Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Diễn biến thị trường hàng hóa nguyên liệu trong nước tháng 8-2020
Cập nhật: 31-8-2020

VÀNG

Giá vàng lập kỷ lục của kỷ lục từ trước đến nay: trên 62 triệu đồng/lượng

Chưa dứt đà tăng trong tháng 7, “cơn sốt” vàng thực sự nóng vào những ngày đầu tháng 8. 

Hôm 6/8, thị trường vàng căng thẳng khi giá liên tục trồi sụt, các doanh nghiệp điều chỉnh mỏi tay, có thời điểm lên đến 62 triệu đồng mỗi lượng ở chiều bán ra nhưng cuối ngày giảm mạnh về mức 60,9 triệu đồng/lượng. Dù vậy, đây vẫn là mốc cao kỷ lục của vàng trong nước.

Ngay ngày hôm sau, 7/8, giá vàng SJC lại tiếp tục tăng sốc, lần đầu tiên chốt phiên giữ giá ở mức 62,4 triệu đồng/lượng (bán ra) và 60,75 triệu đồng/lượng (mua vào). Chỉ trong 2 ngày, giá vàng miếng SJC trong nước đã tăng đến 4 triệu đồng mỗi lượng. Lần đầu tiên vàng mua vào và bán ra trên mức 60 triệu đồng, là kỷ lục của kỷ lục từ trước đến nay.

Sau vài ngày tăng nóng, các phiên giao dịch sau đó, giá vàng nhanh chóng giảm mạnh vài triệu đồng mỗi lượng. Cuối tháng 8, giá vàng trong nước giao dịch ở vùng 56 triệu đồng/lượng, chênh lệch mua vào - bán ra khoảng 1,5 triệu đồng/lượng và ít có sự biến động mạnh giữa các phiên.

Về mức chênh lệch giữa giá vàng thế giới và giá vàng trong nước, tính tới thời điểm giữa tháng 8/2020, giá vàng thế giới quy đổi (theo tỷ giá trên thị trường tự do) thấp hơn giá vàng trong nước khoảng 2,6 triệu đồng/lượng (so với giá vàng niêm yết tại SJC), thu hẹp hơn so với cuối tháng trước là 3,7 triệu đồng/lượng.

Tuy nhiên, mức chênh lệch này vẫn cao hơn nhiều so với thời điểm cuối năm 2019 gần 138.000 đồng/lượng.

Theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, giá vàng trong nước diễn biến tăng phù hợp với mức tăng của giá vàng quốc tế. Điều đáng mừng là dù giá vàng trong nước và thế giới có nhiều biến động, song các động thái tăng giảm thường cùng chiều và trật tự thị trường vàng trong nước vẫn được bảo đảm, không xuất hiện tình trạng đầu cơ.

Dự báo trong ngắn hạn, thị trường vàng khó có động lực giảm giá mạnh trước khi mẻ vaccine chống COVID-19 đầu tiên chính thức được tung ra thị trường vào đầu quý IV/2020.

Là nơi trú ẩn an toàn nhất cho nhà đầu tư khi giá trị tiền tệ suy giảm, giá vàng khó quay trở lại mức dưới 40 triệu/lượng, và tùy thuộc vào kết quả hai mặt của các gói hỗ trợ kinh tế thế giới mới tung ra do dịch COVID-19, cũng như triển vọng hạ nhiệt căng thẳng quan hệ Mỹ-Trung cả về kinh tế và ngoài kinh tế.

 

XĂNG DẦU

Trong tháng qua,  giá bán lẻ xăng dầu đều có sự thay đổi trong cả 2 kỳ điều chỉnh

Cụ thể, trong kỳ điều chỉnh thứ nhất, ngày 12/8, liên Bộ Tài chính - Công Thương công bố giá bán lẻ xăng RON 95 được điều chỉnh giảm 51 đồng/lít, trong khi giữ nguyên giá xăng E5 RON 92. Mức giá bán lẻ tối đa với xăng E5 RON 92 tiếp tục là 14.409 đồng/lít, xăng RON 95 là 14.922 đồng/lít.

Dầu diesel giảm 196 đồng/lít; dầu hỏa giảm 78 đồng/lít; dầu mazut không đổi. Sau khi điều chỉnh, giá bán đối với dầu diesel là 12.201 đồng/lít; dầu hỏa là 10.207 đồng/lít và dầu mazut là 11.183 đồng/kg. 

Tại kỳ điều chỉnh lần này, liên Bộ Tài chính - Công Thương thực hiện trích lập quỹ bình ổn giá xăng dầu đối với xăng E5 RON 92 ở mức 100 đồng/lít. Trong khi đó, xăng RON 95 trích lập ở mức 200 đồng/lít; dầu diesel ở mức 500 đồng/lít; dầu hỏa ở mức 300 đồng/lít; dầu mazut ở mức 300 đồng/kg.

Đồng thời, liên Bộ chi sử dụng quỹ bình ổn giá đối với mặt hàng xăng E5 RON 92 ở mức 932 đồng/lít, xăng RON 95 là 479 đồng/lít, dầu hỏa ở mức 100 đồng/lít, dầu mazut ở mức 300 đồng/kg.

Tại kỳ điều chỉnh thứ hai, ngày 27/8, Liên Bộ quyết định không trích lập Quỹ BOG đối với xăng E5RON92 (kỳ trước trích 100 đồng/lít), xăng RON95 trích lập ở mức 100 đồng/lít (kỳ trước trích 200 đồng/lít), dầu diesel ở mức 400 đồng/lít (kỳ trước trích 500 đồng/lít), dầu hỏa ở mức 200 đồng/lít (kỳ trước trích 300 đồng/lít) và dầu mazut trích lập ở mức 100 đồng/kg (kỳ trước trích 300 đồng/lít).

Đồng thời, chi sử dụng Quỹ BOG đối với mặt hàng xăng E5RON92 ở mức 1.295 đồng/lít (kỳ trước chi 932 đồng/lít), xăng RON95 ở mức 670 đồng/lít (kỳ trước là 479 đồng/lít), dầu hỏa ở mức 0 đồng/lít (kỳ trước là 100 đồng/lít), dầu mazut ở mức 453 đồng/kg (kỳ trước 300 đồng/kg); dầu diesel ở mức 0 đồng/lít (như kỳ trước).

Sau khi thực hiện việc trích lập và chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu, giá bán mặt hàng xăng E5RON92 và dầu mazut giữ ổn định, giá dầu diesel giảm 240 đồng/lít, giá dầu hỏa giảm 82 đồng/lít, giá xăng RON95 tăng 192 đồng/lít so với giá hiện hành.

Như vậy, giá xăng đã trải qua 8 kỳ điều chỉnh liên tiếp không giảm (5 lần tăng, 3 lần giữ nguyên). Tính từ ngày 28/4, giá xăng E5 RON 92 đã tăng 3.467 đồng/lít, trong khi xăng RON 95 tăng 3.483 đồng/lít.

Tình hình dịch bệnh trong nước tiếp tục có diễn biến phức tạp tác động đến sự phục hồi tăng trưởng kinh tế và nhu cầu sử dụng nhiên liệu, năng lượng. Trong các kỳ điều hành gần đây, nhằm hỗ trợ cho nền kinh tế đang phục hồi, hạn chế mức tăng và giữ ổn định giá xăng dầu, Liên Bộ Công Thương – Tài chính đã thực hiện chi sử dụng Quỹ BOG ở mức khá cao (479-932 đồng/lít đối với các loại xăng; 100-300 đồng/lít/kg đối với các loại dầu). Kỳ điều hành này, nếu không chi Quỹ BOG, giá xăng E5RON92 sẽ tăng 1.295 đồng/lít, giá xăng RON95 tăng 862 đồng/lít, dầu mazut tăng 453 đồng/kg. 

THAN ĐÁ

Nhập khẩu than đá tăng, các chuyên gia đề xuất ngưng phát triển mới nhà máy nhiệt điện

Số liệu của Tổng cục Hải quan và Tổng cục Thống kê cho thấy, trong tháng 7, Việt Nam đã nhập khẩu 4,4 triệu tấn than đá các loại với tổng trị giá 294 triệu USD. Tính lũy kế 7 tháng của năm nay, cả nước đã nhập khẩu gần 36,5 triệu tấn than với kim ngạch 2,6 tỷ USD, trong khi cùng kỳ năm ngoái nhập chỉ khoảng 24 triệu tấn.

Đáng lưu ý, trong các thị trường truyền thống mà Việt Nam đang nhập khẩu than đá như Indonesia, Nga, Australia, Trung Quốc…, giá than nhập từ Trung Quốc luôn cao nhất. Tính trung bình giá than nhập trong 7 tháng qua từ Indonesia khoảng 1,1 triệu đồng/tấn, giá nhập trung bình của tất cả các thị trường cũng khoảng 1,6 triệu đồng/tấn thì than nhập từ Trung Quốc 6,2 triệu đồng/tấn, cao gấp 4 lần so với mức giá trung bình. Năm 2019, theo số liệu của Tổng cục Hải quan, cả nước nhập khẩu 43,85 triệu tấn than đá, tương đương 3,79 tỷ USD, tăng gần 92% về lượng và tăng hơn 48% về kim ngạch so với năm 2018.

Theo Bộ Công Thương, Việt Nam buộc phải tăng nhập khẩu than với số lượng lớn do nhu cầu than cho các nhà máy (NM) nhiệt điện ngày càng tăng. Trong khi đó, lượng than khai thác trong nước ngày càng khó khăn, chi phí tốn kém do phải khai thác dưới độ sâu dẫn đến hiệu quả không cao.

Theo báo cáo tóm tắt kết quả thực hiện Quy hoạch điện 7 đến nay đạt 93,7% tổng công suất được đặt ra trong quy hoạch. Trong đó, nguồn điện than đạt 57,6% trong khi nguồn năng lượng tái tạo vọt lên đến 205% so quy hoạch. Trong quy hoạch điện 8 dự tính giảm tỷ lệ nhiệt điện từ 42% xuống 36% vào năm 2025 và khoảng 31% năm 2045. Trong giai đoạn 2020 - 2030, sẽ tính đến khả năng không phát triển thêm các dự án điện than mới ngoài các dự án đã có trong Quy hoạch điện 7.

Trong quy hoạch ngành than Việt Nam đến năm 2020, xét triển vọng 2030, nhu cầu than dành cho nhiệt điện là 64,1 triệu tấn vào năm 2020 và lên đến 131,1 triệu tấn vào năm 2030. Tuy nhiên, cũng trong quy hoạch này, sản lượng khai thác than trong nước được tính toán chỉ đạt 47 - 50 triệu tấn vào năm 2020 và 55 - 57 triệu tấn vào năm 2030.

Trong khi đó, nguồn than khai thác còn phải dành cho nhiều lĩnh vực khác như luyện kim, xi măng, phân bón, hóa chất và các đối tượng tiêu thụ khác. Riêng các nhóm đối tượng trên cũng ước tính cần 25,5 triệu tấn than vào năm 2030.

Như vậy, tổng nhu cầu sản lượng than cả nước vào năm 2030 lên đến gần 157 triệu tấn, khai thác trong nước chỉ được tối đa 57 triệu tấn, đồng nghĩa với việc Việt Nam phải tiếp tục nhập khẩu 100 triệu tấn than vào năm 2030.

THÉP

Thép bán ra tăng mạnh do đầu tư công, xây dựng được thúc đẩy

Tháng 7, sản xuất thép các loại trong nước đạt hơn 2,1 triệu tấn, tăng 7,7% so với tháng trước và ngang mức cùng kỳ 2019. Thép các loại bán ra đạt gần 1,956 triệu tấn, tăng 11,25% so với tháng 6 nhưng giảm 3,6% so với cùng kỳ. 

Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) cho hay Chính phủ đang thúc đẩy nhiều hoạt động xây dựng, đầu tư công hơn để thúc đẩy phát triển kinh tế trong nước. Ngoài ra, Việt Nam cũng được xem là quốc gia ASEAN duy nhất được dự báo tăng trưởng dương trong năm 2020. 2 yếu tố này có tác động tích cực đến tình hình sản xuất và tiêu thụ thép trong tháng 7.

Giá các loại nguyên vật liệu sản xuất thép biến động, có chiều hướng tăng từ cuối tháng 7 đến nay. Điều này dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt giữa các nhà máy thép để giữ thị phần, hoặc đang trong giai đoạn phát triển thêm thị phần mới cạnh tranh trong cả lĩnh vực công trình và dân dụng, đặc biệt ở khu vực phía Nam.

Hiện giá bán thép trong nước đang được các doanh nghiệp giao dịch bình quân ở mức 10,9 - 11 triệu đồng/tấn (tùy loại).

Với thị trường xuất khẩu, VSA tiếp tục phát cảnh báo về việc các doanh nghiệp cần cẩn trọng trước việc kiểm soát mặt hàng thép tiền chế xuất khẩu sang thị trường Mỹ khi mặt hàng này đã được đưa vào diện cảnh báo sớm trong lĩnh vực phòng vệ thương mại.

Hiện Mỹ đã áp dụng thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp đối với sản phẩm tương tự nhập khẩu từ Trung Quốc kể từ tháng 9-2019, khiến kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc sang Mỹ giảm từ 1,2 tỉ USD năm 2018 xuống còn 711 triệu USD năm 2019.

2020 được dự báo là năm có nhiều triển vọng đối với ngành thép. Trước các cơ hội từ hội nhập, đặc biệt là việc thực thi các hiệp định như CPTPP, EVFTA, ngành thép là một trong những ngành được kỳ vọng có thêm điều kiện thúc đẩy sản xuất, xuất khẩu ra các thị trường mới.

Tuy nhiên, dịch Covid-19 diễn biến phức tạp từ đầu năm tới nay, tình hình bán thép, bao gồm cả xuất khẩu và tiêu thụ nội địa, gặp nhiều khó khăn.

Trước đó, tính chung 6 tháng đầu năm, cả nước sản xuất được hơn 13,7 triệu tấn, giảm 6,9% so với cùng kỳ năm 2019. Thép bán ra cũng giảm 9,6%, đạt hơn 13,7 triệu tấn. Tình hình xuất khẩu thép Việt Nam 2,28 triệu tấn, giảm 19,3% so với cùng kỳ năm 2019.

Tuy nhiên, tiêu thụ thép có dấu hiệu phục hồi trong quý II khi chỉ giảm 1% so với cùng kỳ năm trước, trong khi mức giảm quý I là 14%. Nhu cầu nội địa tăng 1% quý II dù quý I giảm đến 13%. SSI Research cho rằng diễn biến này là do nhu cầu bật tăng sau khi bị dồn nén trong phân khúc dân dụng.

Theo báo cáo của Trung tâm phân tích Chứng khoán SSI (SSI Research), những tháng cuối năm, Việt Nam có thể được hưởng lợi từ nhu cầu thép tại Trung Quốc tiếp tục tăng mạnh. Theo Hiệp hội Sắt và Thép Trung Quốc, tiêu dùng thép của quốc gia này kỳ vọng tăng thêm 40 triệu tấn, qua đó, nhu cầu thép Trung Quốc có thể tăng 8% so với cùng kỳ trong nửa cuối năm và tính chung cả năm thì tăng 2%. Trong nửa đầu năm, Việt Nam đã xuất khẩu sang Trung Quốc 1,06 triệu tấn thép, gấp gần 15 lần cùng kỳ năm trước và chiếm 27% giá trị xuất khẩu thép.

Đến năm 2021, nhu cầu thép dự báo tăng 3-5% từ mức thấp ghi nhận trong năm 2020 nhờ sự hồi phục của nền kinh tế thế giới, các dự án hạ tầng và dòng vốn FDI chảy mạnh vào Việt Nam.

Theo Hiệp hội thép thế giới, nhu cầu thép toàn cầu có thể tăng 4% trong năm 2021, qua đó hỗ trợ cho kênh xuất khẩu của các nhà sản xuất thép Việt Nam. 

XI MĂNG

Xuất khẩu phục hồi mạnh mẽ

Đối với thị trường xi măng, báo cáo của Trung tâm phân tích Chứng khoán SSI (SSI Research), cho biết tiêu dùng nội địa giảm 12% trong nửa đầu năm do hoạt động xây dựng chậm lại. Tuy nhiên, nhu cầu đã hồi phục trong quý II khi dịch bệnh được kiểm soát tốt hơn. Sản lượng nội địa quý II giảm 7%, tốt hơn so với mức giảm 18% ở quý I.

Kênh xuất khẩu xi măng phục hồi mạnh mẽ hơn, khối lượng xuất khẩu quý II tăng 24% so cùng kỳ năm trước, trong khi quý I giảm 10%. Điều này được được thúc đẩy bởi nhu cầu đầu tư hạ tầng ở Trung Quốc. Theo đó, tổng khối lượng xuất khẩu xi măng nửa đầu năm tăng 6%, riêng xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 35% và đóng góp 52% vào tổng giá trị xuất khẩu.

Trong nửa cuối năm, SSI Research kỳ vọng nhu cầu xi măng hồi phục 3-5%, được thúc đẩy bởi đầu tư công. Năm 2021, nhu cầu có thể tăng 3-5% từ mức thấp 2020 nhờ kinh tế nội địa hồi phục và các dự án hạ tầng được quan tâm trở lại.

GỖ

Xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ thu về hơn 1 tỉ USD chỉ trong vòng 1 tháng

Báo cáo thị trường nông, lâm, thủy sản số ra mới nhất ngày 20/8 của Bộ Công Thương dẫn số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, cho biết xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ trong tháng 7/2020 đạt 1,13 tỉ USD, tăng 29,6% so với tháng 7/2019. Trong đó xuất khẩu sản phẩm gỗ ước đạt 908 triệu USD, tăng 40,5% so với tháng 7/2019. 

Với giá trị 1,13 tỉ USD, đây là tháng đầu tiên trong năm nay mà xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt giá trị hơn 1 tỉ USD/tháng. Không những thế, giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ trong tháng 7 đã vượt qua mốc lịch sử về giá trị xuất khẩu trong 1 tháng mà ngành gỗ đã đạt được vào tháng 12/2019 với 1,11 tỉ USD.

Lũy kế từ đầu năm đến hết tháng 7/2020 trị giá xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 6,17 tỉ USD, tăng 7,6% so với cùng kì năm 2019. Trong đó xuất khẩu sản phẩm gỗ đạt 4,5 tỉ USD, tăng 10,4% so với cùng kì năm 2019. 

Theo Bộ Công Thương những yếu tố chính đẩy mạnh xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam trong thời gian qua đó là trong giai đoạn bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19, hoạt động sản xuất gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam hầu như không bị gián đoạn hay bị phong tỏa và ngừng hoạt động.

Trong khi đó nhiều thị trường sản xuất gỗ và sản phẩm gỗ lớn trên thế giới như Trung Quốc và Đức, Italy…bị gián đoạn sản xuất. 

Căng thẳng thương mại Mỹ - Trung Quốc ngày càng leo thang khiến các nhà nhập khẩu Mỹ phải chuyển hướng tăng nhập khẩu từ các thị trường khác, trong đó Việt Nam là thị trường được các nhà nhập khẩu Mỹ quan tâm. 

Cùng với đó là việc đẩy mạnh hoạt động tiếp thị trực tuyến cũng giúp các doanh nghiệp nhận được sự quan tâm từ nhiều thị trường. 

CAO DU

Giá mủ cao su nguyên liệu trên cả nước có xu hướng tăng theo giá của thị trường thế giới

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, trong tháng 7/2020, xuất khẩu cao su của Việt Nam đạt 202,83 nghìn tấn, trị giá 245,28 triệu USD, tăng 48,8% về lượng và tăng 51,1% về trị giá so với tháng 6/2020; so với tháng 7/2019 tăng 21,5% về lượng và tăng 5,2% về trị giá. Trong 7 tháng đầu năm 2020, xuất khẩu cao su đạt 684,75 nghìn tấn, trị giá 883,67 triệu USD, giảm 12,2% về lượng và giảm 17,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2019.

Giá bình quân xuất khẩu cao su của Việt Nam trong tháng 7/2020 ở mức 1.209 USD/tấn, tăng 1,6% so với tháng 6/2020, nhưng giảm 13,4% so với tháng 7/2019.

Trung Quốc là thị trường xuất khẩu cao su lớn nhất của Việt Nam trong tháng 7/2020, đạt 169,71 nghìn tấn, trị giá 203,57 triệu USD, tăng 55,7% về lượng và tăng 59,1% về trị giá so với tháng 6/2020; so với tháng 7/2019 tăng 52,4% về lượng và tăng 33% về trị giá. Tính chung 7 tháng đầu năm 2020, xuất khẩu cao su sang Trung Quốc đạt 509 nghìn tấn, trị giá 638,65 triệu USD, tăng 2,3% về lượng, nhưng giảm 5,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2019. 

Trong 7 tháng đầu năm 2020, mặc dù bị ảnh hưởng của dịch Covid-19 nhưng xuất khẩu cao su sang một số thị trường vẫn đạt được sự tăng trưởng so với cùng kỳ năm 2019 như: Pakistan, Argentina, Cộng Hoà Séc…, nhưng các thị trường này chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong xuất khẩu cao su của Việt Nam. 

Ô TÔ

Ô tô đồng loạt giảm giá sâu

Tháng qua, thị trường ô tô Việt tiếp tục chứng kiến cuộc đua giảm giá xe ồ ạt của các hãng và đại lý mà vẫn ế hàng. Không chỉ vắng khách mua xe mà khách tới tham quan, tìm hiểu cũng rất thưa thớt. Thậm chí, nhiều đại lý chấp nhận cho khách đặt cọc mua xe trước để được hưởng nhiều ưu đãi trong tháng "cô hồn" mà không cần giao xe ngay, có thể qua tháng sau mới lấy xe về, nhưng cũng không lôi kéo được khách hàng.

Mức giảm giá, ưu đãi trong tháng này có thể coi là lớn nhất năm. Khách hàng không chỉ được miễn, giảm lệ phí trước bạ mà còn được giảm thêm trực tiếp vào giá xe, tặng quà, tặng gói phụ kiện trị giá lớn. Chẳng hạn, nhiều đại lý Ford giảm giá lên tới 165 triệu đồng cho khách mua xe trong tháng 8; đồng thời, tặng gói phụ kiện như phủ ceramic, tặng camera, lót sàn, dán phim và hỗ trợ 100% phí trước bạ.

Với khách hàng mua xe Subaru, đại lý ưu đãi khoảng 190-240 triệu đồng tiền mặt tùy chiếc, tặng thêm gói bảo dưỡng miễn phí 2 năm. Volkswagen tặng 1 năm bảo hiểm vật chất. Toyota tặng 1 năm bảo hiểm miễn phí, gói bảo dưỡng miễn phí trong 3 năm cho mẫu xe Fortuner song song với giảm ngay tiền mặt gần 100 triệu đồng/chiếc. Tương tự, Isuzu giảm lệ phí trước bạ 50%, giảm tiền mặt đến 70 triệu đồng…

Hiệp hội Các nhà sản xuất ôtô Việt Nam (VAMA) cũng ghi nhận tồn kho ôtô trong quý II/2020 khá cao, ở mức 129,6% so với cùng kỳ năm 2019. Trong khi đó, nhu cầu về ôtô giảm 28% so với cùng kỳ, dẫn đến nhiều mẫu xe tiếp tục phải hạ giá. Ngoài ra, một loạt mẫu xe mới ra mắt gần đây cũng khiến các doanh nghiệp phải đẩy nhanh tiêu thụ xe tồn kho với giá lỗ.

Về mặt chính sách, do dịch Covid-19 ảnh hưởng tiêu cực đến ngành ôtô nên Chính phủ đã chấp thuận giảm 50% lệ phí trước bạ cho các mẫu xe sản xuất, lắp ráp trong nước. Bộ Tài chính đang xin ý kiến về dự thảo Nghị định gia hạn thời hạn nộp thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) đối với ôtô sản xuất hoặc lắp ráp trong nước, nhằm thực hiện Nghị quyết số 84/NQ-CP của Chính phủ về các nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho sản xuất - kinh doanh, hỗ trợ đối tượng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. Theo đó, doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ôtô trong nước có thể được gia hạn thời hạn nộp thuế đối với số thuế TTĐB phải nộp phát sinh của kỳ tính thuế tháng 3, 4, 5, 6 của năm 2020. Thời gian gia hạn là 5 tháng kể từ ngày kết thúc thời hạn nộp thuế TTĐB theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

Trong khi đó, ô tô nhập khẩu lại bất ngờ tăng mạnh. Theo thông tin Tổng cục Hải quan vừa công bố, 15 ngày đầu tháng 8 cả nước nhập khẩu 4.078 ô tô nguyên chiếc các loại, tổng kim ngạch hơn 96,6 triệu USD. Trong đó, ô tô dưới 9 chỗ ngồi là 2.451 xe, tổng kim ngạch hơn 53 triệu USD.

Đáng chú ý, sản lượng nhập khẩu trong nửa đầu tháng 8 gần bằng sản lượng cả tháng 7 trước đó (4.760 xe) và xấp xỉ với sản lượng cùng kỳ 2019 (kỳ 1 tháng 8/2019 đạt 4246 xe).

Như vậy, lũy kế từ đầu năm đến 15/8, cả nước nhập khẩu 49.048 ô tô nguyên chiếc, tổng kim ngạch hơn 1,1 tỷ USD. Nhưng so với cùng kỳ 2019, sản lượng và kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này vẫn thấp hơn nhiều. Cụ thể, cùng kỳ năm ngoái đạt 89.858 xe, kim ngạch hơn 2 tỷ USD.

Xét về thị trường, cập nhật của Tổng cục Hải quan hết tháng 7 cho thấy, Thái Lan và Indonesia là những nhà nhập khẩu ô tô lớn nhất của Việt Nam. 

GẠO

Giá lúa gạo ở vùng ĐBSCL tăng cao, thị trường tiêu thụ hút hàng

Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) vừa có hiệu lực từ ngày 1/8/2020 đã mang lại những cơ hội lớn cho gạo Việt. Nhờ tác động tích cực của việc giảm thuế cùng với thị trường đang sôi động nên trong tháng 8, giá gạo ST20 xuất khẩu sang Liên minh châu Âu (EU) đã đạt trên 1,000 USD/tấn, gạo Jasmine cũng có giá trên 600 USD/tấn. Đây là lần đầu tiên gạo Việt Nam có giá xuất ngang hàng với loại gạo ngon top đầu của Thái Lan trong vòng 30 năm.

Theo thông tin từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), từ giữa tháng 7 giá gạo xuất khẩu của Việt Nam liên tục tăng và có thời điểm đã vượt qua giá gạo cùng chủng loại của nhiều nước, trong đó có Thái Lan để vươn lên dẫn đầu thế giới. Đây là lần đầu tiên gạo Việt Nam có giá xuất ngang ngửa với gạo Thái Lan trong vòng 30 năm, nhất là đối với gạo loại 5% tấm.

Theo lý giải của các chuyên gia, nguyên nhân đến từ việc đồng Baht Thái tiếp tục tăng giá so với USD khiến hoạt động xuất khẩu của nước này gặp thiệt thòi. Bên cạnh đó, loại gạo 5% tấm hiện nay trên thị trường cũng đã hết, vụ hè thu ít người trồng loại này nên cung không đủ cầu khiến giá tăng mạnh.

Thông tin từ một số doanh nghiệp xuất khẩu gạo cho biết, giá gạo Việt Nam tăng cao một phần cũng đến từ chất lượng được cải thiện, lợi thế có sẵn nguồn cung và giao hàng nhanh trong bối cảnh Covid-19 khiến các nhà nhập khẩu ưu tiên. Ngoài ra, hiệu ứng tích cực cũng đến từ việc Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU (EVFTA) chính thức có hiệu lực từ 1/8/2020. Cụ thể, với cam kết trong EVFTA, EU dành cho Việt Nam hạn ngạch 80.000 tấn gạo/năm (gồm 30,000 tấn gạo xay xát, 20,000 tấn gạo chưa xay xát và 30,000 tấn gạo thơm). Đặc biệt, EU sẽ tự do hóa hoàn toàn đối với gạo tấm; đưa thuế suất về 0% sau 3 - 5 năm đối với sản phẩm từ gạo. Tất nhiên, để có thể vào được EU, hạt gạo Việt cũng phải đáp ứng nhiều tiêu chuẩn khắt khe. Theo đó, gạo phải đảm bảo được truy xuất nguồn gốc với địa chỉ vùng trồng rõ ràng, không còn dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và phải đạt đạt tiêu chuẩn GlobalGAP hoặc tương đương. 

THỦY SẢN

Thực thi EVFTA, xuất khẩu thủy sản sang EU tăng 10% so với tháng trước

Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), mặc dù làn sóng thứ 2 của dịch bệnh Covid-19 đang diễn biến phức tạp, nhưng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường EU đang có nhiều dấu hiệu lạc quan, một phần do tác động tích cực của Hiệp định EVFTA.

Thống kê sơ bộ cho thấy, dù dịch bệnh Covid-19 đang "nóng" trên thế giới trong đó có Việt Nam, nhưng số lượng đơn hàng tháng 8/2020 sang thị trường EU tăng khoảng 10% so với tháng 7/2020, chủ yếu tập trung vào các mặt hàng lợi thế của Việt Nam là tôm và mực.

Trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 ảnh hưởng đến kinh tế toàn cầu, mức tăng 10% trong xuất khẩu thủy sản là con số đáng khích lệ,  mặc dù trước đó khi chưa xuất hiện dịch bệnh Covid-19, VASEP kỳ vọng con số tăng trưởng đạt khoảng 20%.

Xuất khẩu tôm dự báo tăng tiếp từ nay đến cuối năm: Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), tháng 7, xuất khẩu tôm Việt Nam đạt 388,5 triệu USD. Tính chung 7 tháng, xuất khẩu tôm đạt 1,9 tỷ USD, tăng 7,7% so với cùng kỳ năm ngoái. VASEP đánh giá kết quả này đáng ghi nhận trong bối cảnh dịch Covid-19 vẫn còn tiếp diễn ở các thị trường chính.

Trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19, nhu cầu nhập khẩu tôm Việt Nam từ các thị trường lớn không bị sụt giảm. Việc kiểm soát dịch bệnh của Chính phủ Việt Nam được đánh giá hiệu quả hơn so với các nước trong khi nhiều đối thủ cạnh tranh với Việt Nam vẫn phải vật lộn với dịch bệnh nên khách hàng những nước này chuyển sang nhập khẩu tôm của Việt Nam.

Tại thị trường Mỹ, từ đầu năm tới nay, tôm Việt Nam có lợi thế cạnh tranh hơn so với các nguồn cung đối thủ nhờ ổn định lại sản xuất nhanh hơn sau Covid-19. Các nguồn cung như Ấn Độ và Ecuador vẫn còn đang phải chịu tác động nặng nề từ dịch bệnh. Các nhà chế biến và xuất khẩu tôm của Ấn Độ, Ecuador không chỉ chịu tác động bởi đơn hàng giảm mà ngay cả hoạt động sản xuất trong nước bị đình trệ.

Dù vậy, xuất khẩu sang Nhật Bản, thị trường lớn thứ hai, lại không ổn định. Trong tháng 7, xuất khẩu tôm sang Nhật Bản đạt 51,5 triệu USD, giảm 7,8% so với tháng cùng kỳ. 7 tháng, kim ngạch đạt 329,7 triệu USD, tăng 0,2% so với cùng kỳ năm ngoái. Xuất khẩu tôm Việt Nam sang Nhật Bản trong năm nay dự kiến giảm khoảng 2% so với năm 2019.

Xuất khẩu sang Trung Quốc trong tháng 7 vẫn tăng trưởng dương tuy nhiên tốc độ đã giảm so với tháng trước đó. Trong khi đó, kim ngạch sang các thị trường Hàn Quốc, Anh, Canada, Australia đồng loạt tăng trưởng hai con số trong tháng 7 năm nay.

Còn tại EU, xuất khẩu tôm Việt Nam có xu hướng tăng khi đạt 54,2 triệu USD, tăng 2% trong tháng 7. Hiệp định EVFTA sẽ là đòn bẩy để thúc đẩy xuất khẩu sang thị trường EU trong những tháng cuối năm nếu các doanh nghiệp có nguồn nguyên liệu tốt và tận dụng hiệu quả ưu đãi thuế quan.

Theo VASEP, với những tín hiệu khả quan, xuất khẩu tôm Việt Nam dự kiến vẫn tiếp tục tăng trưởng trong các tháng tới. Cả năm 2020, dự kiến xuất khẩu tôm Việt Nam đạt 3,6 tỷ USD, tăng 8% so với năm 2019.

Trong tháng qua, UBND tỉnh Bạc Liêu vừa phê duyệt đề án xây dựng Bạc Liêu trở thành trung tâm ngành công nghiệp tôm cả nước. Mục tiêu của đề án là phát triển Bạc Liêu trở thành đầu mối của ngành tôm. Nguồn vốn dự kiến để triển khai đề án là hơn 3.000 tỷ đồng. Theo nội dung đề án, trung tâm công nghiệp tôm của cả nước sẽ đẩy mạnh hợp tác, liên kết với các địa phương, nhất là các tỉnh trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long và TP HCM cả về sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, góp phần hạn chế tình trạng đầu tư manh mún, dàn trải, kém hiệu quả.

2 đối tượng tôm nước lợ chủ lực của tỉnh là tôm thẻ chân trắng và tôm sú sẽ được phát triển theo hướng nâng cao chất lượng và phát triển bền vững, nhằm tạo thương hiệu tôm sạch Bạc Liêu; từng bước xây dựng thương hiệu cho tôm giống Bạc Liêu.

Xuất khẩu cá ngừ có tín hiệu khả quan: Sau một thời gian dài sụt giảm nhập khẩu liên tục, xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam sang EU đã tăng gần 65% trong tháng 7/2020. Sự tăng trưởng này đã giúp tăng tỷ trọng của thị trường EU trong tổng xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam 7 tháng đầu năm 2020 lên hơn 20%. Đáng chú ý, xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam sang 3 thị trường chính trong khối EU là Đức, Italy và Hà Lan đã có sự tăng trưởng cao ở mức ba con số trong tháng 7, lần lượt là 119%, 200% và 210%.

Theo VASEP sự tăng trưởng này là do tác động của việc Hiệp định Thương mại Tự do giữa Liên minh Châu Âu và Việt Nam (EVFTA) có hiệu lực từ ngày 01/8/2020 đã khiến cho các nhà nhập khẩu EU tăng cường nhập khẩu từ Việt Nam. Thông thường, các lô hàng xuất khẩu từ Việt Nam sang EU thường mất ít nhất khoảng 3 tuần. Chính vì vậy, mà trong tháng 7 các lô hàng cá ngừ của Việt Nam đang được xuất cảng sớm để có thể sang tới nước xuất khẩu nhập kho ngoại quan chờ "thời điểm vàng" để thông quan và được hưởng mức thuế ưu đãi .

Trái với xu hướng xuất khẩu sang EU, xuất khẩu cá ngừ sang thị trường Mỹ vẫn ở mức thấp. Mặc dù xuất khẩu nhóm mặt hàng cá ngừ chế biến và đóng hộp mã HS16 của Việt Nam sang thị trường này vẫn tiếp tục tăng, nhưng tốc độ tăng trưởng không đủ cao để có thể bù đắp lại lượng sụt giảm trong xuất khẩu cá ngừ tươi sống và đông lạnh. Do đó, tính tổng 7 tháng đầu năm 2020, xuất khẩu cá ngừ sang Mỹ vẫn giảm gần 19%. Hiện tại, sau giai đoạn đầu bùng phát dịch bệnh Covid-19 khiến cho nhu cầu mua tích trữ của người tiêu dùng Mỹ tăng cao, sức mua các mặt hàng cá ngừ bảo quản đã ổn định. VASEP dự kiến nhập khẩu cá ngừ đóng hộp của Mỹ sẽ vẫn duy trì tăng trưởng ở mức như hiện nay, tăng trưởng dao động xung quanh ở mức 11% so với cùng kỳ.

ĐIỀU

Giá xuất khẩu giảm mạnh, doanh nghiệp thiệt hại kép

Giá điều thô lẫn điều hạt giảm, trong khi nhu cầu tiêu thụ giảm, yêu cầu xuất khẩu ngày càng khắt khe khiến nhiều doanh nghiệp (DN) ngành này lao đao.

Nhiều DN sản xuất điều cho biết đang bị lỗ nặng do dự trữ nguyên liệu với giá cao nhưng phải xuất khẩu với giá thấp. Thông thường, các DN dự trữ nguyên liệu bằng cách nhập khẩu từ cuối năm ngoái để chế biến xuất khẩu cho năm nay. Thời điểm cuối năm ngoái, giá điều thô nhập khẩu khá cao, lên đến 1.200 USD/tấn; một số DN tồn nguyên liệu mua từ trước đó thì giá còn cao hơn, lên đến 1.400-1.500 USD/tấn. Đến đầu năm 2020, giá điều thô nhập khẩu giảm còn 1.000 USD/tấn, có thời điểm xuống khoảng 900 USD/tấn. Cùng với diễn biến giảm giá nguyên liệu điều thô nhập khẩu, từ đầu năm đến nay, giá xuất khẩu điều nhân cũng giảm liên tục khiến nhiều DN thiệt hại nặng. Hiện giá xuất khẩu bình quân hạt điều đạt 5.805 USD/tấn - mức thấp nhất trong nhiều năm.

Theo Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas), tổng sản lượng điều thô nhập khẩu về Việt Nam 6 tháng đầu năm giảm đến 12% so với cùng kỳ, nguyên nhân chính là do những tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19 dẫn đến thời gian vận chuyển hàng từ Tây Phi về Việt Nam thường xuyên bị gián đoạn, trì hoãn. Các DN nhập khẩu khoảng 635.000 tấn điều thô, giảm 12% so với cùng kỳ. Giá nhập khẩu bình quân 1.287 USD/tấn, giảm gần 12% so với cùng kỳ và là mức giảm mạnh nhất trong vòng 10 năm qua. Xu hướng giảm giá điều thô lẫn điều nhân thời gian qua khiến nhiều DN không thể cân đối giá thành sản xuất, chế biến, buộc phải giảm sản lượng hoặc tạm ngừng hoạt động vì càng làm càng lỗ.

Không chỉ DN lỗ lã mà nông dân trồng điều cũng bị thiệt hại theo. Số liệu của Vinacas cho thấy 7 tháng đầu năm, sản lượng điều thô trong nước có tăng nhưng thu nhập của nông dân trồng điều lại giảm đáng kể do biến động thị trường. Tại Bình Phước, giá hạt điều thời gian qua chỉ từ 18.000 đồng - 21.000 đồng/kg, trong khi cùng kỳ năm ngoái lên đến 30.000 đồng - 32.000 đồng/kg.

Trong khi đó, xuất khẩu điều đối diện nhiều khó khăn. Giá điều nhân trắng nguyên hạt giảm thấp nhất trong hơn thập kỷ qua, riêng nhóm hàng cấp thấp giá rớt kỷ lục. Do giá giảm, khách hàng chú ý nhiều hơn đến chất lượng nên nhiều vụ tranh chấp thương mại đã xảy ra, nhiều lô hàng xuất khẩu bị trả về. Chưa kể nghịch lý cùng một mã hàng, giá điều nhân mua bán nội địa cao hơn giá xuất khẩu 15%-20%. Thực trạng này đã làm cho tình hình kinh doanh của một số DN, đặc biệt là nhóm DN thuần xuất khẩu gặp rất nhiều khó khăn.  

HỒ TIÊU

Xuất khẩu hồ tiêu giảm 20%

Theo Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), 7 tháng đầu năm 2020, Việt Nam xuất khẩu được 187.000 tấn hồ tiêu, đạt giá trị 405 triệu USD, giảm 6,5% về khối lượng và giảm 20,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2019.

Giá hồ tiêu xuất khẩu bình quân 6 tháng năm 2020 đạt 2.134 USD/tấn, giảm 16,4% so với cùng kỳ năm 2019. Các chuyên gia dự báo: giá hồ tiêu sẽ giảm trong ngắn hạn do thương mại hồ tiêu toàn cầu đang bị ảnh hưởng do dịch Covid-19. Trong các tháng tới, sức mua được dự báo sẽ giảm từ thị trường châu Âu và Mỹ trước làn sóng Covid-19 thứ 2.

Thêm vào đó, thảm họa thiên tai tại Trung Quốc, một trong các thị trường nhập khẩu hồ tiêu lớn của Việt Nam, sẽ tác động đến nhu cầu nhập khẩu hồ tiêu của quốc gia này trong giai đoạn ngắn hạn. Trước tình hình trên, các chuyên gia khuyến nghị các DN xuất khẩu cần lựa chọn các biện pháp thực thi và thanh toán phiếu nhằm giảm thiểu rủi ro, hạn chế các phát sinh thương mại quốc tế.

Cuối tháng 8, giá tiêu nguyên liệu khu vực Tây Nguyên vẫn ổn ở mức 47.500 - 50.000 đồng/kg. 

Liên quan tới việc giải cứu 62 container hồ tiêu trị giá hơn 3 triệu USD của 15 doanh nghiệp bị mắc kẹt tại Nepal, Ấn Độ chưa biết đến khi nào mới có thể đưa về Việt Nam,

Ngày 20-8, đại diện Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA) cho biết đến nay, các container hồ tiêu của Việt Nam xuất khẩu sang Nepal đã bị mắc kẹt hơn 4 tháng. Trong số này có 46 container bị kẹt ở Nepal và 16 container bị kẹt ở Ấn Độ (nước trung chuyển). Với sự giúp đỡ của Đại sứ Việt Nam tại Ấn Độ và Thương vụ Việt Nam tại Ấn Độ (kiêm nhiệm Nepal), phía Hải quan Nepal đã cấp chứng nhận đủ điều kiện giải phóng hàng (NOC) cho 46 container bị kẹt ở đây. Vấn đề phát sinh là 46 container này muốn tái xuất về Việt Nam phải được trung chuyển qua Ấn Độ. Đại lý làm thủ tục hải quan mà các DN Việt Nam thuê đã làm thủ tục trình lên hải quan biên giới Raxaul (Ấn Độ) nhưng đến nay đã hơn 3 tuần, hải quan Raxaul vẫn chưa phê duyệt để kéo hàng ra.

Còn đối với 16 container hồ tiêu bị kẹt từ đầu tại Ấn Độ, các DN Việt Nam và đại lý hải quan đã làm hồ sơ xin tái xuất từ lâu nhưng đến nay vẫn chưa được cho phép tái xuất. Đáng lo nhất là hiện một số container hồ tiêu của Việt Nam bị kiểm tra bởi Cơ quan Phòng chống gian lận thương mại Ấn Độ (DRI) khiến quá trình đưa hàng về Việt Nam kéo dài.

Mới đây, Bộ Công Thương cũng đã cảnh báo về việc Ấn Độ có khả năng siết chặt tiêu chuẩn đối với hồ tiêu nhập khẩu. Để giảm thiểu các rủi ro trong hoạt động kinh doanh với thị trường Ấn Độ, Bộ Công Thương khuyến cáo các DN cần nắm thông tin, kiểm soát chất lượng hồ tiêu xuất khẩu và có biện pháp ứng phó trong trường hợp Ấn Độ đưa ra biện pháp chính sách đột ngột gây bất lợi cho hoạt động xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam sang Ấn Độ.

 

 

 

 

 

Các tin khác
Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (024) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (024) 39762593 
Email:ttgcvattu1989@gmail.com