Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Diễn biến thị trường hàng hóa nguyên liệu trong nước tháng 4-2020
Cập nhật: 29-4-2020

VÀNG

Vàng giữ vững mốc giá trên 48 triệu đồng mỗi lượng trong tháng 4


Từ đầu tháng 2 (khi dịch Covid-19 bùng phát ngoài Trung Quốc) đến nay, giá vàng thế giới đã có diễn biến tăng - giảm đột biến, có lúc giá vàng đã tiến sát ngưỡng kỷ lục 1.700 USD/oz song lại có lúc giảm xuống dưới ngưỡng 1.500 USD/oz. Diễn biến trên thị trường vàng thế giới cũng khiến giá vàng trong nước dao động mạnh kể từ đầu tháng 2 đến nay. Có lúc, giá vàng bán ra ở mức gần 50 triệu đồng/lượng nhưng có thời điểm giá vàng bán ra chỉ còn hơn 43 triệu đồng/lượng.

Sự bất thường của giá vàng do nhiều yếu tố tác động, đáng chú ý nhất là biến động của thị trường chứng khoán, thị trường tiền tệ, hàng hóa toàn cầu do diễn biến bất thường của dịch Covid-19.

Tại thị trường trong nước, ngay từ đầu tháng 4, giá vàng đã giữ mốc vững trên 48 triệu đồng mỗi lượng bán ra ở hầu  hết các phiên trong tuần. Mở cửa sáng ngày  1/4,  giá vàng nằm ở mức thấp nhất tuần  đầu tiên với giá mua vào và bán ra ở khoảng 46,60 triệu đồng - 47,92 triệu đồng/lượng (Tại công ty VBĐQ Sài Gòn). Dưới tác động trực tiếp của giá vàng thế giới nằm ở mức cao, giá vàng trong nước chưa tìm thấy lý do để hạ nhiệt. Tại nhiều đơn vị kinh doanh hiện vẫn điều chỉnh chênh lệch mua vào - bán ra ở mức cao khiến người mua khó có khả năng lãi hoặc hòa vốn. 

Bước sang tuần 2, giá vàng trong nước tiếp tục chuỗi ngày biến động. Mở cửa ngày đầu tuần (6-4), giá vàng SJC tại công ty VBĐQ Sài Gòn được niêm yết ở mức 47,05 triệu đồng/lượng (mua vào) và 48,07 triệu đồng/lượng (bán ra) tại Hà Nội. Cùng với diễn biến vàng thế giới đêm 9-4 (theo giờ Việt Nam), giá vàng trong nước sáng 10-4 ghi nhận đà tăng mạnh khi các doanh nghiệp trong nước đẩy giá bán phổ biến lên vùng 48,5 triệu đồng/lượng. Tại vùng giá 48,5 triệu/lượng, vàng trong nước đã đạt mức cao nhất từ đầu năm 2020 và chỉ kém đỉnh 49 triệu đồng/lượng hồi cuối tháng 12/2019. Vùng giá thời điểm này của kim loại quý trong nước cũng tương đương mức đạt được hồi tháng 8/2011.

Trung tuần tháng 4, giá vàng trong nước tiếp tục trồi sụt thất thường theo diễn biến giá vàng thế giới. Mức mua vào cao nhất trong tuần là vào đầu giờ sáng hai ngày 14 và 15/4 với mức giá được niêm yết là 47,75 triệu đồng/lượng (tại công ty VBĐQ Sài Gòn). Mức giá bán ra có thời điểm đã neo sát 48,5 triệu đồng mỗi lượng (vào sáng 17/4). Tuy nhiên, trong vài ba phiên trở lại đây, giá vàng trong nước đang có xu hướng thấp hơn hẳn giá vàng thế giới tới cả triệu đồng mỗi lượng. Một số chuyên gia khuyến nghị đây có thể sẽ là thời điểm hợp lý để mua vàng.

Giá vàng đã lấy lại đà tăng trong tuần gần cuối tháng 4. Hai ngày đầu tuần 20 và 21/4, giá vàng tại Công ty VBĐQ Sài Gòn được niêm yết thời điểm mở cửa sáng là 47,40 triệu đồng/lượng (mua vào)  và 48,07 và 48,17 triệu đồng/lượng (bán ra). Tuy nhiên, giá đã tăng mạnh vào sáng 24/4 – ngày kết thúc tuần làm việc với mức được niêm yết là  47,75 – 48,42 triệu đồng (mua vào – bán ra). Với mức giá sáng 24/4 như trên, giá vàng trong nước đã cao hơn giá vàng thế giới khoảng  600 nghìn đồng mỗi lượng  - chấm dứt hiện tượng thấp hơn giá thế giới trong nhiều phiên trở lại đây.

Ông Trần Thanh Hải, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Đầu tư và Kinh doanh vàng Việt Nam (VGB) cho rằng, có thể so sánh diễn biến giá vàng hiện nay với thời kỳ 2008 - 2009, khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu diễn ra. Ở thời điểm hơn 10 năm trước, giá vàng từng giảm từ mức hơn 900 USD/oz xuống mức trên 700 USD/oz và khiến nhiều nhà đầu tư thua lỗ.

Tuy nhiên, diễn biến giá vàng hiện nay có điểm khác, đó là lực tác động đến thị trường vàng là do một dịch bệnh khó dự đoán và chưa biết sẽ đi về đâu. Đặc biệt, hai khu vực kinh tế lớn của thế giới là châu Âu và Bắc Mỹ đang chịu tác động khá nặng nề của dịch bệnh dẫn đến tổn thất kinh tế to lớn.

Nếu tính từ đầu năm, vàng đã tăng tới 5,5 triệu đồng mỗi lượng, tương ứng 13%.

ĐÔ LA

Tỷ giá trung tâm có xu hướng tăng trong suốt tháng 4/2020

Bất chấp những biến động trên thị trường ngoại tệ gần đây và những tác động từ dịch Covid-19, giới chuyên môn cho rằng, với nền tảng vĩ mô được cải thiện và chính sách tỷ giá được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) điều hành linh hoạt, chủ động và bám sát diễn biến thị trường, tỷ giá USD/VND sẽ duy trì xu hướng ổn định trong năm 2020.

Những ngày đầu tháng 4, tỷ giá trung tâm tăng giảm xen kẽ giữa các phiên giao dịch với mức điều chỉnh không lớn. Mức cao nhất tuần đầu là vào sáng ngày 3/4 với mức công bố của NHNN là 23.239 đồng/USD. Tại các NHTM, giá giao dịch USD nhìn chung ổn định với mức giao dịch phổ biến là 23.480 đồng (mua) và 23.650 đồng (bán).

Ở tuần thứ 2, tỷ giá trung tâm tuần qua trồi sụt thất thường. Mức thấp nhất tuần là 23.221 đồng/USD vào sáng 10-4. Mức cao nhất tuần là 23.235 đồng/USD vào sáng 9-4. Với diễn biến giảm mạnh của tỷ giá trung tâm vào cuối tuần, giá giao dịch USD cũng giảm mạnh theo. Vào sáng 9-4, tỷ giá USD/VND ở một số ngân hàng phổ biến ở quanh mức: 23.400 đồng/USD và 23.580 đồng/USD. Và đến sáng 10-4, các ngân hàng thương mại giữ tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ phổ biến ở mức 23.390 đồng (mua) và 23.560 đồng (bán).

Tỷ giá trung tâm có xu hướng tăng mạnh qua từng phiên tại thời điểm gần giữa tháng 4. Vào sáng đầu tuần (13-4), tỷ giá được NHNN công bố ở mức 23.216 đồng/USD. Đến sáng 17-4 là ngày cuối tuần, tỷ giá đã leo lên mức 23.241 đồng/USD. Như vậy trong 5 phiên, tỷ giá trung tâm đã tăng tới 25 đồng. Tại các NHTM, giá giao dịch USD biến động nhẹ. Đến sáng 17-4, các ngân hàng thương mại giữ tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ phổ biến ở mức 23.350 đồng (mua) và 23.530 đồng (bán).

Tỷ giá trung tâm tiếp đà tăng ở tuần sát thời điểm cuối tháng. Mức thấp nhất tuần là vào sáng thứ 2 (20-4) khi NHNN công bố mức 23.238 đồng/USD. Và đến sáng 24/4, tỷ giá trung tâm đã vọt lên mức 23.272 đồng/USD. Tỷ giá trung tâm đã tăng 34 đồng trong 5 ngày. Tại các NHTM, đến sáng 24-4, đa số giữ tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ phổ biến ở mức 23.390 đồng (mua) và 23.570 đồng (bán). Riêng Vietinbank là: 23.395 đồng/USD và 23.575 đồng/USD. BIDV: 23.400 đồng/USD và 23.580 đồng/USD. 

Lý giải nguyên nhân khiến tỷ giá tăng thời gian qua, các chuyên gia phân tích của Công ty chứng khoán Bảo Việt (BVSC) cho rằng, đồng USD có xu hướng mạnh lên trên thị trường thế giới là nguyên nhân chính khiến tỷ giá USD/VND có xu hướng tăng. “Dịch bệnh Covid- 19 đã khiến thị trường tài chính toàn cầu lao dốc, nhu cầu rút vốn khỏi các tài sản rủi ro và tìm đến các tài sản an toàn gia tăng mạnh là nguyên nhân chính dẫn đến đà tăng mạnh của USD”, các chuyên gia BVSC nhận định.

Trong quý II/2020, các chuyên gia kinh tế nhận định, diễn biến của thị trường ngoại hối sẽ phụ thuộc nhiều vào những diễn biến tiếp theo của tình hình dịch bệnh trong và ngoài nước. Nếu như dịch bệnh chưa có dấu hiệu được kiểm soát hiệu quả thì áp lực tăng đối với tỷ giá dự kiến sẽ tiếp tục duy trì ở mức cao.

Trong kịch bản cơ sở với xác suất xảy ra là 60% của một nghiên cứu đến từ Ban Kinh doanh vốn và tiền tệ BIDV dự báo tỷ giá trong quý II có thể sẽ dao động trong biên độ 23.400 - 23.650 VND/USD, với mức chặn trên là mức tỷ giá bán ra của NHNN (trong điều kiện NHNN chưa thay đổi chính sách bán ngoại tệ). 

THÉP XÂY DỰNG

Sản xuất và bán hàng thép trong nước 3 tháng đầu năm 2020 lần lượt có mức tăng trưởng âm là 6% và 12,4% so với cùng kỳ năm 2019.



Ngay từ đầu năm 2020, Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) đã dự báo xu hướng khó khăn, thách thức với ngành thép sẽ còn tiếp tục gia tăng bởi xu thế bảo hộ trên thị trường quốc tế, thị trường bất động sản, xây dựng trong nước chưa có tín hiệu khởi sắc. Đặc biệt, ngay từ đầu năm, dịch Covid-19 đã tác động mạnh đến ngành thép trong nước cả ở sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. 

Sản xuất và bán hàng thép trong nước 3 tháng đầu năm 2020 lần lượt có mức tăng trưởng âm là 6% và 12,4% so với cùng kỳ năm 2019. Loại trừ tăng trưởng của thép cuộn cán nóng (HRC) thì sản xuất giảm 4% trong khi bán hàng giảm 12% so với cùng kỳ năm 2019.

Cụ thể, sản xuất thép các loại đạt hơn 5.728.408 tấn (giảm 6%), bán hàng thép các loại đạt 5.034.580 tấn (giảm 12,4%), xuất khẩu thép các loại đạt 1.024.908 tấn (giảm 21,3%) so với cùng kỳ quý I/2019.

Đối với thép xây dựng, lượng hàng xuất bán trong quý I/2020 thấp hơn so với cùng kỳ năm 2019 ở mức 15% trong đó xuất khẩu giảm 14% và tiêu thụ nội địa giảm 16%. Trong tháng 3/2020, giá các loại nguyên vật liệu sản xuất thép đều giảm như quặng sắt giảm 6 USD/tấn; giá thép phế giảm khoảng 30 - 35 USD/tấn so với đầu tháng 2/2020; giá phôi thép Đông Nam Á giảm mạnh 40-50 USD/tấn. Giá bán thép trong nước hiện ở mức bình quân khoảng 11.000 - 11.400 đồng/kg tùy thuộc từng chủng loại sản phẩm và từng doanh nghiệp cụ thể.

Trong tháng 4/2020, VSA đã có báo cáo đánh giá tác động của dịch Covid-19 đến ngành thép Việt Nam. VSA ghi nhận, 2 tháng đầu năm nay, tình hình sản xuất và bán hàng tiếp tục giảm từ 30 - 35% so với cùng kỳ năm 2019. “Ước tính sơ bộ, trong quý I, tình hình sản xuất và bán hàng của DN thép giảm trên 20% so với cùng kỳ”, VSA cho biết. Với tình hình dịch bệnh Covid-19 tiếp tục có những diễn biến phức tạp, từ tháng 4/2020, nhiều thị trường nhập khẩu thép của Việt Nam áp dụng một số biện pháp siết mạnh thông quan hàng hóa để phòng chống Covid-19, giới chuyên gia nhận định, hoạt động xuất khẩu của DN thép Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng không nhỏ. “Hiện VSA đang cân nhắc dự báo ngành thép không có tăng trưởng trong năm 2020”, lãnh đạo VSA thông tin.

Dự báo về bức tranh của ngành thép thời gian tới, lãnh đạo Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) cho rằng, với thị trường thép trong nước, sau thời gian chững lại của quý I/2020 nhu cầu sẽ tăng trở lại khi dịch bệnh được kiểm soát. Tuy nhiên, thị trường thép trong nước sẽ phải đối phó với thép xuất khẩu của Trung Quốc với giá rẻ do Bộ Tài chính Trung Quốc tuyên bố sẽ tăng mức hoàn thuế đối với 1.084 hàng hóa xuất khẩu lên 13% và với 380 mặt hàng lên 10% kể từ ngày 20/3/2020.

Với việc tăng hoàn thuế, các nhà xuất khẩu thép Trung Quốc sẽ linh hoạt hơn để giảm giá xuất khẩu hơn nữa và do đó nâng cao khả năng cạnh tranh của các sản phẩm thép có nguồn gốc Trung Quốc trên phạm vi quốc tế trong đó có Việt Nam. Khi đó, doanh nghiệp sẽ phải sử dụng nguồn nguyên liệu đầu vào với giá cao sẽ cạnh tranh gay gắt với thép thành phẩm giá rẻ của Trung Quốc chào bán.

Bước sang tháng 4 và Quý II, tình hình sản xuất và bán hàng thép xây dựng trong nước lại càng khó khăn hơn do nhu cầu thấp và lo ngại dịch bệnh còn kéo dài. Kể cả khi tình hình dịch bệnh được kiểm soát thì cũng sẽ rất khó khăn khi cuối quý II sẽ bước vào mùa thấp điểm xây dựng.

Để giảm bớt khó khăn, một số doanh nghiệp thép thực hiện các biện pháp cắt giảm chi phí, giãn việc… Tuy nhiên, theo một số doanh nghiệp thép, từ tháng 4/2020, Chính phủ áp dụng biện pháp cách ly xã hội, nhiều địa phương chưa hiểu đúng đã có biện pháp “làm quá” khiến việc lưu thông hàng hóa của doanh nghiệp cũng khó khăn.

Để giải quyết những khó khăn trên, ông Trịnh Khôi Nguyên - Phó Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) cho rằng, Chính phủ cần có các giải pháp hỗ trợ, có thể bằng các chính sách về tài chính, tín dụng, giảm lãi suất, giãn nợ; đồng thời, có chỉ đạo, giải pháp trong việc thông quan hàng hóa, đáp ứng nhu cầu sản xuất của doanh nghiệp và vẫn tuân thủ các quy định về đảm bảo phòng dịch.

Ông Nguyễn Văn Sưa - chuyên gia ngành thép khuyến cáo, doanh nghiệp thép trong nước cần chủ động kiểm soát tồn kho nguyên vật liệu để có kế hoạch mua bổ sung đảm bảo duy trì đủ vật tư cho sản xuất. Mặt khác, để hạn chế rủi ro, các doanh nghiệp cần chú ý đến những diễn biến thị trường, làm tốt công tác dự báo để có những chính sách bán hàng phù hợp nhằm ứng phó linh hoạt với những diễn biến khó lường của thị trường trong nước cũng như thế giới. 

Bên cạnh đó, VSA kiến nghị cần sớm thực thi các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vượt lên khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 cũng như thúc đẩy đầu tư công để kích thích tăng trưởng.

XI MĂNG

Quý I: Xuất khẩu xi măng, clinker chỉ đạt 7,5 triệu tấn do ảnh hưởng của dịch Covid-19



Giống như nhiều loại hàng hóa khác bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, xuất khẩu xi măng, clinker cũng bị sụt giảm mạnh trong 3 tháng đầu năm 2020, với sản lượng xuất khẩu đạt 7,5 triệu tấn, trị giá 291 triệu USD.

Theo số liệu thống kê của Bộ Công Thương, quý I/2020, xuất khẩu xi măng, clinker giảm mạnh, chỉ đạt 7,5 triệu tấn, trị giá 291 triệu USD, bằng 60,2% về lượng và 80,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2019 (3 tháng 2019, ngành xi măng đã xuất khẩu 12 triệu tấn, trị giá 360 triệu USD).

Không chỉ sụt giảm mạnh về sản lượng, giá xuất khẩu xi măng và clinker cũng giảm trung bình khoảng 2 - 3 USD/tấn do diễn biến chung của tình hình thế giới.

Bộ Xây dựng ước tính nhu cầu tiêu thụ xi măng toàn ngành năm 2020 đạt khoảng 101 - 103 triệu tấn, tăng 4 - 5% so với năm 2019, trong đó tiêu thụ xi măng nội địa khoảng 69 - 70 triệu tấn, xuất khẩu khoảng 32 - 34 triệu tấn. Năm 2020 dự kiến có 2 dây chuyển sản xuất xi măng đi vào vận hành, đưa tổng số dây chuyền sản xuất xi măng của cả nước lên con số 86, với tổng công suất toàn ngành đạt 105,84 triệu tấn.

Do diễn biến của dịch Covid-19 khá phức tạp, thời gian kéo dài khiến việc tiêu thụ xi măng ở thị trường trong nước cũng như thị trường xuất khẩu, đặc biệt là thị trường Trung Quốc giảm mạnh, Hiệp hội Xi măng Việt Nam (VNCA) đã có văn bản đề nghị Thủ tướng giao các Bộ, ngành giúp đỡ, tháo gỡ khó khăn cho ngành xi măng Việt Nam do ảnh hưởng của dịch Covid-19.

Theo đó, VNCA khiến nghị cho phép hoãn, giãn, lùi thời gian nộp các loại thuế, phí như VAT, thuế xuất khẩu clinker, phí cấp quyền khoáng sản hàng năm. Cho doanh nghiệp ngành xi măng hoãn, giãn, lùi thời gian trả nợ vốn vay ngân hàng để đầu tư, lãi vay ngân hàng; thời gian trả tiền điện sản xuất, thời gian trả chậm không bị nộp phạt. 

Thời gian hoãn, giãn này phụ thuộc vào thời gian kéo dài của dịch bệnh và sự ảnh hưởng của dịch đến hoạt động sản xuất - kinh doanh, xuất khẩu của doanh nghiệp.

XĂNG DẦU 

Giá xăng dầu đã có 8 lần giảm giá kể từ đầu năm 2020 và thiết lập mức rẻ kỷ lục mới

Trong tháng 4/2020, giá xăng dầu thế giới trong chứng kiến chuỗi sụt giảm liên tục. Đặc biệt vào đêm 20/4, lần đầu tiên trong lịch sử - dầu thô WTI giao tháng 5 xuống âm 37,63 USD một thùng. Nguyên nhân do thế giới nguy cơ hết chỗ chứa cuối tháng 5, trong khi giao dịch dầu thô không có giá sàn đẩy giá chìm sâu xuống vùng âm. Thậm chí có dự báo giá dầu có thể xuống âm 100 USD. 

Giá dầu thế giới giảm sâu đã tác động lớn đến ngành xăng dầu trong nước. Tuy nhiên, giá xăng dầu trong nước Việt Nam hiện tại neo theo giá dầu Brent tại thị trường Singapore.

“Giá WTI không ảnh hưởng trực tiếp đến giá sản phẩm tại Singapore, vốn được dùng làm thông số để tính giá cơ sở cho các kỳ điều hành giá trong nước. Biến động tăng giảm của giá dầu thô (WTI/Brent) và giá sản phẩm thường không tỷ lệ thuận mà phụ thuộc vào cung cầu và thị trường”, lãnh đạo Vụ Dầu khí và than (Bộ Công Thương) khẳng định.

Giá xăng dầu trong tháng 4 cũng trải qua hai lần điều chỉnh giá. Lần đầu tiên là vào chiều ngày 13/4, Liên Bộ Công Thương - Tài chính đã quyết định điều chỉnh theo hướng giảm giá các loại mặt hàng xăng dầu. Cụ thể, giá xăng E5 RON 92 được điều chỉnh giảm 613 đồng/lít; Xăng RON 95 giảm 621 đồng/lít; Dầu diesel giảm 436 đồng/lít; Dầu hỏa giảm 502 đồng/lít; Dầu mazut giảm 126 đồng/kg.

Sau điều chỉnh, giá xăng E5 RON 92 có bán tối đa là 11.343 đồng/lít; Xăng RON 95 là 11.939 đồng/lít; Dầu diesel 10.823 đồng/lít; Dầu hỏa 8.639 đồng/lít; Dầu mazut 9.327 đồng/kg.

Tại kỳ điều hành này, liên Bộ tiếp tục thực hiện trích lập Quỹ Bình ổn giá xăng dầu ở mức rất cao. Cụ thể đối với xăng E5RON92 ở mức 400 đồng/lít; xăng RON95, dầu hỏa và dầu diesel trích lập lên tới  1.400 đồng/lít; dầu mazut trích lập ở mức 200 đồng/kg.

Mức giảm này đưa giá xăng về mức thấp nhất kể từ tháng 2009 đến nay.

Tại kỳ điều chỉnh giá thứ 2, giá xăng tiếp tục giảm hơn 300 đồng/lít từ 15h chiều 28/4.  Theo đó, Liên Bộ quyết định thực hiện trích lập Quỹ BOG đối với xăng E5RON92 ở mức 400 đồng/lít; xăng RON95 ở mức 1.400 đồng/lít, dầu hỏa và dầu diesel ở mức 1.600 đồng/lít; dầu mazut trích lập ở mức 500 đồng/kg.

Sau khi thực hiện việc trích lập và chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu như trên, giá xăng E5RON92 giảm 401 đồng/lít; xăng RON95-III giảm 308 đồng/lít; dầu diesel 0.05S giảm 882 đồng/lít; dầu hỏa giảm 674 đồng/lít; dầu mazut 180CST 3.5S giảm 657 đồng/kg.

Như vậy, giá bán các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường không cao hơn mức giá: Xăng E5RON92: không cao hơn 10.942 đồng/lít; Xăng RON95-III: không cao hơn 11.631 đồng/lít; Dầu diesel 0.05S: không cao hơn 9.941 đồng/lít; Dầu hỏa: không cao hơn 7.965 đồng/lít; Dầu mazut 180CST 3.5S: không cao hơn 8.670 đồng/kg.

Việc điều hành giá xăng dầu nhằm hỗ trợ đời sống của người dân, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đang gặp khó khăn do tác động của dịch bệnh COVID-19, đồng thời bảo đảm giá bán xăng dầu trong nước phản ánh xu hướng giá thành phẩm xăng dầu thế giới, phù hợp với tình hình kinh tế xã hội hiện nay. Được biết, đây là lần giảm thứ 8 liên tiếp từ đầu năm 2020 đến nay

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)tháng 4/2020 giảm 1.54% so với tháng trước, mức thấp nhất trong giai đoạn 2016-2020;chủ yếu do giá xăng dầu giảm mạnh, đồng thời giá nhiều mặt hàng phi lương thực, thực phẩm giảm khi người dân thực hiện Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19.

Cụ thể hơn, nhóm giao thông giảm nhiều nhất với 13.86% do ảnh hưởng của 2 đợt điều chỉnh giảm giá xăng, dầu vào thời điểm 29/3/2020 và thời điểm 13/4/2020 làm chỉ số giá xăng, dầu giảm 28.48% tác động làm CPI chung giảm 1,18%.

GAS

Giá bán lẻ gas tháng 4 giảm sốc, tổng 3 lần giảm 108.000 đồng/bình 12kg

Từ ngày 1 - 4, các công ty đầu mối kinh doanh gas miền Nam vừa phát thông báo giá bán lẻ gas điều chỉnh giảm 5.750 đồng/kg (đã bao gồm thuế giá trị gia tăng).

Giá gas giảm mạnh trong tháng 4 là tin tích cực cho người dân trong mùa dịch

Trong thông báo phát đi cho các đại lý, Công ty cổ phần thương mại dầu khí Thái Bình Dương thông tin, từ 7 giờ 30 ngày 1 - 4, gas Pacific Petro, Esgas và City Petro sẽ giảm 5.750 đồng/kg (đã bao gồm thuế giá trị gia tăng). Theo đó, mỗi bình gas của các thương hiệu trên giảm 34.500 đồng/bình 6kg, giảm 69.000 đồng/bình 12kg, giảm 72.000 đồng/bình 12,5kg, giảm 259.000 đồng/bình 45kg, giảm 287.500 đồng/bình 50kg.

Theo đó, giá gas của các thương hiệu trên bán đến tay người tiêu dùng không quá 301.000 đồng/bình 12kg; 1,128 triệu đồng/bình 45kg; 1,254 triệu đồng/bình 50kg.

Công ty TNHH Một thành viên Dầu khí TP.HCM (Saigon Petro) thông báo giá bán lẻ gas SP giảm 69.000 đồng/bình 12kg và giá bán lẻ đến tay người tiêu dùng là 277.000 đồng/bình 12kg.

Theo Chi hội Gas miền Nam, giá phiếu nhập khẩu (CP) thế giới bình quân tháng 4 giảm 220 USD/tấn, chốt hợp đồng giao hàng trong tháng 4 là 235 USD/tấn. Điều này đã kéo giá gas bán lẻ trong nước giảm kỷ lục và mức giảm này còn cao hơn dự báo từ đầu tháng khi giá dầu thế giới liên tục lao dốc. 

Trước đó, trong tháng 2 và tháng 3, giá bán lẻ gas cũng giảm với tổng 2 lần giảm 39.000 đồng/bình 12kg, thêm lần này, tổng 3 lần giảm liên tiếp là 108.000 đồng/bình 12kg.

Ô TÔ

‘Thấm đòn’ Covid-19, ngành ô tô Việt Nam lao đao

Kể từ sau dịp Tết Nguyên đán 2020, hoạt động kinh doanh ô tô tại Việt Nam đang rơi vào trạng thái “hãm phanh”, tốc độ chậm dần rồi gần như “đóng băng” do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19.

Theo báo cáo bán hàng mới nhất từ Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô (VAMA), trong tháng 3/2020, doanh số bán hàng của toàn thị trường đạt 19,154 xe, tăng 8% so với tháng 1/2020 và giảm 41% so với tháng 2/2019.

Cụ thể, tháng vừa qua thị trường tiêu thụ 13.071 xe du lịch (tăng 5%); 5.711 xe thương mại (tăng 18%) và 372 xe chuyên dụng (tăng 12%) so với tháng trước. Sản lượng của xe lắp ráp trong nước đạt 11.878 xe, tăng 2% so với tháng trước và số lượng xe nhập khẩu nguyên chiếc là 7.276 xe, tăng 22% so với tháng trước.

Xét tổng doanh số bán hàng của toàn thị trường tính đến hết tháng 3/2020 giảm 33% so với cùng kì năm ngoái. Trong đó, xe ô tô du lịch giảm 35%; xe thương mại giảm 26% và xe chuyên dụng giảm 32% so với cùng kì năm ngoái. Tính đến hết tháng 3/2020, doanh số bán hàng của xe lắp ráp trong nước giảm 28% trong khi xe nhập khẩu giảm 39% so với cùng kì năm ngoái.

Doanh số của hầu hết các thành viên VAMA đều giảm mạnh so với cùng kỳ năm ngoái. Theo đó, Thaco tiêu thụ được 16.149 xe trong quý I (giảm 29% so với năm 2019), Toyota Việt Nam giảm 28%; Honda Việt Nam giảm 39%; Ford Việt Nam giảm 48%...

Theo ước tính của VAMA, doanh số bán hàng năm nay sẽ sụt giảm hơn 15% so với dự báo trước đó. Dịch vụ sửa chữa cũng sẽ ế ẩm khi lượng khách tìm đến đại lý sửa xe được dự đoán sẽ giảm 60-70%.

Tuy thị trường ô tô quý I/ 2020 ảm đạm, song nhìn nhận về lâu dài, nhiều chuyên gia kinh tế vẫn có những đánh giá tích cực. Thư ký VAMA Ninh Hữu Chấn cho rằng, thị trường và ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đã có những bước chuyển mình ấn tượng. Vì vậy, khi dịch Covid-19 được khống chế, ngành ô tô sẽ tiếp tục tăng trưởng cả cung lẫn cầu và nguồn linh kiện lắp ráp không thiếu…“Hiện nguồn linh phụ kiện nhập kho từ cuối năm 2019 đủ đáp ứng cả năm 2020. Các DN chủ yếu đang theo dõi tình hình dịch bệnh và phản ứng của thị trường để lên kế hoạch hoạt động trong thời gian tới ” - ông Chấn chia sẻ.

Về tình hình nhập khẩu, theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong nửa đầu tháng 4/2020 đã có 3.146 chiếc ô tô làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam (với tổng trị giá 79,58 triệu USD), trong đó có 2.295 chiếc thuộc phân khúc từ 9 chỗ trở xuống (với tổng kim ngạch 54,75 triệu USD), chiếm 72% tổng số xe nhập khẩu.

Nếu tính từ đầu năm 2020, thị trường Việt Nam đã đón nhận 22.896 ô tô từ 9 chỗ trở xuống nhập khẩu, chiếm 76,8% lượng xe làm thủ tục thông quan. Trong khi đó, xe chở khách từ 9 chỗ trở lên nhập khẩu về Việt Nam trong nửa đầu tháng 4 chỉ đạt 15 xe (trị giá 107.997 USD) và tính từ đầu năm đến nay cũng chỉ đạt 64 xe (kim ngạch đạt 1,06 triệu USD).

Doanh số của dòng xe trên 9 chỗ còn thấp hơn cả phân khúc xe tải và bán tải (doanh số đạt gần 6.000 xe kể từ đầu năm). Điều này phần nào cho thấy việc thị trường Việt Nam hiện đã có thể tự cung tự cấp, với hàng loạt tên tuổi như Hyundai, Ford, Kia, Samco, Vinamotor…

Theo nhiều chuyên gia dự báo trong tháng 4/2020 số lượng xe nhập khẩu làm thủ tục thông quan về Việt Nam rất có thể sẽ cao hơn tháng 1 đầu năm, tuy nhiên rất khó đạt mức trên 10.000 xe như trong tháng 2 và tháng 3.

Để kích cầu tiêu dùng, Bộ Công thương đã có văn bản gửi Thủ tướng đánh giá tác động của dịch Covid-19 đến các ngành công nghiệp trọng điểm. Trong đó, Bộ Công thương đưa ra nhiều giải pháp, kiến nghị để hỗ trợ ngành ô tô. Đáng chú ý là đề xuất giảm 50% lệ phí trước bạ cho người mua ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước đến hết năm 2020. 

Trước đó, VAMA đã có báo cáo gửi Chính phủ và các cơ quan chức năng đề xuất giảm 50% thuế giá trị gia tăng (GTGT) và 50% lệ phí trước bạ để kích cầu tiêu dùng. VAMA cho rằng, nếu được thông qua, kỳ vọng sẽ thúc đẩy doanh số ô tô toàn thị trường, trước tương lai ảm đạm vì dịch bệnh.

THỦY SẢN 

Mỹ, Trung Quốc tăng mua cá tra Việt Nam

Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam cho biết, dịch COVID-19 tác động mạnh đến ngành cá tra. Kể từ tháng 3/2020 trở đi, hầu hết các thị trường nhập khẩu cá tra Việt Nam trên thế giới đều “đóng băng”, làm cho doanh số chế biến, xuất khẩu cá tra giảm mạnh. Tuy nhiên, xuất khẩu cá tra đang dần tăng trở lại ở một số thị trường lớn như Mỹ và Trung Quốc dù đại dịch Covid-19 vẫn đang gây khó khăn cho ngành thủy sản.

Cụ thể, theo thống kê của Hải quan Việt Nam, nửa đầu tháng 3 vừa qua, giá trị xuất khẩu cá tra sang thị trường Mỹ tăng 18,8% so với cùng kỳ năm trước. Đây là tín hiệu lạc quan cho các doanh nghiệp đưa cá tra đi Mỹ trong bối cảnh cả năm 2019 giá trị xuất khẩu sản phẩm cá tra sang thị trường này sụt giảm. Tính đến giữa tháng 3.2020, Mỹ là thị trường nhập khẩu cá tra lớn nhất của Việt Nam, chiếm 18,8% tổng giá trị xuất khẩu sản phẩm này của cả nước.

Theo một số doanh nghiệp, kể từ tháng 2.2020, hoạt động xuất khẩu cá tra sang Trung Quốc - Hồng Kông đã khởi động trở lại và dần trở lại bình thường. Chỉ trong nửa đầu tháng 3, kim ngạch xuất cá tra sang thị trường này đã đạt gần 13 triệu USD, tăng 1 triệu USD so với cả tháng trước đó. Một số doanh nghiệp tự tin nhận định rằng, giá trị xuất khẩu cá tra sang Trung Quốc trong các tháng tới có thể tăng 40 - 50%.

Ánh sáng lạc quan đang trở lại ở một số thị trường được hy vọng sẽ thúc đẩy hoạt động sản xuất, xuất khẩu trở lại trong thời gian tới. Tháng 4/2020, giá cá tra nguyên liệu tại Đồng bằng sông Cửu Long vẫn đang chủ yếu xoay quanh mức 18.000 – 18.800 đồng/kg. Đây là mức giá thấp hơn so với cùng kỳ năm trước nhưng đã bắt đầu ổn định dần trong 2 tháng trở lại đây. Do tình hình xâm ngập mặn, một số thị trường xuất khẩu đang tạm lắng khiến cả nhà máy và người nuôi giảm tốc độ thả ao khiến sản lượng thu hoạch dự kiến trong 2 tháng sắp tới giảm. Nhưng đây lại là điều kiện để giá cá tra nguyên liệu có thể tăng trong thời gian tới.

VASEP nhận định trong tháng 4, xuất khẩu cá tra tại một số thị trường vẫn tiếp tục giảm so với cùng kỳ năm trước do hoạt động vận chuyển hàng hóa bị gián đoạn. Nhưng động thái khởi sắc từ một số thị trường lớn giúp cho các doanh nghiệp có thể nhận ra những tích cực trong thời gian tới đây.

Để tháo gỡ khó khăn cho ngành hàng cá tra, VASEP cho rằng, các doanh nghiệp cần thường xuyên cập nhật thông tin từ đối tác Trung Quốc, để tranh thủ thông quan các đơn hàng đặt trước ngay khi được phép, giảm thiểu chi phí bảo quản, kho bãi. Tùy vào diễn biến thực tế, các doanh nghiệp chủ động điều chỉnh kế hoạch chế biến, đồng thời, thông tin cho các vùng nuôi điều chỉnh thời vụ, sản lượng nguyên liệu cho phù hợp, tránh tình trạng dư thừa nguyên liệu, gây thiệt hại cho người nuôi và doanh nghiệp.

HẠT ĐIỀU  

Xuất khẩu hạt điều khó đạt mục tiêu 4 tỷ USD do dịch Covid-19

Trước khi Covid-19 bùng phát, Mỹ, Trung Quốc, EU là 3 thị trường xuất khẩu điều lớn nhất của Việt Nam. Hiện tại, Chính phủ Mỹ và EU đang áp dụng các chính sách mạnh nhằm kiểm soát dịch lan rộng, như đóng cửa biên giới, đóng toàn bộ các chuỗi cửa hàng không thiết yếu. Điều này đã làm đứt gãy nghiêm trọng các chuỗi cung ứng toàn cầu, nhiều giao dịch thương mại bị hủy bỏ.

Theo Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas), nhiều đơn hàng xuất khẩu điều đang bị cắt giảm, chậm thanh toán, thậm chí bị hủy. Một số đối tác đang yêu cầu các nhà máy giao sớm nhất có thể với những đơn hàng cũ, còn đơn hàng mới hầu như không được ký kết.

Với thị trường Trung Quốc, xuất khẩu điều trong quý I/2020 giảm 69,53%, tháng 2 giảm 77,03%, tháng 3 giảm 34,3% so với cùng kỳ năm 2019.

Đánh giá thị trường này, ông Đỗ Hà Nam, Phó chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam cho biết, đối với ngành điều, Trung Quốc là thị trường lớn, nhưng hiện vẫn siết chặt, nên ảnh hưởng tới giá cả và lượng hàng xuất khẩu.

Do hầu hết thị trường lớn đều gặp khó khăn, các doanh nghiệp trong ngành chế biến hạt điều đang sản xuất cầm chừng. Trong khi đó, nguồn cung hạt điều thô rất dồi dào, Việt Nam đang trong thời gian thu hoạch rộ, nên giá điều giảm mạnh.

Điều thô từ Campuchia nhập về Việt Nam chậm lại do tăng cường kiểm dịch ở biên giới và đóng cửa ở một số cửa khẩu. Giá điều thô Campuchia ở khoảng 18.000 - 20.000 đồng/kg cho thu hồi 27-27,5% (tương đương 170-180 hạt/kg) tuy nhiên không dễ mua.

Ghi nhận từ các hộ nông dân trồng điều ở các tỉnh Bình Phước, Đồng Nai cho thấy "nỗi buồn" chung của họ là giá rớt. Một nông dân ở tỉnh Đồng Nai cho biết, giá mua hạt điều thô đầu vụ dao động từ 25.000 - 26.000đ/kg, đến tháng 2, giá giảm còn 21.000 - 22.000đ/kg, tháng 3 tiếp tục rớt, còn dưới 20.000đ/kg. Và đến giữa tháng 4 chỉ còn khoảng 14.000 - 15.000đ/kg.

Theo bản tin thị trường nông lâm thủy sản của Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) ra ngày 31/3/2020, tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, vụ điều năm nay, sản lượng, chất lượng và giá thành đều giảm. Nguyên nhân chính là do thời tiết không thuận lợi, tỷ lệ đậu trái rất thấp, chất lượng hạt điều giảm đáng kể.

Tại thị trường châu Phi, giá điều thô cũng đang giảm mạnh do việc chờ đợi nhu cầu thu mua từ Việt Nam và Ấn Độ. Thế nhưng, trong một thời gian dài, giá đặt mua không cao như mong đợi. Vinacas cho biết, một số nhà thương mại ở khu vực này đã phải chấp nhận bán cắt lỗ. Một số khác cũng đang bán khống và chờ thị trường tiếp tục giảm nữa rồi mới mua điều thô vào. Vì vậy, nếu không làm cách này thì khó lòng kiếm lợi nhuận trong tình cảnh ngành điều hiện nay.

Hiện nay, do nguồn cung khá dồi dào, nông dân lại cần tiền ngay khi giao hàng nên những công ty nào có nguồn tiền mặt mạnh, thanh toán nhanh sẽ chiếm ưu thế mua hàng cả ở trong nước và châu Phi.

Vinacas khuyến cáo các doanh nghiệp trong nước nên thận trọng lựa mua điều thô từ châu Phi do người dân hoặc thương nhân không phơi kịp điều thô. Quan trọng là các nhà máy nên mua bán chậm lại, cập nhật thông tin thị trường liên tục để đưa ra phương án mua bán hợp lý nhất trong tình hình khó khăn chung thế giới và tình thế cạnh trang gay gắt của ngành điều. Điều này cũng đồng nghĩa đến việc quan tâm đến chất lượng sản phẩm nhiều hơn.

Với tình hình xuất khẩu khó khăn, Vinacas khuyến nghị các nhà máy nên mua bán chậm lại, cập nhật thông tin thị trường liên tục từ nhiều nguồn để đưa ra phương án mua bán hợp lý nhất trong tình hình khó khăn chung trên thế giới cũng như tình hình ngành điều trong nước. Mặt khác, doanh nghiệp cũng cần có phương án kinh doanh phù hợp để phục hồi sau dịch.

Các chuyên gia phân tích thị trường nhận định, thị trường xuất khẩu điều sẽ hồi phục sau khi Covid-19 được khống chế, nên doanh nghiệp cần tính phương án đẩy mạnh xuất khẩu cho giai đoạn 6 tháng cuối năm nay. Trong đó, tiềm năng từ thị trường EU được đánh giá là rất lớn.

Tuy nhiên, Ông Phạm Văn Công - Chủ tịch Hiệp hội Điều Việt Nam (VINACAS) cho biết kế hoạch khoảng 4 tỷ USD xuất khẩu trong năm 2020 của ngành điều Việt Nam sẽ phải điều chỉnh giảm. Mức giảm cụ thể do mức cầu điều phối, nhưng cá nhân ông thấy có thể chỉ đạt 3 tỷ USD. 

HẠT TIÊU

Giá hạt tiêu chưa có dấu hiệu khởi sắc

Giá tiêu trong nước thời điểm cuối tháng 4 (ngày 29/4) tăng 500 đồng/kg tại Gia Lai và Đồng Nai, giá tại các địa phương khác vùng trồng tiêu trọng điểm Tây Nguyên và miền Nam đi ngang. Giá tiêu thế giới quay đầu giảm. Cụ thể, giá tiêu tại Đắk Nông (Gia Nghĩa) và Đắk Lắk (Ea H'leo) ổn định ở  mức 38.000đồng/kg. Giá tiêu tại các tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đi ngang trong  ngưỡng 39.500 đồng/kg. Riêng, giá tiêu tại Gia Lai và  Đồng Nai tăng 500 đồng/kg lên mức 37.500đồng/kg. Tuy nhiên, đây vẫn là mức giá thấp nhất tại các tỉnh Tây Nguyên và miền Nam.

Theo dữ liệu báo cáo sơ bộ của Tổng Cục Hải Quan Việt Nam, xuất khẩu hồ tiêu trong tháng 03/2020 đạt 40.297 tấn hạt tiêu các loại, tăng 14.688 tấn, tức tăng 57,35 % so với tháng trước và tăng 5.078 tấn, tức tăng 14,42 % so với cùng kỳ năm trước.

Giá trị kim ngạch xuất khẩu hạt tiêu trong tháng đạt 83,05 triệu USD, tăng 26,03 triệu USD, tức tăng 45,64% so với tháng trước nhưng lại giảm 6,27 triệu USD, tức giảm 7,02 % so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế khối lượng xuất khẩu hạt tiêu 3 tháng đầu năm 2020 đạt tổng cộng 80.680 tấn tiêu các loại, tăng 9.790 tấn, tức tăng 13,81 % so với khối lượng xuất khẩu 3 tháng đầu năm 2019.

Giá tiêu xuất khẩu bình quân trong tháng 03/2020 đạt 2.061 USD/tấn, giảm 7,45 % so với giá xuất khẩu bình quân của tháng 02/2020.

Về giá hạt tiêu, theo Cục Xuất Nhập khẩu (Bộ Công Thương), trong những ngày đầu tháng 4, giá hạt tiêu đen tại thị trường trong nước vẫn ở mức thấp. Cụ thể, ngày 8/4, giá hạt tiêu tại huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai tăng 2,9% so với ngày 31/3, đạt 35.500 đồng/kg; giá tại tỉnh Đồng Nai tăng 1,4%, trong khi giá tại các khu vực còn lại ổn định.

Giá hạt tiêu trắng ở mức 57.000 đồng/kg, tăng 1,7% so với cuối tháng 3, nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với mức 71.000 đồng/ kg cùng kỳ năm 2019. Hiện đang là mùa thu hoạch hạt tiêu tại khu vực Tây Nguyên và miền Nam, giá bán vẫn ở mức thấp so với nhiều năm trở lại đây.

Dự báo thời gian tới, thị trường hạt tiêu thế giới vẫn chịu nhiều tác động mạnh từ đại dịch Covid-19. Diễn biến dịch bệnh vẫn phức tạp, đặc biệt tại Mỹ và châu Âu- các thị trường tiêu thụ hạt tiêu lớn trên thế giới, sẽ khiến nhu cầu nhập khẩu giảm mạnh.Sản lượng hạt tiêu dự trữ trong nước khá lớn, nhưng Việt Nam chủ yếu xuất khẩu dưới dạng thô. Do cơ cấu sản phẩm hạt tiêu chế biến chưa hợp lý, hạt tiêu trắng có giá trị xuất khẩu cao, nhưng chỉ chiếm 10 - 15% tổng sản lượng, dẫn đến giá trị mang lại cho ngành hạt tiêu trong nước vẫn ở mức thấp.

Bên cạnh đó, thị trường hạt tiêu còn gặp khó khăn do nguồn cung bị gián đoạn do các yêu cầu cách ly xã hội và hạn chế thông quan hàng hóa của nhiều nước trên thế giới. Về dài hạn, thị trường hạt tiêu toàn cầu được dự báo vẫn chịu áp lực dư cung.

Trong khi đó, nguồn cung về diện tích, năng suất, sản lượng của Việt Nam và thế giới tăng cao trong những năm gần đây trong khi nhu cầu chỉ tăng từ 2 - 2,5%/năm. Vụ thu hoạch hạt tiêu năm 2020 của Việt Nam đã đạt trên 50% với sản lượng ước đạt 250.000 tấn, tồn kho năm 2019 chuyển sang khoảng 90.000 tấn, do đó nguồn cung năm 2020 ước đạt khoảng 350.000 tấn.

CÀ PHÊ

Giá cà phê giảm xuống mức kỷ lục thời điểm giữa tháng 4

Trong những ngày giữa tháng 4/2020, giá cà phê trong nước đã giảm xuống mức thấp kỷ lục. Cụ thể, ngày 18/4/2020, giá cà phê giảm từ 0,3 - 1,3% so với ngày 8/4/2020 ở hầu hết các tỉnh/huyện khảo sát, nhưng ổn định tại huyện Buôn Hồ tỉnh Đắk Lắk. Tại cảng khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, giá cà phê Robusta loại R1 giảm 1,0% so với ngày 8/4/2020, xuống mức 31.200 đồng/kg.

Giá cà phê có xu hướng tăng nhẹ vào thời điểm cuối tháng 4. Ngày 29/4, giá cà phê có mức tăng mạnh từ 200 đồng – 600 đồng/kg,giá cà phê nhân xô tại các tỉnh Tây Nguyên và miền Nam dao động từ 29.200 – 29.800 đồng/kg.Giá loại R1 giao tại cảng TP HCM ở ngưỡng 30.900 đồng/kg.

Theo dữ liệu mới nhất của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu cà phê trong nửa đầu tháng 4/2020 đạt 82.436 tấn (tương đương 1.373.900 bao), đưa xuất khẩu 3 tháng rưỡi đầu năm 2020 lên đạt tổng cộng 599.533 tấn (khoảng 10 triệu bao, bao 60 kg), tăng 7,27% so với cùng kỳ năm ngoái.

Tháng 3/2020, giá xuất khẩu bình quân cà phê đạt mức 1.734 USD/tấn, tăng 2,9% so với tháng 2/2020 và tăng 0,1% so với tháng 3/2019. Tính chung quý 1/2020, giá xuất khẩu bình quân cà phê đạt mức 1.707 USD/ tấn, giảm 1,8% so với cùng kỳ năm 2019.

Ông Nguyễn Nam Hải, Phó Chủ tịch Hiệp hội Cà phê - Cacao Việt Nam dự báo sản lượng cà phê niên vụ 2020 - 2021 sẽ giảm 15% so với niên vụ 2019 - 2020. 

(TTGCVT/T.Hiền tổng hợp)  

 

Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (024) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (024) 39762593 
Email:ttgcvattu1989@gmail.com