tốt để nông dân gia tăng sản xuất lúa Thu Đông.

Do nguồn cung trong nước thấp đã đẩy giá gạo 5% tấm lên 490-495 USD/tấn trong phiên ngày 10/9 so với mức 490 USD/tấn trong tuần trước.

Giá lúa tiếp tục ở mức cao trong trung tuần tháng 9, tạo cơ hội tốt cho nông dân cũng như đơn vị chế biến xuất khẩu gạo.

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh An Giang, giá lúa tươi thường tại tỉnh dao động từ 5.800-6.100 đồng/kg, tương đương tuần trước; các loại lúa chất lượng ổn định, cụ thể Jasmine từ 6.100-6.300 đồng/kg, lúa OM từ 5.950-6.300 đồng/kg.

Tuần cuối tháng 9, do nhiều địa phương ở đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục thu hoạch lúa Thu Đông, nên giá lúa ở một số địa phương có xu hướng giảm nhẹ.

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn An Giang, giá lúa tươi thường tại tỉnh dao động từ 5.800 - 6.000 đồng/kg, giảm 100 đồng/kg; các loại lúa chất lượng ổn định. Lúa Jasmine giá từ 6.100 - 6.300 đồng/kg, lúa OM từ 5.900 - 6.100 đồng/kg, giảm 200 đồng/kg.

Giá gạo xuất khẩu Việt Nam tăng lên mức cao nhất kể từ cuối năm 2011 do tác động từ yếu tố mùa vụ, hiện vụ thu hoạch Hè Thu đã gần kết thúc nên nguồn cung bị thu hẹp hơn; ngoài ra, dịch COVID-19 tái bùng phát khiến nhiều tác nhân trong chuỗi tăng cường dự trữ. Dự báo giá sẽ tiếp tục tăng trong vài tháng tới cho đến khi vụ thu hoạch mới vào khoảng tháng 10.

Với EVFTA, EU dành cho Việt Nam hạn ngạch 80.000 tấn gạo/năm (gồm 30.000 tấn gạo xay xát, 20.000 tấn gạo chưa xay xát và 30.000 tấn gạo thơm). Đặc biệt, EU sẽ tự do hóa hoàn toàn đối với gạo tấm với cam kết này giúp Việt Nam có thể xuất khẩu khoảng 100.000 tấn vào EU hàng năm. Đối với sản phẩm từ gạo, EU sẽ đưa thuế suất về 0% sau 3-5 năm.

Theo thống kê mới nhất của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu gạo tháng 9/2020 ước đạt 405.780 tấn với 202,725 triệu USD, so với tháng 9/2019 giảm 15,35% về lượng và giảm 3,89% về trị giá. Cộng dồn 9 tháng, xuất khẩu gạo đạt 5,012 triệu tấn, với 2,46 tỷ USD; so với cùng kỳ năm 2019 giảm 0,96% về lượng nhưng tăng 11,41% về kim ngạch.

Nếu vẫn duy trì tốc độ như các tháng vừa qua, xuất khẩu gạo năm 2020 có khả năng đạt từ 6,8 - 7 triệu tấn, tăng từ 5,18% - 9,89% về lượng so với năm 2019 (6,37 triệu tấn). Cùng đó, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam cũng đang ở vùng cao nhất trong nhiều năm qua.

 

Cà phê

Thị trường cà phê trong nước biến động tăng cùng xu hướng thị trường thế giới

Theo xu hướng cà phê thế giới, giá cà phê trong nước tuần đầu tháng 9 tăng khá. Giá cà phê nhân xô tại thị trường Tây Nguyên tăng 100-200 đồng, lên dao động trong khung 33.500-33.900 đồng/kg.

Tại cảng Thành phố Hồ Chí Minh, giá cà phê Robusta xuất khẩu loại 2,5% đen vỡ, đứng ở 1.544 USD/tấn, với mức chênh lệch cộng 90-100 USD/tấn theo giá kỳ hạn tháng 11 tại London.

Tuần tiếp theo, do bị tác động mạnh khi tâm lý đầu cơ trở nên tiêu cực trước biến động thất thường của thị trường tài chính thế giới và tin đồn nguồn cung dư thừa khiến giá cà phê trên thị trường thế giới giảm. Ở trong nước, giá cà phê cũng lao dốc theo. Giá cà phê nhân xô tại các tỉnh Tây Nguyên ngày 19/9 giảm xuống dao động trong khung 31.900-32.300 đồng/kg. Với mức giá này, giá cà phê đã giảm khá mạnh, khoảng 1.300-1.400 đồng/kg so với cuối tuần trước.

Giá giảm cộng với nguồn cung khan hiếm, khi các thương nhân đang chờ đợi mùa vụ mới bắt đầu vào tháng tới, nên giao dịch mặt hàng này khá trầm lắng.

Tại cảng Thành phố Hồ Chí Minh, giá cà phê Robusta xuất khẩu loại 2,5% đen vỡ, đứng ở 1.482 USD/tấn, với mức chênh lệch cộng 90-100 USD/tấn theo giá kỳ hạn tháng 1/2021 tại London.

 Hai tuần cuối tháng 9, hoạt động giao dịch cà phê tại Việt Nam trầm lắng, do các thương nhân chờ đợi vụ thu hoạch mới, trong khi khoảng cách giá giữa thị trường Việt Nam và Indonesia được thu hẹp. Ngày 19/9, giá cà phê trong nước giảm từ 3,3 - 4,2% so với ngày 29/8. Mức giá giảm phổ biến là 3,9% diễn ra ở hầu khắp các khu vực khảo sát, xuống còn 31.800 - 32.500 đồng/kg; mức giảm thấp nhất là 33% tại huyện Buôn Hồ tỉnh Đắk Lắk, xuống còn 32.400 đồng/kg. 

Tại cảng khu vực TP HCM, cà phê Robusta loại R1 giảm 3,2%, xuống còn 33.800 đồng/kg.

Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, xuất khẩu cà phê tháng 8 đạt 100 nghìn tấn, trị giá 184,35 triệu USD, giảm 8,9% về lượng và giảm 6,3% về trị giá so với tháng 7/2020, so với tháng 8/2019 giảm 12,2% về lượng và giảm 6,4% về trị giá. 

Trong 8 tháng đầu năm 2020, xuất khẩu cà phê đạt 1,15 triệu tấn, trị giá 1,97 tỷ USD, giảm 2,1% về lượng và giảm 2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2019. 

Hiệp định EVFTA có hiệu lực từ ngày 1/8 được kỳ vọng sẽ thúc đẩy xuất khẩu cà phê tăng trong thời gian tới. Với việc thực thi Hiệp định EVFTA, EU đã xóa bỏ thuế cho toàn bộ cho các sản phẩm cà phê chưa rang hoặc đã rang (giảm từ 7 - 11% xuống 0%), các loại cà phê chế biến từ 9 - 12% xuống còn 0%. 

Đồng thời, mặt hàng cà phê là 1 trong số 39 chỉ dẫn địa lý của Việt Nam được EU cam kết bảo hộ khi EVFTA chính thức đi vào hoạt động. Đây là lợi thế cạnh tranh rất lớn cho ngành cà phê Việt Nam với các nước xuất khẩu cà phê khác tại thị trường EU.

Tháng 8, giá xuất khẩu bình quân cà phê đạt mức cao nhất kể từ tháng 1/2019, lên mức 1.840 USD/tấn, tăng 3% so với tháng 7/2020 và tăng 6,6% so với tháng 8/2019. Trong 8 tháng đầu năm 2020, giá xuất khẩu bình quân cà phê tăng 0,1% so với cùng kỳ năm 2019, lên mức 1.771 USD/tấn.

Tháng 8, giá xuất khẩu bình quân cà phê sang nhiều thị trường tăng so với tháng 7/2020 và tăng so với tháng 8/2019, như: Lào, Singapore, Ba Lan, Indonesia, Australia, Canada, Malaysia, Anh, Hà Lan, Nga. 

Ngược lại, giá xuất khẩu bình quân cà phê sang một số thị trường giảm, gồm: Campuchia, Mỹ, Rumani. Trong 8 tháng đầu năm 2020, giá xuất khẩu bình quân cà phê sang thị trường Ba Lan và Indonesia tăng trưởng 2 con số, lên mức lần lượt 2.301 USD/tấn và 2.171 USD/tấn. 

Do dịch COVID-19, có nhiều người làm việc ở nhà, nên nhu cầu tiêu thụ cà phê hòa tan tại Nhật Bản tăng mạnh. Điều này làm tăng nhu cầu về cà phê robusta - loại cà phê chủ yếu được sử dụng để làm cà phê hòa tan, trong khi doanh số bán cà phê arabica - loại cà phê có chất lượng cao hơn và thường được các cửa hàng cà phê sử dụng lại giảm. Điều này làm cho lượng cà phê robusta Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Nhật tăng mạnh và trở thành nhà cung ứng số 1 của quốc gia này.

 

Đường

Giá đường nội thấp hơn giá thành sản xuất

Nửa đầu tháng 9, các loại đường có nguồn gốc nước ngoài vẫn tiếp tục thâm nhập thị trường và chiếm vai trò chủ đạo trong khi đường sản xuất từ mía trong nước vẫn tiêu thụ kém và tồn kho.

Các loại đường có nguồn gốc nhập khẩu tiếp tục cạnh tranh với nhau và giữ giá thị trường ở mức thấp. Giá đường sản xuất từ mía trong nước tùy phẩm cấp đường (chất lượng và cỡ hạt) giá (có VAT, đồng/kg) dao động ở mức như sau:

Mặc dù vậy, đường sản xuất từ mía hầu như không tiêu thụ được, vì mức giá đường nhập khẩu trên thị trường thấp hơn giá thành sản xuất của các nhà máy.

Theo VSSA nhập khẩu đường và chất tạo ngọt đang được tiếp tục nhập về ồ ạt. Tỉ giá thấp và giá đường thế giới giảm đang khuyến khích các nhà thương mại đẩy mạnh nhập khẩu. Nguồn cung đường đang dư thừa và tiếp tục cạnh tranh khiến giá đường trên thị trường ở mức thấp, không có hiện tượng thiếu hụt đường trong tháng 9/2020 và các tháng tới tại thị trường trong nước. 

VSSA dự báo trong những tháng cuối năm,  các loại đường có nguồn gốc nước ngoài sẽ tiếp tục chiếm vai trò chủ đạo trên thị trường, nên xu hướng giá sẽ vẫn ở mức thấp dưới mức giá thành sản xuất của đường sản xuất từ mía trong nước, dẫn đến khó khăn ngày càng tăng cho các doanh nghiệp mía đường và nông dân trồng mía trong hoàn cảnh chuẩn bị cho công tác vào vụ ép mía 2020/21.

Trong 8 tháng đầu năm, lượng đường mía nhập khẩu vào Việt Nam gia tăng đột biến, đạt gần 950 nghìn tấn, tăng hơn 6 lần so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó, sản lượng nhập khẩu từ Thái Lan chiếm đa số, đạt gần 860 nghìn tấn, trong khi cả năm 2019 chỉ đạt 300 nghìn tấn.

Đại diện ngành sản xuất trong nước cho rằng đây là nguyên nhân chính gây thiệt hại cho ngành mía đường trong nước. Sản lượng đường mía nội địa niên vụ 2019/2020 ước tính chưa tới 800 nghìn tấn, sụt giảm mạnh so với 1,2 triệu tấn của niên vụ 2018/2019.

Trước những thông tin này, ngày 21/9, Bộ Công Thương ban hành quyết định khởi xướng điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với đường mía có xuất xứ từ Thái Lan.

Liên quan tới cam kết của EVFTA, EU dành ưu đãi thuế quan cho 10.000 tấn đường trắng và 10.000 tấn sản phẩm chứa trên 80% đường mỗi năm cho Việt Nam.

Hàng hóa có xuất xứ được phân loại theo các dòng thuế gồm 1701.13.10; 1701.13.90; 1701.14.10; 1701.91.00; 1701.99.10; 1701.99.90; 1702.30.50; 1702.90.50; 1702.90.71; 1702.90.75; 1702.90.79; 1702.90.95; 1806.10.30 và 1806.10.90 trong Biểu thuế của EU sẽ được miễn thuế trong phạm vi 20 000 tấn/năm dưới dạng đường thô tương ứng

Các qui định về đường và kẹo đường được nêu tại Chương 17 của EVFTA. Hàng có xuất xứ được phân loại theo dòng thuế 1701.14.90 trong Biểu thuế của EU sẽ được miễn thuế trong phạm vi 400 tấn/năm.



Thủy sản

Một tháng sau EVFTA có hiệu lực, xuất khẩu thủy sản sang EU tăng nhẹ

Một tháng sau khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực, tháng 8, tổng giá trị xuất khẩu thủy sản sang EU đạt gần 98 triệu USD, tăng nhẹ 1% so với cùng kỳ năm 2019.

Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản (VASEP), kết quả xuất khẩu thủy sản trong này đã phản ánh rõ tác động tích cực của hiệp định EVFTA trong việc thúc đấy xuất khẩu các mặt hàng thủy sản được ưu đãi thuế 0% ngay từ khi hiệp định có hiệu lực.

Sự thay đổi tích cực và rõ rệt nhất là tôm và mực, bạch tuộc, trong đó tôm tăng gần 16% so cùng kỳ 2019, tăng gần 9% so với tháng 7; mực, bạch tuộc tăng 10% so với cùng kỳ năm 2019 và tăng gần 24% so với tháng 7.

Xuất khẩu cá tra phục hồi 4% so với tháng 7 nhưng vẫn giảm gần 24% so với cùng kỳ 2019. Xuất khẩu cá ngừ sau khi tăng 65% trong tháng 7, sang tháng 8 giảm sâu 17% so với cùng kỳ năm 2019 và giảm 28% so với tháng 7. 

Ngay trong năm nay, các sản phẩm tôm sú, tôm chân trắng đông lạnh xuất khẩu sang EU được hưởng thuế 0%, đã đem lại lợi thế lớn cho ngành tôm vì sản phẩm tôm mã HS03 hiện đang chiếm khoảng 30% giá trị xuất khẩu thủy sản Việt Nam, 55% giá trị xuất khẩu tôm với giá trị dao động 300 - 500 triệu USD/năm. 

Lợi thế rõ rệt để nhà xuất khẩu Việt Nam đàm phán với nhà NK EU khi so sánh với tôm cùng loại từ Thái Lan đang bị mức thuế cơ bản 12%, Ấn Độ chịu thuế GSP 4,2%, Indonesia bị thuế GSP4,2%. 

Nhờ lợi thế về thuế của tôm Việt Nam tốt hơn so với các đối thủ cạnh tranh nên nhà NK của EU cũng tìm tới nguồn cung từ Việt Nam nhiều hơn. Các mặt hàng chế biến sâu, đóng gói ăn liền, phục vụ tiêu thụ tại hộ gia đình vẫn được ưa chuộng.

Đối với sản phẩm cá ngừ, VN sẽ có cơ hội tốt hơn sau 3 - 7 năm thuế được về 0%, tăng khả năng cạnh tranh với đối thủ lớn nhất là Thái Lan, đang bị áp thuế 18%-24%.

Tuy nhiên, để tận dụng được ưu đãi thuế quan, ngành thủy sản cần có nguồn nguyên liệu ổn định, chất lượng ATVSTP đạt tiêu chuẩn và tuân thủ quy định của thị trường EU. Điều quan trọng là doanh nghiệp biết tận dụng hiệu quả và linh hoạt, trung thực và hiệu quả quy tắc xuất xứ của hiệp định.

Ngoài ra, doanh nghiệp cần đặc biệt chú trọng thực hiện và đáp ứng các quy định, tiêu chuẩn về lao động và môi trường trong hiệp định, các vấn đề liên quan đến phát triển bền vững. Lao động nghề cá, nhất là lao động trẻ em đang là vấn đề EU và các nước khác đặc biệt quan tâm trong thời gian gần đây.

 

Ô tô

Ô tô nhập giá rẻ tràn về

Ô tô nhập khẩu đang tăng tốc về Việt Nam, trong khi đó, ô tô sản xuất lắp ráp trong nước cũng tăng công suất.

Theo số liệu từ Tổng cục Hải quan, trong 15 ngày đầu tháng 9, các  doanh nghiệp đã nhập khẩu hơn 6.600 chiếc xe ô tô các loại, tăng hơn 40% so với  tháng 7/2020 và bằng 75% của cả tháng 8/2020. Trong số đó, hơn 5.100 xe du lịch dưới 9 chỗ ngồi, giá nhập trung bình hơn 380 triệu đồng/chiếc, chủ yếu tập trung vào xe giá rẻ từ Thái Lan và Indonesia.

Số lượng này cũng cao hơn cùng kỳ năm trước với gần 500 xe. Điều này cho thấy các doanh nghiệp đang đẩy mạnh nhập ô tô về để nước, chuẩn bị cho mùa bán hàng cuối năm. Dự báo số lượng ô tô nhập khẩu nguyên chiếc vẫn tiếp tục tăng.

Trong khi đó, thông tin từ một số doanh nghiệp ô tô sản xuất lắp ráp trong nước cho hay đang tăng công suất với những mẫu xe bán chạy có doanh số cao như Toyota Vios, Hyundai I 10, Acent, Kia Seltos, Honda CR-V, Mazda CX-5,...

Cùng với đó, một loạt mẫu xe mới ra mắt cũng làm cho thị trường ô tô sôi động ở nhiều phân khúc. Toyota Việt Nam tung ra 3 sản phẩm mới là Cross, Hilux và Fortuner; Kia ra mắt 2 mẫu xe là Seltos và Sorento; Honda Việt Nam ra mắt bản nâng cấp CR-V; Vina Mazda ra mắt Mazda 6 mới; sắp tới Mitsubishi Việt Nam sẽ ra mắt mẫu Pajero Sport; còn Ford Việt Nam ra mắt Ecosport mới.

Số liệu từ Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA) cho thấy 8 tháng đầu năm 2020 doanh số bán hàng của các doanh nghiệp thành viên vẫn giảm 25% so với cùng kỳ năm ngoái. Từ nay đến cuối năm, nhu cầu về ô tô sẽ tăng lên nhưng không cao như các năm trước do ảnh hưởng của dịch Covid-19. Dự báo cả năm doanh số bán ô tô vẫn tăng trưởng âm.

Hiện tại, nhiều mẫu xe đại hạ giá từ hàng chục tới cả hàng trăm triệu đồng để xả hàng tồn kho.

Bên cạnh xả hàng tồn kho, nhiều mẫu ô tô dù vừa ra mắt và mở bán chưa bao lâu nhưng đã được các đại lý mạnh tay áp dụng các chương trình khuyến mại.

Các doanh nghiệp sản xuất lắp ráp ô tô trong nước cho biết nhờ được giảm 50% lệ phí trước bạ nên doanh số bán đã khởi sắc và tin tưởng từ nay đến cuối năm sẽ tăng cao hơn. Song, họ cũng lo lắng khi đến 31/12/2020 ưu đãi này chấm dứt, doanh số có thể giảm.

Tuy nhiên, sang 2021 xe nội có hy vọng giảm giá nhiều hơn, nếu các chính sách ưu đãi mới được ban hành.

 

Hồ tiêu

Xuất khẩu giảm hơn 20% trong 8 tháng đầu năm

Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, tháng 8 xuất khẩu hạt tiêu đạt 17,34 nghìn tấn, trị giá 43,36 triệu USD, giảm 3,8% về lượng và giảm 3,4% về trị giá so với tháng 7, so với tháng 8/2019 giảm 8% về lượng và giảm 6,5% về trị giá. 

Tính chung 8 tháng đầu năm 2020, xuất khẩu hạt tiêu đạt 202 nghìn tấn, trị giá 443,71 triệu USD, giảm 7,7% về lượng và giảm 20,2% về trị giá so với cùng kì năm 2019.

Tháng 8, giá xuất khẩu bình quân hạt tiêu đạt mức 2.500 USD/tấn, tăng 0,4% so với tháng 7 và tăng 1,7% so với tháng 8/2019. Tính chung 8 tháng đầu năm 2020, giá xuất khẩu bình quân hạt tiêu đạt mức 2.198 USD/tấn, giảm 7,7% so với cùng kì năm 2019.

Tháng 8, giá xuất khẩu bình quân hạt tiêu sang một số thị trường tăng so với tháng 7 và tăng so với tháng 8/2019, gồm: Singapore, Myanma, Pháp, Ấn Độ, Sénégal. 

Ngược lại, giá xuất khẩu bình quân sang nhiều thị trường giảm, gồm: Hà Lan, Bỉ, Úc, Canada, Tây Ban Nha, Arab Saudi. 

Trong 8 tháng đầu năm 2020, giá xuất khẩu bình quân hạt tiêu sang tất cả các thị trường giảm so với cùng kì năm 2019.

Trong đó, giá xuất khẩu bình quân hạt tiêu sang thị trường Singapore giảm 7,2%; Hà Lan giảm 9,3%; Bỉ giảm 12,1%; Thái Lan giảm 5,6%; Anh giảm 13,1%.

Tháng 8, xuất khẩu hạt tiêu sang thị trường Mỹ, Ấn Độ, Nga, Pháp giảm so với tháng 8/2019, nhưng xuất khẩu sang một số thị trường khác tăng, như: Các tiểu Vương quốc Ả rập Thống nhất, Đức, Hà Lan, Hàn Quốc, Canada. 

Trong 8 tháng đầu năm 2020, xuất khẩu hạt tiêu sang thị trường Mỹ tăng về lượng, nhưng giảm về trị giá so với cùng kì năm 2019.

 Xuất khẩu sang Ấn Độ giảm mạnh cả về lượng và trị giá; ngược lại xuất khẩu sang thị trường Hàn Quốc, Pháp, Nhật Bản, Anh, Philippines tăng trưởng khả quan.

Tình hình giá cả trong nước, theo Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam, giá tiêu đen giảm 2% so với tháng 7, trung bình ở mức 47.000 đồng/kg đối với tiêu đen và 65.500 đồng/kg đối với tiêu trắng. Nửa đầu tháng 9 cho thấy giá tiêu trong nước tăng nhẹ trở lại đối với cả tiêu đen và tiêu trắng. 

(TTGCVT tổng hợp)

Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (024) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (024) 39762593 
Email:ttgcvattu1989@gmail.com