Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Thị trường hàng hóa nguyên liệu trong nước 2 tháng đầu năm 2020
Cập nhật: 2-3-2020

VÀNG

Giá vàng phá vỡ kỷ lục đạt mức cao nhất 49,2 triệu đồng vào cuối tháng 2/2020


Thị trường vàng trong nước đã trải qua tháng đầu tiên của năm 2020 biến động mạnh. Ngày 8-1, giá vàng tăng vọt, chạm mức đỉnh 44,9 triệu đồng/lượng. Sau đó, giá hạ nhiệt, dao động quanh mức 43,4 triệu đồng/lượng. Tuy nhiên, phiên hôm 29/1, sau đợt nghỉ Tết Nguyên đán, thị trường mở cửa trở lại, giá tăng tới 750.000 đồng/lượng, lên mức 44,7 triệu đồng/lượng. Tính chung cả tháng 1, giá vàng SJC đã tăng 2,15 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra. Vào thời điểm này tháng trước, giá vàng trong nước được giao dịch phổ biến là 42,45 triệu đồng/lượng (mua vào) - 42,7 triệu đồng/lượng (bán ra). Mặc dù giá biến động mạnh nhưng giao dịch trên thị trường không quá sôi động.

Giá vàng trong nước tăng mạnh trong tháng này bởi ảnh hưởng từ thị trường thế giới. Căng thẳng tại Trung Đông đã khiến giá kim loại quý ngày 7-1 tăng lên sát mức 1.580 USD/ounce, mức cao nhất trong 7 năm qua. Một nguyên nhân nữa khiến giá vàng tăng cao bởi giới đầu tư lo ngại bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút corona gây ra có thể ảnh hưởng đến triển vọng kinh tế toàn cầu. Vì thế, họ tìm đến vàng nhiều hơn. So với đầu năm, giá vàng thế giới hiện cao hơn 50 USD/ounce.

Bước sang tháng 2/2020, vàng đã có những “bứt phá” hơn về giá khiến nhiều nhà đầu tư hoang mang. Vào sáng ngày mùng 2/2, giá mua vào – bán ra tại hầu hết các hệ thống kinh doanh vàng ở mức 4.435 - 4.485 triệu đồng/lượng. Và giá đã đạt đỉnh cao nhất trong tháng là vào ngày 24/2 với mức giá được niêm yết là 4.780 – 4.920 triệu đồng/lượng vào 15h30 chiều cùng ngày. 

Đã từ rất lâu thị trường vàng mới lại chứng kiến đợt tăng "khủng" như hôm 24/2. Chỉ trong 1 ngày mỗi lượng vàng đã "đắt" thêm tới hơn 2 triệu đồng/lượng. Điều này đã khiến các doanh nghiệp kinh doanh vàng phải nới rộng chênh lệch mua và bán lên tới hơn 1 triệu đồng/lượng.

Giá vàng trong nước cũng đang tăng nhanh hơn giá vàng thế giới. Quy đổi theo tỷ giá tại Vietcombank hôm 24/2, tại thời điểm 16 giờ 30 phút tính theo giờ Hà Nội, giá vàng thế giới tương đương 47,5 triệu đồng/lượng. Như vậy, giá vàng trong nước đã tăng cao hơn so với giá vàng thế giới khoảng 1,5 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế và các khoản phí).

Tuy nhiên, mức giá phá vỡ kỷ lục trong nhiều năm liền vào chiều 24/2 đã nhanh chóng biến mất. Giá vàng có xu hướng giảm mạnh ngay vào hôm sau. Sau 3 phiên liên tục điều chỉnh, đến sáng 28/2 thương hiệu SJC đã giảm khoảng 2,4 triệu đồng/lượng so với mức đỉnh của ngày đầu tuần song vẫn duy trì chênh lệch rất cao với thế giới. Theo đó, giá mua và bán vàng SJC tại Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn niêm yết từ 46 - 46,6 triệu đồng/lượng, giảm 100.000 đồng/lượng so với chốt phiên trước. Tại Công ty Doji Hà Nội, giá vàng SJC giao dịch từ 46,1 - 46,4 triệu đồng/lượng, đi ngang so với chốt phiên trước. Chênh lệch giá mua/giá bán vàng SJC sáng 28/2 dao động từ 300.000 - 600.000 đồng/lượng, giảm khoảng 200.000 đồng/lượng so với phiên trước.

ĐÔ LA

Tỷ giá VND/USD biến động vì dịch bệnh Covid-19

Dịch bệnh do Covid-19 diễn biến phức tạp thời gian qua khiến tỷ giá giữa đồng VND với USD cũng liên tục biến động. Mặc dù mức tăng không đột biến, không có tình trạng đầu cơ, nhưng đồng USD trên thị trường quốc tế tăng đã tác động không nhỏ tới tỷ giá trong nước. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, diễn biến trên là không đáng lo ngại.

Sau đợt nghỉ Tết Nguyên đán Canh Tý, tỷ giá VND/USD tăng khá mạnh, do đồng USD trên thị trường quốc tế tăng trước những lo ngại của giới đầu tư khi dịch bệnh do Covid-19 bùng phát và có nguy cơ lan rộng. Điều này khiến tỷ giá trong nước cũng biến động theo.

Cuối tháng 1-2020, giá USD được các ngân hàng niêm yết phổ biến ở mức 23.165 VND/USD (mua vào) - 23.305 VND/USD (bán ra), tăng 60 VND/USD so với thời điểm trước Tết Nguyên đán. Đến đầu tháng 2-2020, tỷ giá có thời điểm tăng thêm 35 VND/USD, lên 23.200 VND/USD (mua vào) - 23.340 VND/USD (bán ra), thậm chí có thời điểm tăng 90 VND/USD.

Trong cả tháng 1, tỷ giá USD gần như đi ngang quanh mức chốt năm 2019, với nguồn cung ngoại tệ dồi dào. Tuy nhiên, sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, tỷ giá đồng bạc xanh với tiền đồng đã bật tăng trên cả thị trường ngân hàng và tự do. Đến giữa tháng 2, tỷ giá trung tâm đã tăng 50 đồng so với giữa tháng 1. Tỷ giá giao dịch trung bình trên thị trường ngân hàng cũng tăng 20 đồng ở chiều mua và 40 đồng ở chiều bán. Tỷ giá trên thị trường tự do được mua - bán ở ngưỡng 23.200 - 23.300 đồng, tăng 30 và 120 đồng so với cuối năm 2019. SSI Research đánh giá: "Chênh lệch tỷ giá mua vào và bán ra nới rộng, hiện ở mức cao nhất trong nhiều năm trở lại đây cho thấy tâm lý thận trọng trước rủi ro tỷ giá đang gia tăng".

Tuy nhiên, tỷ giá không duy trì mức cao trong thời gian dài, bởi ngay sau đó đã giảm, dù mức giảm không nhiều. Trong một số ngày giao dịch gần đây, giá bán USD được ngân hàng niêm yết phổ biến là 23.290 - 23.310 VND/USD. Như vậy trong 2 tuần đầu tháng 2, tỷ giá USD đã có nhiều biến động. Tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ngày 15-2 ở mức 23.215 VND/USD, tăng khoảng 10-15 đồng so với cuối tháng 1.

Theo Báo cáo định kỳ tháng 2-2020 của Hội Nghiên cứu thị trường liên ngân hàng Việt Nam (VIRA), tỷ giá đang trong xu hướng ổn định trở lại so với mấy ngày đầu tháng 2 biến động. Tuy nhiên, mức bình quân tháng 2 được dự báo sẽ cao hơn đáng kể so với tháng 1. Suốt thời gian qua, giá USD giao dịch trên thị trường 1 (giữa ngân hàng với dân cư và doanh nghiệp) luôn bám sát tỷ giá liên ngân hàng, với chênh lệch thường trong khoảng 40-50 đồng.

Chuyên gia tài chính - ngân hàng, Tiến sĩ Nguyễn Đức Hưởng cũng cho rằng, tỷ giá trong nước đang chịu sức ép lớn từ biến động của USD và đồng nhân dân tệ. Trong khi USD liên tục tăng giá mạnh, thì đồng nhân dân tệ lại rơi vào trạng thái “lao dốc”. Đối với thị trường trong nước, tỷ giá giữa VND và USD chỉ tăng nhẹ từ đầu năm đến nay, nhưng lại đẩy VND tăng khá lớn so với đồng nhân dân tệ. Nếu mức giảm của đồng nhân dân tệ chưa dừng lại sẽ khiến VND tiếp tục tăng giá, ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam vốn cũng đang gặp nhiều khó khăn bởi dịch bệnh do Covid-19.

Trong khi đó, nhóm phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Bảo Việt (BVSC) cũng nhận định, nguồn cung ngoại tệ tiếp tục dồi dào sẽ giúp tỷ giá USD ổn định trong thời gian tới. Cụ thể, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện trong tháng 1-2020 đạt 1,6 tỷ USD (tăng 3,2% so với cùng kỳ), lượng vốn FDI đăng ký mới cũng đạt 5,33 tỷ USD (tăng 2,8 lần).

Về vấn đề này, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Minh Hưng khẳng định: Ngân hàng Nhà nước sẽ không dùng tỷ giá để tạo cạnh tranh với đối tác thương mại, không can thiệp có chủ đích vào chính sách tiền tệ để tạo thuận lợi trong xuất, nhập khẩu hàng hóa. Trong bối cảnh chịu áp lực từ biến động thị trường quốc tế, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục điều hành tỷ giá trung tâm linh hoạt, điều chỉnh tỷ giá mua/bán ngoại tệ với các tổ chức tín dụng bám sát diễn biến thị trường. Bởi ổn định tỷ giá và thị trường ngoại tệ là một trong những mục tiêu nhằm ổn định kinh tế vĩ mô.

THÉP XÂY DỰNG

Giá thép xây dựng tăng nhẹ ngay từ đầu năm 2020

Theo báo cáo từ Hiệp hội Thép Việt Nam, bước sang tháng 1/2020, một số doanh nghiệp sản xuất đã điều chỉnh tăng giá mặt hàng thép xây dựng với mức tăng từ 150 đồng/kg đến 250 đồng/kg tùy từng đơn vị, chủng loại do chính sách bán hàng của nhà máy thay đổi. Hiện nay, giá bán tại các nhà máy sản xuất thép ở mức khoảng từ 10.500 - 12.600 đồng/kg (giá giao tại nhà máy, chưa bao gồm 10% thuế VAT, chiết khấu bán hàng). Giá thép xây dựng bán lẻ phổ biến trên thị trường tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung dao động ở mức 10.800 - 13.000 đồng/kg; tại các tỉnh miền Nam dao động ở mức 11.000 - 13.200 đồng/kg.

Về sản xuất và tiêu thụ, trong bối cảnh thị trường toàn cầu trầm lắng, thị trường thép trong nước tháng 01/2020 giảm cả ở sản xuất và bán hàng thép lần lượt là 22,3% và 31% so với cùng kỳ năm 2019. Cụ thể, theo thống kê mới nhất của Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), trong tháng 1/2020, sản xuất thép của các doanh nghiệp đạt 1.665.273 tấn, giảm 26,21% so với tháng trước và giảm 22,3% so với cùng kỳ 2019. Lượng hàng bán ra cũng chỉ đạt 1.368.009 tấn, giảm 31,83% so với tháng trước, và giảm 30,2% so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó, xuất khẩu thép đạt 283.134 tấn, giảm 21,34% so với tháng 12/2019 và giảm 38% so với cùng kỳ năm 2019.

Nguyên nhân của việc giảm sút trong tháng 1/2020 được đánh giá chủ yếu là do hai kỳ nghỉ tết với thời gian dài đã ảnh hưởng chung tới kết quả tiêu thụ của các doanh nghiệp thép xây dựng.

Về tình hình xuất khẩu, cũng theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu sắt thép các loại ra thị trường nước ngoài trong tháng đầu tiên của năm 2020 đạt 483.161 tấn, thu về 266,08 triệu USD, giảm trên 26% cả về lượng và kim ngạch so với tháng cuối cùng của năm 2019, đồng thời cũng giảm 37,3% về lượng và giảm 45% về kim ngạch so với tháng 1/2019. Giá xuất khẩu tăng nhẹ 1,1% so với tháng 12/2019 nhưng vẫn giảm 12,2% so với tháng 1/2019, đạt trung bình 550,7 USD/tấn.

Campuchia là thị trường tiêu thụ nhiều nhất các loại sắt thép của Việt Nam, chiếm 22% trong tổng lượng và tổng kim ngạch xuất khẩu sắt thép của cả nước, đạt 105.534 tấn, tương đương 57,68 triệu USD, giảm 22,7% về lượng và giảm 20,9% về kim ngạch so với tháng cuối năm 2019 và cũng giảm mức tương ứng 34,4% và 39,4% so với tháng đầu năm 2019.

Sắt thép xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc - thị trường lớn thứ 2 cũng giảm 16% cả về lượng và kim ngạch so với tháng cuối năm 2019 nhưng so với tháng 1/2019 thì tăng đột biến gấp 113 lần về lượng và tăng gấp 48,7 lần về kim ngạch, đạt 113.757 tấn, tương đương 47,03 triệu USD, chiếm 23,5% trong tổng lượng và chiếm 17,7% trong tổng kim ngạch xuất khẩu sắt thép của cả nước.

Theo nhận định từ Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), năm 2020, dự báo tăng trưởng sản xuất thép Việt Nam sẽ tiếp tục có tăng trưởng nhẹ, khoảng 6-8%. Cụ thể, thép thô sẽ ước đạt gần 18 triệu tấn; sản lượng thép cán nóng (thép cuộn cán nóng dẹt và thép xây dựng) ước đạt khoảng 17,1 triệu tấn.

Năm 2020, Việt Nam sẽ phải nhập khẩu một số nguyên liệu như quặng sắt (gần 17 triệu tấn), thép phế (khoảng 5 triệu tấn), thép cuộn cán nóng ước khoảng 5 triệu tấn. Mức tăng trưởng này được nhận định là sẽ thấp hơn một chút so với mức tăng trưởng của ngành trong năm 2019 vừa qua. 

Ngành thép trong nước sẽ tiếp tục đối mặt thách thức do sức ép cạnh tranh từ việc gia tăng nguồn cung trong nước, thép nhập khẩu từ nước ngoài; việc siết chặt tín dụng cho vay đối với thị trường bất động sản trong nước; ngoài ra, các công trình xây dựng giãn tiến độ chậm. 

XI MĂNG

Tháng đầu năm, nhiều công ty xi măng điều chỉnh tăng giá bán



Điểm lại năm 2019 đã qua, trong bức tranh chung của thị trường vật liệu xây dựng, xi măng vẫn là điểm sáng với mức tăng trưởng toàn ngành vượt 2% so với năm 2018. Tổng sản lượng xi măng, clinker tiêu thụ năm 2019 khoảng 98 triệu tấn, tăng 2% so với năm 2018; trong đó, xi măng tiêu thị nội địa khoảng 67 triệu tấn, tăng 1%; sản phẩm xi măng và clinker xuất khẩu khoảng 32 triệu tấn với giá trị xuất khẩu ước đạt 1,27 tỷ USD.

Bước sang năm 2020, theo thông tin từ Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính), tại thời điểm từ ngày 1/1/2020, nhiều công ty xi măng đã thực hiện kê khai tăng giá bán từ 20.000 – 30.000 đồng tùy chủng loại. Hiện giá bán xi măng các loại PCB30 và PCB40 tại các máng xuất của các công ty xi măng đối với loại xi măng PCB 40 dao động phổ biến ở mức 840.000 đồng/tấn đến 1.650.000 đồng/tấn tùy từng chủng loại, thương hiệu.

Bộ Xây dựng ước tính, tổng cầu tiêu thụ xi măng toàn ngành năm 2020 sẽ đạt khoảng 101 - 103 triệu tấn, tăng 4 - 5% so với năm 2019. Trong đó, tiêu thụ xi măng nội địa đạt khoảng 69 - 70 triệu tấn, xuất khẩu khoảng 32 - 34 triệu tấn. Xuất khẩu xi măng năm nay dự kiến ở mức 34 triệu tấn và năm 2021 là 25 triệu tấn do kỳ vọng tiêu thụ nội địa tăng lên, xuất khẩu giảm đi khi Chính phủ không khuyến khích xuất khẩu tài nguyên chưa chế biến sâu.

Ngoài ra, Bộ Xây dựng cảnh báo, sản lượng xuất khẩu của Trung Quốc và Thái Lan có thể tăng cao, khiến xuất khẩu xi măng của Việt Nam gặp nhiều khó khăn khi cạnh tranh gay gắt hơn. Do đó, các doanh nghiệp xi măng trong nước cần nắm bắt diễn biến thị trường xi măng thế giới để điều chỉnh kịp thời hoạt động sản xuất, điều chỉnh nguồn cung để tránh bị ép giá, giữ giá bán ổn định, có chiến lược dài hạn về hoạt động sản xuất kinh doanh.

XĂNG DẦU 

Giá xăng dầu đã có 3 kỳ điều chỉnh kể từ đầu năm 2020

Giá xăng dầu trong nước tiếp tục được nhà điều hành điều chỉnh định kỳ 15 ngày một lần/tháng kể từ đầu năm 2020. Theo đó, đến ngày 28/2, giá xăng dầu đã được điều chỉnh 3 lần. Trong đó, ở cả 3 kỳ, giá mặt hàng được coi là “xương sống” của nền kinh tế đều giảm mạnh theo diễn biến giá xăng dầu trên thị trường thế giới. 

Tại kỳ điều chỉnh đầu tiên của năm, Liên Bộ Công thương - Tài chính đã phát đi thông tin cho biết, bình quân giá thành phẩm xăng dầu thế giới trong 15 ngày trước kỳ điều hành giá xăng dầu ngày 15/1/2020 có nhiều biến động. Mặc dù tăng, giảm đan xen nhưng xu hướng chung là tăng, nhất là đối với các loại dầu. Cụ thể: giá bình quân 15 ngày là 71,998 USD/thùng xăng RON92 dùng để pha chế xăng E5RON92 (tăng 0,172 USD/thùng, tương đương +0,24% so với kỳ trước); 74,396 USD/thùng xăng RON95 (giảm 0,695 USD/thùng, tương đương -0,93% so với kỳ trước); 80,425 USD/thùng dầu diesel 0.05S (giảm 0,249 USD/thùng, tương đương -0,31% so với kỳ trước); 79,541 USD/thùng dầu hỏa (giảm 0,33 USD/thùng, tương đương – 0,41% so với kỳ trước); 341,055 USD/tấn dầu mazut 180CST 3.5S (tăng 46,433 USD/tấn, tương đương +15,76% so với kỳ trước).

Do đó, để đảm bảo giá bán xăng dầu trong nước phản ánh xu hướng giá thành phẩm xăng dầu thế giới và phục vụ tiêu dùng của người dân trong bối cảnh thị trường đang trong giai đoạn cận Tết Nguyên đán, giá một số mặt hàng thiết yếu nhóm thực phẩm phục vụ tết có xu hướng tăng, Liên Bộ Công thương – Tài chính quyết định giữ mức trích lập Quỹ Bình ổn giá (BOG) xăng dầu đối với xăng E5RON92, xăng RON95, dầu diesel và dầu hỏa, giảm mức trích lập Quỹ BOG đối với dầu mazut, đồng thời chi sử dụng Quỹ BOG đối với xăng E5RON92 và dầu diesel ở mức 200 đồng/lít; dầu hỏa ở mức 150 đồng/lít (kỳ trước chi Quỹ BOG đối với xăng E5RON92, dầu diesel và dầu hỏa ở mức 150 đồng/lít).

Theo đó, thực hiện trích lập Quỹ BOG đối với xăng E5RON92, dầu diesel và dầu hỏa ở mức 100 đồng/lít; xăng RON95 trích lập ở mức 400 đồng/lít, dầu mazut trích lập ở mức 0 đồng/lít. Chi Quỹ BOG đối với xăng E5RON92 và dầu diesel ở mức 200 đồng/lít; dầu hỏa ở mức 150 đồng/lít.

Sau khi thực hiện việc trích lập và chi sử dụng Quỹ BOG xăng dầu, điều chỉnh giá bán các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường như sau: Xăng E5RON92 giảm 36 đồng/lít; xăng RON95-III: giảm 77 đồng/lít; dầu diesel 0.05S: giảm 43 đồng/lít; dầu hỏa: giảm 50 đồng/lít; dầu mazut 180CST 3.5S: tăng 789 đồng/kg, kể từ 15 giờ 30 chiều nay, 15/1.

Như vậy, giá bán các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường sau điều chỉnh sẽ không cao hơn mức giá: Xăng E5RON92: không cao hơn 19.845 đồng/lít; xăng RON95-III: không cao hơn 20.913 đồng/lít; dầu diesel 0.05S: không cao hơn 16.548 đồng/lít; dầu hỏa: không cao hơn 15.535 đồng/lít; dầu mazut 180CST 3.5S: không cao hơn 12.709 đồng/kg./.s

Tại kỳ điều chỉnh lần thứ 2 trong tháng 1/2020, vào thời điểm 15h30 chiều ngày 30/1, Liên Bộ Công thương - Tài chính quyết định tiếp tục giảm mạnh giá xăng dầu trong kỳ điều hành lần này, với mức giảm từ 265 -  791 đồng/lít (kg).

Bên cạnh đó, tại kỳ điều hành này, liên Bộ cũng trích lập Quỹ bình ổn giá với xăng E5 ở mức 100 đồng/lít. Còn RON 95 và dầu diesel trích lập ở mức 500 đồng/lít; dầu hỏa trích lập 400 đồng/lít, dầu mazut trích lập ở mức 200 đồng/lít.

Như vậy giá xăng E5 giảm 577 đồng/lít, giá xăng RON 95-III giảm tới 791 đồng/lít. Giá dầu diesel giảm 412 đồng/lít, giá dầu hỏa giảm 473 đồng/lít, giá dầu mazut giảm 265 đồng/kg.

Sau khi điều chỉnh giảm, giá xăng E5 không cao hơn 19.268 đồng/lít. Giá xăng RON 95 không cao hơn 20.122 đồng/lít. Giá dầu diesel không cao hơn 16.136 đồng/lít còn dầu hỏa không cao hơn 15.062 đồng/lít./. 

Bước sang tháng 2/2020, kể từ 15h ngày 14/2, Liên Bộ Công Thương - Tài chính công bố mỗi lít xăng giảm 742 - 765 đồng, các mặt hàng dầu cũng hạ từ 792 – 1.108 đồng/lít/kg .

Cũng tại kỳ điều hành này, Liên Bộ tiếp tục thực hiện mức trích lập Quỹ bình ổn giá xăng dầu đối với xăng E5 RON 92 ở mức 100 đồng/lít, 600 đồng/lít đối với xăng RON 95, 700 đồng/lít đối với dầu diesel và dầu hỏa, còn dầu madut ở mức 200 đồng/kg. Liên Bộ quyết định tiếp tục ngừng chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu ở kỳ điều chỉnh lần này.

Sau khi thực hiện việc trích lập Quỹ Bình ổn giá xăng dầu, Liên Bộ quyết định giảm giá xăng E5 RON 92 là 765 đồng/lít, xăng RON 95 - III giảm 742 đồng/lít, dầu diesel 0.05S giảm 961 đồng/lít, dầu hỏa giảm 1.108 đồng/lít, dầu mazuts 180CST 3.5S giảm 792 đồng/kg.

Sau khi điều chỉnh và trích lập Quỹ Bình ổn giá xăng dầu, kể từ 15h ngày 14/2, giá xăng E5 RON 92 được điều chỉnh tối đa là 18.503 đồng/lít, xăng RON 95 tối đa là 19.380 đồng/lít, dầu diesel có mặt bằng giá mới 15.175 đồng/lít, dầu hỏa không cao hơn 13.954 đồng/lít và madut cao nhất là 11.652 đồng/kg.

Thực hiện nguyên tắc công khai minh bạch trong điều hành giá xăng dầu theo quy định tại Nghị định số 83/2014/NĐ-CP ngày 03/9/2014 của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu, mới đây Bộ Tài chính công khai thông tin về tình hình trích lập, sử dụng và lãi phát sinh trên số dư Quỹ Bình ổn giá xăng dầu (Quỹ BOG) Quý IV/2019. Theo đó, số dư Quỹ BOG đến hết Quý IV/2019 (đến hết ngày 31/12/2019): 2.779,815 tỷ đồng.

GAS

Giá gas tăng sốc 48.000 đồng/bình trong tháng 1 và giảm 17.000/bình trong tháng 2/2020

Chiều ngày 31-12 - 2019, các công ty gas tại TP.HCM cho biết gia gas bán lẻ sẽ tăng thêm 48.000 đồng/bình 12kg từ ngày 1-1-2020. Đây là mức tăng mạnh kể từ đầu năm đến nay với mức tăng tương đương 4.000 đồng/kg so với mức giá bán vào tháng 12-2019.

Cụ thể, Công ty cổ phần kinh doanh Khí miền Nam – chi nhánh miền Đông (PVGas South miền Đông) cho biết giá của các loại bình PetroVietnam Gas, Gas Dầu khí… sẽ tăng thêm 48.000 đồng/bình 12kg và 180.000 đồng/bình 45kg.

Giá bán lẻ tối đa đến tay người tiêu dùng của các loại bình gas trên là từ 372.000 - 401.000 đồng/bình 12kg.

Tương tự, Công ty TNHH một thành viên Dầu khí thành phố Hồ Chí Minh (Saigon Petro) cũng cho biết giá gas SP của các doanh nghiệp này cũng sẽ tăng tương ứng 48.000 đồng/bình 12kg, giá bán lẻ đến tay người tiêu dùng không quá 380.000 đồng/bình 12kg.

Theo các doanh nghiệp, giá gas nhập khẩu trong tháng 1 tăng đến 130 USD/tấn lên 577,5 USD/tấn và giá Premium (chi phí vận chuyển, bảo hiểm của các hãng tàu đối với gas nhập khẩu và phụ phí thị trường đối với gas sản xuất trong nước) lại tăng gần 20 USD/tấn. Mức phí Premium sau nhiều năm bình ổn đã tăng 20 USD/tấn vào đầu năm 2019 và năm nay lại thêm một lần tăng giá nữa khiến giá gas bán ra tại thị trường nội địa cũng tăng thêm chi phí này.

Bước sang tháng 2/2020, Công ty Gas Pacific Petro, City Petro, ESGas cho biết từ ngày 1/2 giá gas giảm 17.000 đồng/bình 12 kg. Theo đó, giá bán lẻ các loại không quá 361.500 đồng/bình 12 kg. Theo các công ty gas, do giá gas thế giới tháng 2 công bố 525 USD/tấn, giảm 52.5 USD/tấn so với tháng 1. Vì vậy các công ty đã điều chỉnh giảm theo.

Ô TÔ

Mở màn năm 2020, thị trường ô tô sụt giảm 50%



Theo báo cáo mới nhất từ VAMA (Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam), trong tháng 1/2020, doanh số bán hàng của toàn thị trường đạt 15.787 xe, giảm 52% so vớI tháng 12/2019 và giảm 52% so với cùng kỳ năm ngoái.

Thống kê từ VAMA cũng cho thấy lượng xe du lịch tiêu thụ tháng vừa qua đạt 12.807 xe (giảm 48% so với tháng trước); 2.757xe thương mại (giảm 65%) và 223 xe chuyên dụng (giảm 41%).

Tiêu thụ xe cả nhập khẩu và lắp ráp cũng đi xuống. Cụ thể sản lượng của xe lắp ráp trong nước đạt 9.599 xe, giảm 51% so với tháng trước và số lượng xe nhập khẩu nguyên chiếc là 6.188 xe, giảm 54%.

Trên bảng số liệu từng hãng xe do VAMA cung cấp, so với cùng kỳ năm ngoái hầu hết các thương hiệu xe đều tăng trưởng âm. Mức giảm đều rất cao, trung bình trên dưới 50%. Sụt giảm nhiều nhất là VEAM (chủ yếu sản xuất xe thương mại) lên tới 93%, Suzuki và Isuzu cũng có mức giảm gần 80%. Ngay cả hai hãng xe có sức tăng trưởng mạnh nhất là Mitsubishi và Honda cũng giảm tiêu thụ xe lớn. Honda tháng 1/2020 chỉ bán được 1.916 xe, giảm 36%; Mitsubishi bán được 1.670 xe, giảm 57%.

Nguyên nhân khiến thị trường đi ngược quy luật khi thông thường tháng cuối cùng của năm Âm lịch thường khá sôi động với tình trạng người tiêu dùng dễ dàng bỏ tiền mua xe mà ít đắn đo là bởi thị trường bất động sản cuối năm vừa qua chậm, giá vàng lại lên cao khiến nhiều khách hàng giảm hẳn nhu cầu mua xe. Ngoài ra thị phần các hãng xe doanh số lớn đang dần phân bổ lại cho các hãng xe mới nổi lên như Mitsubishi, Honda, cũng ảnh hưởng đến số liệu tiêu thụ.

Trước việc doanh số sụt giảm mạnh trong tháng 1/2020, ngay đầu tháng 2/2020 nhiều hãng xe đã ngay lập tức tung ra những chương trình ưu đãi, giảm giá cho các mẫu xe nhằm kích cầu. Trong đó, đáng chú ý là mẫu SUV 7 chỗ Mazda CX-8 được hãng giảm giá từ 50 - 100 triệu đồng (tùy phiên bản) kéo giá bán của xe xuống chỉ từ 1,099 - 1,149 tỷ đồng. Mẫu SUV nhỏ hơn CX-5 cũng được giảm 30 - 50 triệu đồng (tùy phiên bản), hiện giá xe chỉ từ 899 triệu đồng đên 1,119 tỷ đồng. Bên cạnh đó, THACO cũng giảm giá bán cho mẫu Mazda2 từ 60 - 70 triệu đồng (tùy phiên bản). Một ông "lớn" là Toyota cũng có mức giảm mạnh cho nhiều mẫu xe trong tháng 2/2020 với mức giảm cao nhất của Fortuner là 85 triệu đồng, Altis 55 triệu đồng, Innova 65 triệu đồng. 

Trong khi đó, hãng xe thương hiệu Việt - VinFast lại có động thái đi ngược với thị trường bằng việc tăng giá các mẫu xe. Cụ thể, từ ngày 12/2, mẫu xe VinFast Fadil tăng 20 triệu đồng, Lux A 2.0 là 30 triệu đồng và Lux SA 2.0 tăng 50 triệu đồng cho tất cả các phiên bản. Tuy nhiên, lý giải cho điều này, đại diện VinFast cho biết, đợt tăng giá này nằm trong kế hoạch kinh doanh, cũng như theo lộ trình đưa giá xe về mức "Ba không", tức giá chưa gồm chi phí khấu hao, chi phí tài chính và lợi nhuận.

Về tình hình nhập khẩu, theo số liệu thống kê mới nhất của Tổng cục Hải quan (Bộ Tài chính), lượng xe ôtô nhập khẩu về Việt Nam trong nửa đầu tháng 2-2020 giảm mạnh so với cùng kỳ trong bối cảnh dịch Covid-19 đang ảnh hưởng đến kinh tế toàn cầu. Cụ thể, tổng lượng xe nhập khẩu từ 1-2 đến hết ngày 15-2 chỉ đạt 4.508 chiếc, với giá trị khoảng gần 101 triệu USD. Trong đó, xe ôtô 9 chỗ ngồi trở xuống nhập khẩu đạt con số 3.519 chiếc, với tổng giá trị hơn 72,5 triệu USD. Số lượng xe ôtô tải nhập khẩu vào Việt Nam đầu tháng 2 là 946 chiếc. So với cùng kỳ năm 2019, lượng xe nhập khẩu nửa đầu tháng 2 đã giảm hơn 400 chiếc. Số lượng xe nhập khẩu trong tháng 1-2020 cũng ghi nhận giảm sút đáng kể so với thời điểm cuối năm 2019 và cùng kỳ. Theo đó, trong tháng 1-2020, các doanh nghiệp kinh doanh ôtô tại Việt Nam nhập khẩu 4.281 xe ôtô nguyên chiếc các loại, với tổng giá trị đạt 111 triệu USD. So với tháng cuối năm 2019, ôtô nhập khẩu vào Việt Nam giảm 2.349 xe.

Trong số xe ôtô các loại được nhập về Việt Nam trong tháng gần 2 tháng đầu năm, chủ yếu vẫn là các mẫu mã ôtô du lịch dưới 9 chỗ sản xuất tại các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á. Trong đó, các dòng xe nhập khẩu từ Thái Lan và Indonesia chiếm tới khoảng 83% số lượng ôtô làm thủ tục thông quan tại các cảng. Bình quân mỗi chiếc ôtô nhập khẩu từ Indonesia vào Việt Nam có giá khai báo hải quan khoảng 11.700 USD, tương đương gần 270 triệu đồng (chưa tính thuế phí); ôtô nhập từ Thái Lan có giá khoảng 22.600 USD/chiếc, tương đương 520 triệu đồng.

THỦY SẢN 

Giá cá tra giảm mạnh do dịch bệnh Covid-19

Bước qua năm 2019 đầy khó khăn khi giá cá tra liên tục giảm sâu, thậm chí giá bán dưới giá thành sản xuất, năm 2020 được dự báo là năm tươi sáng hơn với ngành cá tra. Giá cá tra sẽ nhích nhẹ ngay quý đầu năm. Tuy nhiên, tình hình lại trái ngược hoàn toàn. Theo Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết, giá cá tra nguyên liệu đã giảm mạnh ngay từ đầu năm 2020. Cụ thể tính đến giữa tháng 2, giá cá tra nguyên liệu tại Đồng bằng sông Cửu Long giảm 42,6% so với cùng kỳ năm 2019, dao động ở mức 19.500 đồng/kg. Theo VASEP, ảnh hưởng của dịch viêm phổi cấp do virus Corona chủng mới đã khiến xuất khẩu cá tra sang thị trường Trung Quốc tạm thời bị gián đoạn. Đây là thị trường lớn nhất của cá tra Việt Nam nên ngay khi diễn biến thị trường thay đổi đã tác động ngay tới sản xuất cá tra nguyên liệu. Trước tình hình thị trường tạm chững trong quý đầu năm nay, VASEP nhận định giá cá tra có thể giảm nhẹ thêm trong thời gian tới. Nếu thị trường xuất khẩu sớm ổn định trở lại thì giá cá tra sẽ tăng dần trong các quý tiếp theo.

Hiện nay, không chỉ tại Trung Quốc hay Việt Nam, dịch bệnh viêm phổi do virus Corona đang tác động lớn tới hoạt động XNK, thương mại toàn cầu. Do đó, các chuyên gia đưa ra dự báo nền kinh tế Việt Nam cũng không tránh khỏi tiêu cực trong ngắn và trung hạn. Tuy nhiên, VASEP cho rằng, đây cũng là cơ hội cho các DN cá tra đẩy mạnh và phát triển hơn kênh bán hàng, tiêu thụ nội địa. Theo một số DN XK cá tra, sắp tới khi dịch bệnh được kiểm soát, nhu cầu NK sản phẩm cá tra đông lạnh tại Trung Quốc sẽ tăng mạnh mẽ do thời gian giao thương ngưng dài, nhu cầu tiêu thụ tại thị trường này còn rất lớn.

Về tình hình xuất khẩu thủy sản nói chung, Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam ước tính, xuất khẩu thủy sản của cả nước tháng 1/2020 đạt 556 triệu USD, giảm 25% so với cùng kỳ năm 2019, chủ yếu do tháng này có kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Canh Tý 2020. Cụ thể, XK tôm đạt khoảng 251 triệu USD, tăng 7%, XK cá tra đạt 75 triệu USD, giảm 64%. XK các mặt hàng hải sản đạt 230 triệu USD, giảm 22%, trong đó XK cá ngừ giảm 30% đạt khoảng 40 triệu USD, XK mực - bạch tuộc giảm 50% còn 33 triệu USD.

Dự báo xuất khẩu tôm sang EU đạt 800 triệu USD trong năm 2020

EU là thị trường nhập khẩu tôm lớn nhất của Việt Nam, chiếm tỷ trọng 20,5% trong tổng giá trị xuất khẩu tôm của Việt Nam. Năm 2019, xuất khẩu tôm Việt Nam sang thị trường EU đạt 689,8 triệu USD, giảm 17,7% so với năm 2018. Tuy nhiên, trong quý cuối cùng của năm 2019, xuất khẩu tôm sang EU có chiều hướng tốt hơn, không giảm sâu như 3 quý đầu năm. 

Theo đại diện VASEP, Hiệp định Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) dự kiến có hiệu lực vào tháng 7/2020 có thể tạo kỳ vọng cho xuất khẩu tôm Việt Nam sang thị trường này trong năm 2020. Ngay khi EVFTA có hiệu lực, thuế nhập khẩu hầu hết tôm nguyên liệu (tươi, đông lạnh, ướp lạnh) vào EU sẽ được giảm từ mức thuế cơ bản 12 - 20 % xuống 0 %, thuế nhập khẩu tôm chế biến sẽ về 0 % sau 7 năm kể từ khi hiệp định có hiệu lực.

Về lợi thế cạnh tranh thuế nhập khẩu vào EU, tôm của Việt Nam sẽ có lợi thế rõ rệt so với các nước sản xuất khác. Cụ thể, với tôm sú xuất sang EU sẽ được giảm từ mức thuế GSP 4,2% về 0 % ngay khi hiệp định có hiệu lực, tôm chân trắng đông lạnh sẽ giảm dần về 0 % sau 5 năm. Trong khi đó, Thái Lan không được hưởng GSP, không ký FTA, bị mức thuế cơ bản 12 %, Ấn Độ không có FTA chịu thuế GSP 4,2 %, Indonesia hưởng thuế GSP4,2 %, Ecuador thuế cơ bản 12 %.

Nửa đầu tháng 1/2020, xuất khẩu tôm Việt Nam sang EU đạt 17,5 triệu USD, giảm 10,3% so với cùng kỳ năm 2019. Dự kiến xuất khẩu tôm Việt Nam sang EU trong quý I/2020 vẫn giảm mạnh do dịch COVID-19, các nhà nhập khẩu EU chưa mua vào nhiều do chờ giá giảm, Việt Nam phải cạnh tranh mạnh với Ecuador trên thị trường EU do Ecuador không xuất được sang Trung Quốc, chuyển hướng sang EU.

Tuy nhiên, VASEP dự báo xuất khẩu tôm sang EU cả năm 2020 sẽ khả quan hơn năm 2019 vì ngành tôm có thể tận dụng ưu đãi thuế quan từ FTA, có khả năng cạnh tranh tốt hơn so với Ấn Độ, Thái Lan và Indonesia vì khả năng 3 nước này sẽ không tập trung cho thị trường EU khi mà sản lượng của họ dự báo không tăng trong năm nay. Dự báo, xuất khẩu tôm Việt Nam sang EU sẽ tăng khoảng mức khả quan nhất là 15%, đạt 800 triệu USD trong năm 2020.

HỒ TIÊU

Năm 2020, xuất khẩu hạt tiêu dự báo tiếp tục gặp khó

Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, xuất khẩu hạt tiêu tháng 1/2020 đạt 14,6 nghìn tấn, trị giá 35,85 triệu USD, giảm 11,6% về lượng và giảm 10,6% về trị giá so với tháng 12/2019, so với tháng 1/2019 giảm 23,9% về lượng và giảm 36,8% về trị giá.

Tháng 1/2020, xuất khẩu hạt tiêu sang nhiều thị trường giảm so với tháng 1/2019, như: Hoa Kỳ, Ấn Độ, Các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất, Thái Lan, Hàn Quốc, Anh. Ngược lại, xuất khẩu sang các thị trường tăng, như: Pakistan, Myanma, Ả rập Xê út.

Về giá hạt tiêu, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) thông tin, giá xuất khẩu bình quân hạt tiêu tháng 1/2020 đạt mức 2.443 USD/tấn, tăng 1,1% so với tháng 12/2019, nhưng giảm 17% so với tháng 1/2019. Trong 2 tuần đầu tháng 2/2020, tại Việt Nam, giá hạt tiêu đen và hạt tiêu trắng giảm mạnh. Cụ thể, trong 13 ngày đầu tháng 2/2020, giá hạt tiêu đen trong nước giảm so với tháng 1/2020. Ngày 14/2/2020, giá hạt tiêu đen giảm từ 6,2-7,7% so với ngày 31/1/2020, so với ngày 14/1/2020 giảm từ 6,3 - 8,3%. Giá hạt tiêu trắng ở mức 58.000 đồng/kg, giảm 4,9% so với cuối tháng 1/2020 và giảm mạnh so với mức 73.000 đồng/kg cùng kỳ năm 2019.

Xuất khẩu hạt tiêu Việt Nam chịu tác động do phía Trung Quốc tạm thời đóng cửa các cửa khẩu biên giới đất liền nhằm kiểm soát dịch bệnh Covid-19. Tính toán từ số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy, Việt Nam xuất khẩu hạt tiêu sang Trung Quốc chủ yếu qua các cửa khẩu Lào Cai và Thanh Thủy (Hà Giang), chiếm lần lượt 55,9% và 31,8% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Hiện hạt tiêu Việt Nam đã bắt đầu vào vụ thu hoạch chính, do đó, giá có thể tiếp tục giảm trong thời gian tới. Tuy nhiên, mức độ tác động trong 2 tháng đầu năm 2020 chưa mạnh bởi theo dõi số liệu thống kê cho thấy, xuất khẩu hạt tiêu sang thị trường Trung Quốc thường tăng mạnh từ tháng 3 đến tháng 7 hàng năm.

Theo Hiệp hội Hạt tiêu quốc tế (IPC), Việt Nam là nước sản xuất hạt tiêu lớn nhất toàn cầu trong năm 2019. Trong đó, sản lượng hạt tiêu đen đạt khoảng 175.000 tấn, hạt tiêu trắng đạt 25.000 tấn. Năm 2020, tình trạng dư cung được dự báo sẽ tiếp diễn, gây áp lực lên giá hạt tiêu. Dự báo, giá hạt tiêu toàn cầu sẽ duy trì ở mức thấp trong 6 tháng đầu năm 2020. Tuy nhiên, cuối năm 2020 giá hạt tiêu có thể phục hồi khi cung - cầu trở về mức cân bằng, nhiều doanh nghiệp tăng cường mua tích trữ. 

Các chuyên gia khuyến cáo, Việt Nam bắt đầu tập trung vào cải thiện chất lượng hạt tiêu, giảm sử dụng hóa chất và phát triển sản xuất hạt tiêu hữu cơ. Trong bối cảnh diễn biến của dịch Covid- 19 còn rất phức tạp, để hạn chế tác động từ dịch Covid- 19 tới ngành hạt tiêu, doanh nghiệp cần có sự chuyển đổi hình thức giao nhận hàng, đẩy mạnh xuất khẩu theo đường biển, hay đường sắt liên vận.

HẠT ĐIỀU  

Tồn tại nhiều rào cản ở thị trường tiêu thụ, ngành điều vẫn đặt mục tiêu xuất khẩu 4 tỉ USD trong năm 2020



Ông Phạm Văn Công – Chủ tịch Vinacas – đánh giá, năm 2019 đã khép lại với sự hồi phục mạnh mẽ của toàn ngành sau “cơn bão lớn” 2017, 2018. Xuất khẩu điều nhân đạt 450.000 tấn và nhập khẩu khẩu điều thô đạt 1,5 triệu tấn, hoàn thành và vượt mục tiêu. Dựa trên tốc độ xuất, nhập khẩu và kết quả đạt được trong năm 2019, trong năm 2020 nhiều khả năng ngành điều sẽ nhập khẩu khoảng 2 triệu tấn hạt điều thô và xuất khẩu khoảng trên 500.000 tấn hạt điều đã chế biến.

Năm ngoái ngành điều Việt Nam có nhiều biến động và thế giới do nửa đầu năm chịu ảnh hưởng kéo dài của cuộc khủng hoảng năm 2018. Tuy nhiên, trong năm nay ngành điều Việt Nam không chỉ giữ vững ngôi vị đứng đầu thế giới về xuất khẩu điều nhân mà còn ghi một kỉ lục mới là tổng số lượng hạt điều thô nhập khẩu về Việt Nam.

Cục Xuất nhập khẩu cho rằng trong 6 tháng đầu năm 2020, giá điều thô và hạt điều chế biến sẽ biến động trong biên độ hẹp do diễn biến phức tạp của kinh tế toàn cầu, căng thẳng thương mại giữa Mỹ - Trung Quốc, Mỹ - Ấn Độ, những chính sách bảo hộ của các nước liên quan đến hạt điều thô của một số quốc gia châu Phi.

Bên cạnh đó, ngày càng có những chính sách mới nhằm siết chặt hơn như việc áp giá sàn hạt điều thô khi giao dịch, hay Chính phủ đứng ra trực tiếp dự trữ và giao dịch. 

Ấn Độ là thị trường tiêu thụ hạt điều nhiều nhất thế giới với dân số khoảng 1,3 tỉ người, nhưng nước này đang áp dụng chính sách thuế để hạn chế lượng hạt điều nhân nhập khẩu, chủ yếu từ Việt Nam. Ấn Độ tăng giá nhập khẩu tối thiểu (MIP) lên 1,8 - 2,4 lần. Mỹ và châu Âu sẽ áp dụng thêm một số tiêu chuẩn an toàn thực phẩm và sẽ kiểm tra thêm dư lượng hóa chất cấm. Trong khi đó, EU và một số nước châu Âu sẽ siết chặt thêm quy định về xuất xứ hàng hóa. Ngoài ra, ngành điều thế giới vẫn chưa có số liệu khảo sát, đánh giá mức tăng trưởng nhu cầu tiêu dùng, chưa hoạch định được đầu ra sản phẩm trong năm 2020 và những năm tiếp theo. 

Năm 2020, Vinacas sẽ tiếp tục thực hiện chủ trương "giảm lượng, tăng chất" nhằm nâng cao chất lượng hạt điều nhân và hiệu quả chế biến trong bối cảnh thị trường hạt điều toàn cầu được dự báo sẽ còn nhiều yếu tố rủi ro, khó đoán định. 

CAO SU

Tháng đầu năm 2020 xuất khẩu cao su giảm mạnh

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan (TCHQ), xuất khẩu cao su của Việt Nam trong tháng 1/2020 sụt giảm mạnh 54,8% về lượng và giảm 52,3% về kim ngạch so với tháng 12/2019, đạt 90.130 tấn, tương đương 131,41 triệu USD; so với tháng 1/2019 cũng giảm 42,7% về lượng và giảm 34,2% về kim ngạch. Giá xuất khẩu bình quân cao su của Việt Nam trong tháng 1/2020 tăng 5,1% so với tháng 12/2019, đạt 1.458 USD/tấn và tăng 14,7% so với tháng 1/2019

Xuất khẩu cao su sang Trung Quốc thị trường hàng đầu trong tháng đầu năm nay giảm mạnh 55% về lượng và giảm 52,7% về kim ngạch so với tháng 12/2019 và cũng giảm 36% về lượng và giảm 26,7% về kim ngạch so với tháng 1/2019, đạt 66.576 tấn, tương đương 96,5 triệu USD, chiếm trên 73% trong tổng khối lượng và tổng kim ngạch cao su xuất khẩu của Việt Nam.

Sau thị trường chủ đạo Trung Quốc, một số thị trường cũng đạt kim ngạch cao như: EU đạt 5.041 tấn, trị giá 7,16 triệu USD, giảm 58,4% về lượng và giảm 51,9% về kim ngạch so với tháng 1/2019. Xuất khẩu sang Ấn Độ đạt 3.287 tấn, trị giá 5 triệu USD, giảm mạnh 75,7% về lượng và giảm 71,9% về kim ngạch; Hàn Quốc đạt 2.379 tấn, trị giá 3,78 triệu USD, giảm mạnh 48,6% về lượng và giảm 38,9% về kim ngạch.

Về giá cả thị trường, từ đầu tháng 02/2020, giá mủ cao su nguyên liệu tại Bình Phước ổn định so với trước Tết Nguyên đán. Hiện giá thu mua mủ nước tại vườn và nhà máy tại Công ty TNHH MTV Lộc Ninh đạt lần lượt 287 đ/độ TSC và 292 đ/độ TSC, giữ nguyên so với trước Tết Nguyên đán. 

(TTGCVT/T.Hiền tổng hợp)  

 


 

Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (024) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (024) 39762593 
Email:ttgcvattu1989@gmail.com