Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Diễn biến thị trường hàng hóa nguyên liệu trong nước tháng 7-2020
Cập nhật: 31-7-2020

VÀNG

Giá vàng tăng “dữ dội” trong tháng 7, tăng hơn 8 triệu đồng mỗi lượng, đạt mức cao nhất từ trước đến nay

Theo Tổng cục Thống kê, trong tháng 7, giá vàng trong nước đã tăng mạnh theo giá vàng thế giới do tình hình kinh tế thế giới dự báo tiêu cực, dịch Covid-19 tiếp tục lan nhanh, các nước đều đưa ra các gói kích thích kinh tế. Hơn nữa, trong nước, lãi suất tiết kiệm giảm mạnh, trái phiếu doanh nghiệp tiềm ẩn rủi ro, dẫn đến nhu cầu mua các loại tài sản an toàn như vàng tăng cao. Chỉ số giá vàng tháng 7/2020 đã tăng 3,49% so với tháng trước; tăng 20,89% so với tháng 12/2019 và tăng 28,57% so với cùng kỳ năm trước.

Trong tuần đầu của tháng 7, trước diễn biến tăng mạnh của giá vàng thế giới, thị trường vàng trong nước đã “nổi sóng” theo. Giá vàng đã vượt qua mốc trên 50 triệu đồng mỗi lượng vào chiều ngày 6/7. Trước đó, sáng ngày 1/7, giá vàng SJC được doanh nghiệp niêm yết giao dịch ở mức 49,15 triệu đồng/lượng (mua vào) - 49,62 triệu/lượng (bán ra). 

Sau khi chinh phục đỉnh lịch sử, giá vàng miếng tiếp tục tăng mạnh vào các ngày tiếp theo và đạt mức cao nhất của tuần vào chiều ngày 9/7 với mức giá bán ra tại công ty VBĐQ Sài Gòn là 50,78 triệu đồng/lượng (lúc 15h30' ). Cùng thời điểm trên, giá mua vào là 50,35 triệu đồng/lượng. Tuy nhiên, theo ghi nhận tại các hệ thống kinh doanh vàng, không có tình trạng người dân đổ xô đi mua vàng như những lần tăng giá trước đây.

Bước sang tuần thứ 2, giá vàng trong nước vẫn “cố thủ” ở mức cao trên 50 triệu đồng/lượng. Ngày 14-7, công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết giá vàng miếng mua vào 50,17 triệu đồng/lượng, bán ra 50,53 triệu đồng/lượng, giảm khoảng 60.000 đồng/lượng so với phiên đầu tuần. Nhiều ngân hàng thương mại cũng điều chỉnh giá vàng SJC lùi sâu về mức 50,15 triệu đồng/lượng mua vào, 50,35 triệu đồng/lượng bán ra. Đến cuối tuần (17/7), giá vàng SJC được niêm yết ở mức 50,28 - 50,67 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra). Trên thị trường thế giới, giá vàng giao ngay tuần qua giảm xuống dưới ngưỡng quan trọng 1.800 USD/ounce trong bối cảnh đồng USD mạnh lên và Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) quyết định giữ nguyên chính sách tiền tệ, qua đó thúc đẩy một số nhà đầu tư bán ra chốt lời. 

Sang tuần thứ 3, giá vàng tiếp đà tăng "dữ dội", vượt mốc 56 triệu đồng/lượng. Cụ thể, tại thời điểm 10h sáng ngày 24/7, giá vàng SJC được Công ty TNHH MTV Vàng Bạc Đá Qúy Sài Gòn bán ở mức 56,1 triệu đồng/lượng, tăng hơn 1 triệu đồng/lượng so với đầu phiên sáng. Ở chiều mua vào, giá vàng SJC ở mức 54,6 triệu đồng/lượng, tăng 700.000 đồng/lượng so với đầu phiên sáng. Trên thị trường thế giới, giá vàng tuần qua duy trì trên đỉnh 9 năm - cao nhất kể từ khi lập kỷ lục trên 1.900 USD hồi năm 2011. 

Đà tăng phi mã chưa dừng lại ở mức giá 56 triệu đồng. Trong những ngày gần cuối tháng 7, thị trường vàng đã thiết lập mức giá không thể ngờ. Sáng 28/7, giá vàng SJC của công ty VBĐQ Sài Gòn đã chính thức vượt mức trên 58 triệu đồng (giá bán ra) và giá mua vào là 56,70 triệu đồng mỗi lượng. Đây được xem là mức giá cao nhất trong vòng vài chục năm trở lại đây và khiến thị trường dậy sóng. Trên thị trường vàng thế giới, giá vàng giao ngay chốt phiên đêm 27/7 tại Mỹ tăng 41,7 USD lên 1.943 USD/ounce. Sang phiên châu Á sáng 28/7, giá vàng tiếp tục tăng mạnh và chạm 1.980 USD/ounce trước khi hạ nhiệt nhẹ về dưới 1.965 USD/ounce sau đó. Giá vàng tương lai giao tháng 9 trên sàn Comex New York tăng 33,1 USD lên 1.969,3 USD/ounce.

Trao đổi với phóng viên về xu hướng tăng - giảm của giá vàng vào một số phiên giao dịch, đại diện DOJI cho rằng, trong khi nhiều người ồ ạt chốt lời, nhiều nhà đầu tư vẫn có tâm lý lưỡng lự, quan sát xu hướng để đưa ra quyết định.

Trong khi đó, đại diện Bảo Tín Minh Châu cho rằng, về dài hạn giá vàng có thể sẽ tiếp tục tăng vì tình hình dịch bệnh COVID-19 tăng cao, cùng với sự lo ngại về sự suy giảm kinh tế toàn cầu, cùng với sự căng thẳng chính trị giữa một số nước trên thế giới.

 

ĐÔ LA

 

Tỷ giá trung tâm ít biến động trong tháng 7, giá giao dịch USD nhìn chung ổn định

Trái ngược với biến động mạnh trên thị trường vàng, tỷ giá giao dịch đồng USD so với VND trong tháng 7 hầu như không có nhiều biến động lớn. Mức cao nhất của tỷ giá trung tâm trong tháng 7/2020 là 23.295 đồng/USD được NHNN công bố vào sáng 3/7. Mức thấp nhất tháng là 23.250 đồng/USD và diễn ra trong nhiều phiên giao dịch. 

Tại các NHTM, giá giao dịch đồng USD nhìn chung cũng ổn định. Đa số qua các phiên, giá mua vào – bán ra đồng USD ở khoảng 23.090 - 23.270 VND/USD. 

Theo TS Nguyễn Xuân Thành, tính đến giữa tháng 7-2020 so thời điểm 31-12-2019, tỷ giá VND biến động trong khoảng 0,1 - 0,3% so USD. Trong khi đó, các đồng tiền khác, đặc biệt trong khu vực ASEAN, đều mất giá mạnh so USD như SGD giảm (-) 3,26%, THB -3,87%, MYR -4,4%, KRW -2,44%, CNY -1,55%... Các nước trong khu vực ASEAN để đồng tiền của mình mất giá với kỳ vọng chủ động tài chính, bơm mạnh tiền vào nền kinh tế, cùng với đó là giữ cạnh tranh cho xuất khẩu.

Một nghiên cứu của Ban Kinh doanh vốn và tiền tệ BIDV nhận định, trong quý III - 2020, TTNH trong nước dự kiến duy trì ổn định khi các yếu tố hỗ trợ trong quý II tiếp tục thuận lợi. Theo đó, tỷ giá có thể trong xu hướng đi ngang với biên độ 23.180 - 23.200 đồng/USD. 

Dự kiến trong quý III, thanh khoản USD liên NH sẽ duy trì xu hướng ổn định với lãi suất bình quân quanh mức 0,1 - 0,3%/năm kỳ hạn qua đêm - 1 tuần và 1 - 1,2%/năm với kỳ hạn 1 - 3 tháng khi các yếu tố tác động nhìn chung chưa có nhiều thay đổi so quý II - 2020. Nguyên nhân đến từ dự báo Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) sẽ duy trì lãi suất cơ bản ở mặt bằng thấp để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế Mỹ. Theo ước tính của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), kinh tế Mỹ trong năm 2020 dự kiến tăng trưởng âm 8% dưới tác động của dịch bệnh. Thặng dư tài khoản vãng lai dự kiến sẽ duy trì trong năm 2020 ở mức 2,6% GDP. Áp lực đến từ bên ngoài thấp trong bối cảnh các NHTƯ trên thế giới “nới lỏng” chính sách tiền tệ, dự trữ ngoại hối được cải thiện sẽ hỗ trợ sự ổn định của tiền đồng, nên dự báo tỷ giá cuối năm nay sẽ nằm trong khoảng 23.300 - 23.600 đồng/USD.

Ông Nguyễn Đức Hùng Linh, Giám đốc Nghiên cứu phát triển của Công ty Chứng khoán SSI cho rằng, trong những tháng tới, nhiều khả năng tỷ giá sẽ đi ngang. Trong kịch bản xấu, nếu diễn biến dịch bệnh vẫn khó kiểm soát có thể kéo theo sự lên giá của đồng USD trên toàn cầu. Ngoài ra, căng thẳng Mỹ - Trung Quốc leo thang và kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm cũng có thể  tiềm ẩn nguy cơ đồng CNY mất giá, từ đó tạo áp lực nhất định lên VND. Tuy nhiên, với sự hậu thuẫn nguồn cung ngoại tệ hiện tại, mức mất giá của VND so USD trong năm nay cũng sẽ không vượt quá mức đỉnh tháng 3-2020 là 2%. 

 

THÉP XÂY DỰNG

 

6 tháng đầu năm 2020 lượng sắt thép xuất khẩu đạt 3,91 triệu tấn, tương đương 2,09 tỷ USD

Thông tin Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) vừa công bố cho thấy, sau khi gặp nhiều khó khăn trong quý I, sang quý II, tiêu thụ thép đã phục hồi đáng kể. Sản lượng bán thép xây dựng nội địa tăng 13,2% so với quý trước, tương đương so với cùng kỳ năm ngoái. Xuất khẩu thép cũng đang có dấu hiệu phục hồi sau khi giảm sâu trong quý I, đạt 300.438 tấn trong tháng 6, tăng 14,5% so với tháng trước. Tuy nhiên, tính chung 6 tháng, xuất khẩu thép các loại đạt 1.855.267 tấn, giảm 24,6% so với cùng kỳ năm 2019.

Dịch Covid-19 mặc dù tạo ra nhiều khó khăn song cũng là “phép thử” để doanh nghiệp tái cơ cấu, nâng cao sức cạnh tranh và chiếm lĩnh thị phần. Trong nửa cuối năm 2020, ngành thép được dự báo sẽ còn tiếp tục gặp nhiều khó khăn và thử thách bởi xu thế bảo hộ trên thị trường quốc tế, thị trường bất động sản, xây dựng trong nước chưa có tín hiệu khởi sắc. Bên cạnh đó, nguồn nguyên liệu phục vụ cho sản xuất của ngành thép bị gián đoạn. Tuy nhiên, cơ hội cũng đến khi ở thị trường trong nước, Chính phủ đang thúc đẩy nhiều hoạt động xây dựng hơn sau khi dỡ bỏ đóng cửa do Covid-19.

Dù xuất khẩu thép được dự báo vẫn chưa hết khó, song Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) có hiệu lực từ ngày 1/8 được kỳ vọng sẽ giúp sản phẩm thép Việt hiện diện rõ hơn ở thị trường này. Ông Nguyễn Văn Sưa - chuyên gia trong lĩnh vực thép - cho rằng, cơ hội của ngành thép Việt để xuất khẩu sang thị trường EU rất lớn, doanh nghiệp cần có sự chuẩn bị kỹ để đón nhận cơ hội này.

6 tháng đầu năm 2020 lượng sắt thép xuất khẩu của cả nước đạt 3,91 triệu tấn, tương đương 2,09 tỷ USD, giá 533,2 USD/tấn.

Theo tính toán từ số liệu của Tổng cục Hải quan, trong tháng 6/2020 cả nước xuất khẩu 882.019 tấn sắt thép, thu về 418,1 triệu USD, giá trung bình 474 USD/tấn, tăng mạnh 105,9% về lượng, tăng 70,3% về kim ngạch nhưng giá giảm 17,3% so với tháng 5/2020.

XĂNG DẦU 

Xăng dầu đã có một lần giữ nguyên và 1 lần tăng giá nhẹ trong tháng 7

Trước những diễn biến giá xăng dầu trên thế giới trong thời gian gần đây và thực hiện điều hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, Liên Bộ Công Thương - Tài chính tiếp tục điều hành giá mặt hàng xăng dầu trong nước trong tháng 7/2020 theo xu hướng: giữ nguyên giá tại kỳ điều chỉnh ngày 13-7 và tăng nhẹ ở kỳ điều chỉnh ngày 28/7.

Theo Bộ Công Thương, sau khi dịch COVID-19 có dấu hiệu giảm, đặc biệt sau khi Chính phủ dỡ bỏ lệnh giãn cách xã hội khiến nhu cầu sử dụng xăng dầu cho hoạt động kinh doanh, sản xuất, tiêu dùng tại thị trường nội địa tăng mạnh.

Cụ thể hơn, tại kỳ điều chỉnh ngày 13/7, Liên bộ Công Thương – Tài chính đã quyết định mỗi lít E5 RON92 vẫn ở mức tối đa 14.258 đồng; RON 95 không quá 14.973 đồng; dầu hoả 12.114 đồng; dầu diesel 10.038 đồng và madut là 10.903 đồng một kg.

Thay vào đó, liên Bộ tăng mức chi Quỹ bình ổn giá với E5 RON92 thêm 61 đồng, lên 961 đồng một lít. Mức chi Quỹ bình ổn với các mặt hàng dầu hoả, dầu diesel và madut lần lượt là 167 đồng, 88 đồng và 254 đồng mỗi lít.

Cùng đó, nhà điều hành tăng mức trích Quỹ bình ổn với E5 RON92 thêm 50 đồng, lên 100 đồng một lít; giữ mức trích 200 đồng mỗi lít với xăng RON 95. Mỗi lít dầu diesel giảm 100 đồng trích Quỹ bình ổn, về 500 đồng.

Dầu hoả và madut cũng giữ nguyên mức trích như kỳ điều hành cách đó 15 ngày là 300 đồng một lít.

Theo thông báo của liên Bộ Công Thương - Tài chính, việc giá không đổi này để hỗ trợ sản xuất kinh doanh và tiêu dùng.

Theo dữ liệu của cơ quan này, giá xăng dầu 15 ngày trước kỳ điều chỉnh ngày 13/7 có xu hướng tăng, giảm đan xen. Bình quân giá thành phẩm mỗi thùng RON95 là 46,679 USD, giảm 0,34% so với kỳ trước; dầu diesel là 49,237 USD một thùng, tăng 3,41%...

Như vậy, kể từ đầu năm đến 13/7, giá xăng dầu trong nước đã có 8 phiên điều chỉnh giảm giá và 4 lần tăng giá. 

Tại kỳ điều chỉnh lần 2 trong tháng 7, dữ liệu từ Bộ Công Thương cho biết giá xăng thành phẩm bình quân trên thị trường Singapore cập nhật đến ngày 22/7 không thay đổi nhiều so với kỳ tính giá ngày 13/7. Cụ thể, giá xăng RON 92 dùng để pha chế xăng E5 RON 92 trung bình 44,77 USD/thùng, xăng RON 95 là 46,31 USD/thùng. Giá dầu trung bình tăng nhẹ. 

Liên bộ đã thực hiện trích lập Quỹ Bình ổn xăng dầu (BOG) đối với xăng E5RON92 ở mức 100 đồng/lít, xăng RON95 ở mức 200 đồng/lít, dầu mazut 500 đồng/kg, dầu diezen 300 đồng, dầu hỏa 300 đồng/lít.

Theo đó, chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu: Chi sử dụng Quỹ BOG đối với các mặt hàng xăng E5RON92 ở mức 900 đồng/lít, xăng RON95 ở mức 479 đồng/lít, dầu mazut 0 đồng/kg, dầu diezen 100 đồng, dầu hỏa 167 đồng/lít.

Sau khi thực hiện việc trích lập và chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu, giá xăng dầu thay đổi như sau: Mức tăng cụ thể đối với xăng E5 RON 92 là 150 đồng/lít; Dầu diesel là hơn 280 đồng/lít; dầu hoả 240 đồng/lít; Dầu mazut 280 đồng/kg.

Như vậy, giá bán các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường không cao hơn mức giá: Xăng E5RON92: Không cao hơn 14.409 đồng/lít; Xăng RON95-III: Không cao hơn 14.973 đồng/lít; Dầu diesel 0.05S: Không cao hơn 12.397 đồng/lít; Dầu hỏa: Không cao hơn 10.279 đồng/lít; Dầu mazut 180CST 3.5S: Không cao hơn 11.183 đồng/kg.

Thời gian thực hiện việc trích lập và chi sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu đối với các mặt hàng xăng dầu cũng như điều chỉnh giá được áp dụng từ 15 giờ 00 chiều ngày 28/7.

Về tình hình nhập khẩu mặt hàng xăng dầu, theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, tháng 6/2020 cả nước nhập khẩu 1,13 triệu tấn, tương đương 395,82 triệu USD, giá trung bình 351 USD/tấn, tăng 49,9% về lượng, tăng 37% về giá và tăng 105,5% về kim ngạch so với tháng 5/2020.

Tinh chung cả 6 tháng đầu năm 2020, lượng xăng dầu nhập khẩu đạt 4,31 triệu tấn, trị giá 1,72 tỷ USD, giá trung bình 399,5 USD/tấn, giảm cả về lượng, kim ngạch và giá so với 6 tháng đầu năm 2019, với mức giảm tương ứng 5%, 38,7% và 35,4%.

Hàn Quốc, Malaysia và Singapore là 3 thị trường lớn nhất cung cấp xăng dầu nhập khẩu cho Việt Nam; trong đó nhập khẩu từ Hàn Quốc 1,11 triệu tấn, tương đương 460,23 triệu USD, giá trung bình 415,4 USD/tấn, tăng 13,3% về lượng, nhưng giảm 30,4% kim ngạch và giảm 38,5% giá so với cùng kỳ năm 2019, chiếm 25,7% trong tổng lượng xăng dầu nhập khẩu của cả nước và chiếm 26,7% trong tổng kim ngạch.

 

GAS

 

Giá gas tháng 7-2019 giảm mạnh

Công ty TNHH Một thành viên Dầu khí TP.HCM - Saigon Petro cho biết từ ngày 1-7 giá bán gas Saigon Petro giảm 19.000 đồng/bình 12 kg. Theo đó giá bán lẻ tối đa đến người tiêu dùng là 306.000 đồng/bình 12 kg.

Tương tự, Công ty Gas Pacific Petro, City Gas, EFF Gas cũng giảm 19.000đồng/ bình 12 kg. Giá bán lẻ đến người tiêu dùng không vượt quá 303.000 đồng/bình 12 kg.

Trong khi đó, Petrolimex Gas SaiGon cũng giảm 19.000 đồng/bình 12 kg. Theo đó giá bán lẻ đến tay người tiêu dùng tại TP.HCM là 306.500 đồng/bình 12 kg.

Các công ty cho biết do giá gas thế giới tháng 7 công bố 365 USD/tấn, giảm 57,5 USD/tấn so với tháng 6. Vì vậy các công ty điều chỉnh giảm tương ứng. 

Như vậy, sau 5 tháng giá gas liên tục tăng tổng mức tăng 42.000 đồng/bình 12 kg, thì đây là lần thứ hai trong năm 2019 giá gas giảm mạnh đến 52.000 đồng/bình 12 kg.

 

Ô TÔ

 

Thị trường ô tô tháng 7 khởi sắc hơn sau quyết định giảm phí trước bạ

Mới đây, Hiệp hội Các nhà sản xuất ôtô Việt Nam (VAMA) đã công bố số liệu bán hàng trong tháng 6/2020 đạt tổng cộng 24.002 xe các loại, tăng 26% so với tháng trước, bao gồm 17.584 xe du lịch; 6.109 xe thương mại và 309 xe chuyên dụng.

So với tháng 5/2020, doanh số xe du lịch tăng 35%, xe thương mại tăng 5%, xe chuyên dụng tăng 18%. Xét về nguồn gốc, sản lượng xe lắp ráp đạt 15.874 xe, tăng 43% so với tháng trước và số xe nhập khẩu nguyên chiếc là 8.155 xe, tăng 21% so với tháng trước.

Khởi động lại sản xuất sau thời gian tạm ngừng do cách ly xã hội, trong tháng 6, các doanh nghiệp cũng tăng sản lượng xe lắp ráp trong nước lên 15.874 xe, tăng 43% so với tháng trước. Xe nhập khẩu nguyên chiếc vào Việt Nam với số lượng 8.155 xe, tăng 21% so với tháng 5.

Đồng thời, chính sách giảm phí trước bạ 50% đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước từ tháng 6 đến hết năm 2020 đã tác động dây chuyền lên thị trường ô tô, tạo "cú hích" bật tăng doanh số của các hãng xe. Khách hàng mua xe trong thời điểm này tiết kiệm hàng chục triệu đồng từ giảm 50% phí trước bạ.

Bước sang tháng 7, dù thị trường bước đầu ấm lên nhưng các doanh nghiệp ôtô, đại lý vẫn tiếp tục điều chỉnh chính sách giảm giá với hàng loạt mẫu xe lắp ráp và nhập khẩu vì số lượng tồn kho còn khá lớn. Ghi nhận hiện nay có đến 20 mẫu xe được công bố giảm giá mới, với mức giảm tối đa lên 200 triệu đồng.

Có thể thấy, sau "cú hích" giảm 50% phí trước bạ cho ôtô lắp ráp trong nước, mức giảm giá phổ biến hiện nay đến từ các đại lý xe không còn cao như trước. Số mẫu xe giảm mạnh trên 100 triệu chủ yếu là xe đời sâu được đại lý áp dụng nhằm mục đích xả hàng, đón phiên bản mới sắp ra mắt.

Theo khảo sát của phóng viên, ngay sau khi có thông tin giảm 50% phí trước bạ có hiệu lực (28/6), đầu tháng 7/2020 lượng khách hàng tìm đến các đại lý ô tô chốt phiếu mua xe đã tăng từ 100 - 150% so với những tháng trước đó. Dự báo, doanh số của thị trường ô tô tháng 7/2020 sẽ còn cao hơn tháng 6/2020.

Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia, thời gian tới, các nhà sản xuất lẫn đại lý xe liên tục đưa ra các chính sách giảm giá, xả hàng xe để kích cầu người tiêu dùng, cứu vãn doanh số. Bởi sức mua sắm của người dân đã thấp đi khá nhiều do khó khăn kinh tế từ dịch bệnh.

So với gần 400.000 ô tô bán ra trong năm 2019, có thể thấy chặng đường đuổi kịp doanh số năm ngoái trong nửa năm còn lại sẽ vô cùng khó khăn với ngành ô tô Việt Nam.

LÚA GẠO

Xuất khẩu gạo lại gặp khó, giá giảm mạnh

Báo cáo về tình hình kinh tế, xã hội 7 tháng đầu năm của Tổng Cục Thống kê cho thấy gạo là mặt hàng nông sản duy nhất ghi nhận tăng trưởng 10,9%, đạt 1,9 tỷ USD. Trong khi đó, những mặt hàng nông sản còn lại đều có kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ năm trước như rau quả, cà phê, hạt điều, cao su, đặc biệt, cao su giảm 20,3%, đạt 405 triệu USD.

Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam đã giảm mạnh trong  tháng 7 do đầu ra xuất khẩu gặp khó khăn. Cụ thể, theo phản ánh của một số thương nhân xuất khẩu gạo, xuất khẩu gạo của Việt Nam đang chậm hẳn lại. Nguyên nhân là do nhu cầu của thị trường thế giới hiện đang khá trầm lắng. Bởi hồi tháng 4 và tháng 5 vừa qua, khi dịch Covid-19 bùng phát, nhiều nước đã đẩy mạnh nhập khẩu gạo với khối lượng lớn để phòng ngừa khi dịch bệnh kéo dài.

Không chỉ thiếu vắng các đơn hàng mới, nhiều doanh nghiệp cũng đang gặp khó với các đơn hàng đã ký từ trước đó.

Do Việt Nam bất ngờ thay đổi chính sách xuất khẩu, nhiều nhà nhập khẩu nước ngoài, do không thể nhận được gạo từ các nhà xuất khẩu ở Việt Nam, đã chuyển sang mua gạo từ các nguồn cung khác. Việc Philippines hủy kế hoạch nhập khẩu 300 ngàn tấn gạo cũng tác động ít nhiều tới thị trường lúa gạo ở Việt Nam.

Giá gạo Ấn Độ rẻ hơn nhiều, cũng đang là một áp lực không nhỏ tới việc xuất khẩu gạo của Việt Nam. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, ngày 7/7, trong khi giá gạo 5% tấm của Việt Nam được giao dịch ở mức 453-457 USD/tấn, thì gạo cùng loại của Ấn Độ chỉ từ 378-382 USD/tấn.

Ông Phạm Thái Bình, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Nông nghiệp Công nghệ cao Trung An, cho biết, giá gạo xuất khẩu các loại bị giảm trung bình tới 50 USD/tấn. Một lượng gạo không nhỏ đang tồn đọng trong kho của các doanh nghiệp ở Đồng bằng sông Cửu Long. Cũng theo ông Bình, tình hình khó khăn về đầu ra xuất khẩu gạo có thể sẽ còn tiếp diễn trong thời gian không ngắn, khi mà nhu cầu của các nước nhập khẩu hiện vẫn đang thấp.

Những yếu tố trên sẽ tác động không nhỏ tới xuất khẩu gạo Việt Nam và thị trường lúa gạo hàng hóa ở Đồng bằng sông Cửu Long những tháng cuối năm, mà trước mắt là vụ hè thu.

Tuy nhiên, theo nhận định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, mục tiêu xuất khẩu 6,7 triệu tấn gạo trong năm 2020 có thể sẽ cán đích. Cùng với đó, Hiệp định EVFTA có hiệu lực từ tháng 8 tới, sẽ là một động lực cho lúa gạo xuất khẩu đến được những khu vực thị trường khó tính, đòi hỏi tiêu chuẩn cao.

 

THỦY SẢN 

 

Người nuôi cá tra Đồng bằng sông Cửu Long lỗ nặng

Thông tin từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) cho biết, trong tháng 7, giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt 3,4 tỷ USD, tăng 4,6% so với tháng 6/2020. Lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục ghi nhận sự phục hồi sản xuất và lấy lại đà tăng trưởng xuất khẩu. Bộ NN&PTNT cũng dự kiến phương án tăng trưởng toàn ngành phấn đấu đạt 2,6 - 3%, trong đó riêng ngành thủy sản tăng 3,0%.  Đồng thời, phấn đấu tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản năm 2020 khoảng 41 tỷ USD.

Riêng về mặt hàng chủ lực là cá tra, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam cho hay, tính đến giữa tháng 6 năm 2020, giá trị xuất khẩu cá tra sang hầu hết các thị trường lớn đều giảm so với cùng kỳ năm ngoái, ngoại trừ thị trường Singapore và Anh. Đây là hai thị trường xuất khẩu hiếm hoi trong Top 10 thị trường lớn vẫn giữ được mức tăng trưởng dương sau đại dịch Covid-19.

Cụ thể, đối với thị trường Trung Quốc - Hồng Kông, tính đến nửa đầu tháng 6/2020, tổng giá trị xuất khẩu cá tra sang thị trường này đạt 187,9 triệu USD, giảm 15,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng 5 và nửa đầu tháng 6/2020, giá trị xuất khẩu cá tra sang thị trường Trung Quốc - Hồng Kông đột ngột chững lại và giảm sút so với cùng kỳ năm ngoái do một số cảng Trung Quốc đóng cửa nhập khẩu các lô hàng thủy sản vì lo ngại về nguy cơ lây nhiễm Covid-19. Hơn thế, nhiều siêu thị ở phía Bắc Trung Quốc vẫn chưa bán lại như trước. Điều này cũng tác động ngược trở lại giá xuất khẩu sang thị trường này.

Mỹ- thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của doanh nghiệp xuất khẩu cá tra Việt Nam. Tính đến nửa đầu tháng 6/2020 chiếm tỷ lệ 15,6% tổng xuất khẩu cá tra, đạt 95,5 triệu USD, giảm 24,4% so với cùng kỳ năm 2019.

Đối với thị trường EU, mặc dù giá trị xuất khẩu cá tra Việt Nam sang thị trường EU trong gần 6 tháng đầu năm nay vẫn giảm sút tới 36,6% so với cùng kỳ năm trước nhưng mức tăng trưởng âm đã có dấu hiệu chậm dần. Tính tới nửa đầu tháng 6/2020, tổng giá trị xuất khẩu cá tra sang EU đạt 64,6 triệu USD. Trong đó, giá trị xuất khẩu cá tra sang 3 thị trường lớn nhất gồm Hà Lan, Đức và Tây Ban Nha giảm lần lượt 32,7%; 37,1% và 16,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Cũng tương tự như xu hướng tiêu thụ tại Mỹ, cho tới nay, các doanh nghiệp vẫn chưa thể mong mỏi vào việc xuất khẩu sang thị trường này sẽ tăng trưởng dương như năm trước.

Cuộc khủng hoảng kinh tế do đại dịch Covid-19 vẫn chưa kết thúc đã tác động tới hoạt động xuất nhập khẩu cá tra tại nhiều thị trường lớn trên thế giới khiến bức tranh chung của xuất khẩu cá tra Việt Nam trong hai quý đầu năm 2020 gặp khó.

Thị trường vẫn diễn biến chậm do tình hình xuất khẩu vẫn ảm đạm với lượng đặt hàng mới yếu, lượng tồn kho cao cùng với giá xuất khẩu thấp đã tác động đến giá cá tra tại thị trường trong nước. Giá cá tra nguyên liệu tại các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long trong tháng 6/2020 vẫn chững ở mức thấp, đạt quanh mức 18.000-18.200 đ/kg đối với cá tra loại I (700900g/con). Các công ty lớn hầu như không bắt cá ngoài mà chủ yếu đang bắt trong hệ thống liên kết, các công ty nhỏ, đơn vị gia công bắt cá ngoài rất ít.

Các chuyên gia cho biết, nếu trong quý III/2020, tình hình dịch bệnh tại các nước đang là tâm dịch nằm trong tầm kiểm soát, hoạt động sản xuất, kinh doanh mở cửa trở lại thì xuất khẩu cá tra mới có cơ hội phục hồi trở lại. Các doanh nghiệp xuất khẩu cũng đang đặt kỳ vọng vào quý III/2020, hoạt động giao thương sẽ ổn dần ở một số thị trường, trong đó có hai thị trường xuất khẩu lớn nhất là Trung Quốc - Hồng Kông và Mỹ.

Về tình hình nuôi trồng, tiêu thụ trong tháng 7/2020,  hầu hết các hộ nuôi cá tra đang lỗ nặng khi bán mặt hàng này chỉ 17.000-18.000 đồng một kg, thấp hơn giá thành đầu tư 5.000 -7.000 đồng.

Bên cạnh đó, hiện sản lượng nuôi cá tra tăng nhanh ở Ấn Độ, Trung Quốc. Trong đó, Trung Quốc có 20 nhà máy chế biến cá tra với năng lực sản xuất ước tính khoảng 30.000 tấn và đang đẩy mạnh nuôi, chế biến cá tra để phục vụ tiêu thụ nội địa... Vì thế, ngành cá tra Việt Nam có thể gặp nhiều khó khăn do có những đối thủ cạnh tranh tiềm năng.

Tháng 6/2020: Xuất khẩu tôm Việt Nam tăng 19%

Tháng 6/2020, XK tôm Việt Nam đạt 349,9 triệu USD, tăng 19,2% so với tháng 6/2019. Đây là mức tăng trưởng tốt nhất kể từ tháng 3/2020. Lũy kế 6 tháng đầu năm nay, XK tôm đạt 1,5 tỷ USD, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Đây là kết quả đáng khích lệ trong bối cảnh dịch Covid-19 vẫn còn tiếp diễn ở các thị trường chính.

 Đáng chú ý, XK tôm Việt Nam sang hai thị trường chủ chốt là Mỹ và Trung Quốc trong tháng 6 vẫn ghi nhận mức tăng trưởng tích cực và dự kiến XK tôm Việt Nam sang các thị trường này vẫn tăng trưởng tốt trong những tháng tiếp theo. 

Sáu tháng đầu năm nay, tôm chân trắng chiếm 70,1% tổng XK tôm của Việt Nam, tôm sú chiếm 18,2%, còn lại là tôm biển. Tổng giá trị XK tôm chân trắng tăng 11% trong khi XK tôm sú giảm 15%. XK tôm chân trắng chế biến (mã HS 16) và tôm chân trắng sống/tươi/đông lạnh (mã HS 03) tăng lần lượt 18% và 6%. XK tôm sú chế biến khác (HS16) tăng 32% trong khi XK tôm sú sống/tươi/đông lạnh (HS03) giảm 18%. XK tôm biển khô (HS 03) tăng mạnh nhất 100%. Trong thời điểm xảy ra dịch Covid-19, XK tôm chân trắng có giá hợp lý tăng tốt hơn tôm sú, các sản phẩm tôm đã qua chế biến được tiêu thụ nhiều hơn so với sản phẩm tươi/sống/đông lạnh.

Mỹ vươn lên vị trí dẫn đầu về NK tôm Việt Nam, chiếm tỷ trọng 21,2%. XK tôm Việt Nam sang Mỹ trong tháng 6/2020 tăng trưởng tốt 54,4% so với tháng 6/2019. Lũy kế 6 tháng đầu năm nay, XK tôm sang thị trường này đạt 323,3 triệu USD, tăng 29% so với cùng kỳ năm ngoái. Mặc dù dịch Covid-19, XK tôm Việt Nam sang Mỹ tăng trưởng khá ổn định trong 6 tháng đầu năm nay.

Giá tôm Việt Nam đã có xu hướng tăng trong tháng 6. Tồn kho tại các thị trường chính như Nhật Bản, Mỹ và EU không cao như những tháng trước đó. Do vậy, XK tôm của Việt Nam dự kiến tiếp tục tăng trưởng khả quan trong các tháng tới. 

HẠT ĐIỀU  

Nhiều nhà máy điều tại Việt Nam phải tạm ngừng hoạt động

Tại Việt Nam, theo Hiệp hội Điều Việt Nam (VINACAS), tình trạng thiếu điều thô đẩy giá mặt hàng này tăng cao trong khi giá điều nhân giảm càng khiến tình hình trở nên khó khăn hơn.

Chia sẻ với phóng viên, ông Trần Hữu Hậu, Ủy viên thường trực Hội đồng Thông tin VINACAS cho biết Việt Nam chủ yếu nhập khẩu điều thô từ châu Phi. Tuy nhiên, do chịu ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 việc nhập khẩu trở nên khó khăn hơn nên lượng hàng về ít. Bên cạnh đó, ở bên Bờ Biển Ngà, Chính phủ đưa ra chính sách giá xuất khẩu tối thiểu. Thậm chí Chính phủ nước này còn tung tiền ra để mua hàng dẫn đến lượng lớn điều thô không thể về Việt Nam.

Khối lượng hạt điều nhập khẩu trong tháng 6 ước đạt 194 nghìn tấn với giá trị nhập khẩu ước đạt 219 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu hạt điều 6 tháng đầu năm 2020 đạt 602 nghìn tấn và 799 triệu USD, giảm 15,3% về lượng và giảm 22,3% về giá trị so với cùng kì năm 2019.

Trong khi đó, Cục Xuất Nhập khẩu cho biết giao dịch hạt điều nhân gần đây chậm lại. Nhiều nhà nhập khẩu Mỹ, EU đề nghị lùi thời hạn giao hàng cho các đơn hàng hạt điều WS, LP do tồn kho nhiều.

Theo Bộ NN&PTNT, tại thị trường Mỹ, lượng tiêu thụ điều nhân chế biến sâu tại thị trường Mỹ tăng mạnh trên kênh siêu thị, giảm ở kênh khách sạn và nhà hàng, nhưng tổng thể vẫn có xu hướng tăng nhẹ trong thời gian tới 

Về giá cả tại ở thị trường trong nướcg tháng 7, giá điều nguyên liệu diễn biến trái chiều (nơi tăng, nơi giảm), nhưng chênh lệch giá không đáng kể. Cụ thể, hạt điều khô mua xô (chưa phân loại) tại Bình Phước giảm từ 31.000 đồng/kg xuống 30.500 đồng/kg. Tại Đắk Lắk, điều khô loại 1 có giá 47.000 đồng/kg, hạt điều tươi (chưa phân loại) tăng từ 23.500 đồng/kg lên 26.000 đồng/kg. Tính cả trong 7 tháng đầu năm, giá điều thô biến động giảm với mức giảm từ 2.000 đồng - 3.000 đồng/kg. Mức giá này dù không tốt, nhưng các doanh nghiệp có nhà máy chế biến vừa và nhỏ ở Việt Nam vẫn bán, do phải thu hồi vốn chuẩn bị cho nhập khẩu điều thô về chế biến. Còn lại số ít doanh nghiệp có nhà máy công suất nhỏ phải tạm dừng sản xuất vì thiếu nguyên liệu và lượng hàng bán không kịp quay vòng vốn (cả nước có 3.000 nhà máy chế biến hạt điều, nhưng nhà máy chế biến quy mô nhỏ chiếm đến 80% nên tổng công suất không lớn). 

Thời gian tới, để đáp ứng nhu cầu thị trường, các doanh nghiệp chế biến đang tăng thu mua hạt điều thô trong nước nhằm góp phần giữ vững và phát triển vùng nguyên liệu tại chỗ hay tăng nhập khẩu từ thị trường gần là Campuchia, với giá thu mua hợp lý, chi phí vận chuyển thấp, giảm dần phụ thuộc vào các thị trường châu Phi (Bờ Biển Ngà). Các nhà máy chế biến hạt điều Việt Nam cần theo dõi sát diễn biến thị trường, đồng thời cũng nên có kế hoạch chuẩn bị cho năm 2021.

Vinacas dự báo, giá xuất khẩu điều nhân của Việt Nam trong ngắn hạn sẽ tăng nhẹ, do các nước phương Tây tăng nhu cầu dự trữ điều. Việt Nam vẫn được coi là trung tâm chế biến, xuất khẩu hạt điều hàng đầu thế giới, xếp trên Ấn Độ, các quốc gia châu Phi và Brazil.

 

HẠT TIÊU

 

Đến giữa tháng 7/2020, xuất khẩu hồ tiêu Việt Nam ước đạt 182.000 tấn

Ghi nhận trên thị trường giá nông sản trong nước, giá hạt tiêu trong tháng 7 trên thị trường nhìn chung chỉ biến động nhẹ, dao động trong khoảng từ 47.500 - 50.500 đồng/kg. Nguyên nhân được cho là thị trường đang bị ảnh hưởng của dịch COVID-19, khiến nhu cầu bị hạn chế và việc xuất khẩu tiêu gặp nhiều khó khăn.

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, tính đến giữa tháng 7/2020, xuất khẩu hồ tiêu Việt Nam ước đạt 182.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 385 triệu USD.

Trên thế giới, nhu cầu nhập khẩu của các thị trường xuất khẩu lớn của hồ tiêu Việt Nam như Ấn Độ, Mỹ, châu Âu được dự báo sẽ cần thời gian dài mới phục hồi.

Thêm vào đó, tình hình sản xuất tiêu trong nước cũng không thuận lợi. Ngoài yếu tố biến đổi khí hậu, giá tiêu xuống thấp đã khiến nông dân không còn mặn mà việc chăm sóc vườn tiêu. Cùng với đó, tình hình sâu bệnh dẫn tới năng suất các vườn tiêu giảm.

Theo Hiệp hội Hạt tiêu Việt Nam, sản lượng hạt tiêu của Việt Nam vụ mùa năm 2020 giảm khoảng 15% so với năm 2019, xuống còn 240.000 tấn. Dự báo vụ mùa năm 2021 sản lượng hạt tiêu sẽ tiếp tục giảm do người dân không đầu tư chăm sóc, ảnh hưởng đến năng suất. 

Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) dự báo thời gian tới, giá hạt tiêu sẽ tiếp tục tăng do nhu cầu tích trữ lúc giá ở mức thấp. Về dài hạn, giá hạt tiêu toàn cầu sẽ được hỗ trợ khi sản lượng ở hầu hết các nước sản xuất lớn đều giảm mạnh, trong đó có Việt Nam.

CÀ PHÊ

Xuất khẩu cà phê mang về hơn 1,6 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm

Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết, hiện giá cà phê trong nước giảm xuống mức thấp, người dân không muốn bán ra dẫn đến thương nhân và nhà xuất khẩu gặp khó khăn trong việc thu mua cà phê để xuất khẩu.

Trong tháng 6/2020, giá cà phê trong nước tiếp tục giảm theo thị trường thế giới, tuy nhiên tốc độ giảm đã chậm lại. 

Bước sang tháng 7, giá cà phê thời điểm giữa tháng dao động trong khoảng 31.100 - 33.300 đồng/kg.Và đến cuối tháng 7, giá cao nhất tại tỉnh Đắk Lắk là 32.700 đồng/kg, giá thấp nhất tại tỉnh Lâm Đồng là 31.900 đồng/kg.Giá cà phê giao tại cảng TP HCM  giảm nhẹ 100 đồng/kg về ngưỡng  33.900đồng/kg. Giá cà phê Robusta xuất khẩu loại 2, 5% đen vỡ, đứng ở 1.458 USD/tấn, FOB – HCM, với mức chênh lệch cộng 80 – 100 USD/tấn theo giá kỳ hạn tháng 11 tại London.

Về tình hình xuất khẩu, theo ước tính, xuất khẩu cà phê tháng 6/2020 đạt 140 nghìn tấn, trị giá 237 triệu USD, tăng 7,5% về lượng và tăng 7,4% về trị giá so với tháng 5/2020, so với tháng 6/2019 giảm 3% về lượng và giảm 1,9% về trị giá. Tính chung 6 tháng đầu năm 2020, xuất khẩu cà phê ước đạt 955 nghìn tấn, trị giá 1,609 tỷ USD, tăng 3,7% về lượng và tăng 2,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2019.

Giá xuất khẩu bình quân cà phê tháng 6/2020 ước đạt 1.693 USD/tấn, giảm 0,02% so với tháng 5/2020 nhưng tăng 1,1% so với tháng 6/2019. Tính chung 6 tháng đầu năm 2020, giá xuất khẩu bình quân cà phê đạt khoảng 1.685 USD/tấn, giảm 1,2% so với cùng kỳ năm 2019.

(TTGCVT/T.Hiền tổng hợp)  

 

Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (024) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (024) 39762593 
Email:ttgcvattu1989@gmail.com