Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Thị trường hàng hóa nguyên liệu trong nước tháng 12/2019
Cập nhật: 30-12-2019

VÀNG

Giá vàng tăng mạnh trong tuần cuối cùng của tháng 12 


Tháng 12/2019 đã kết thúc, một năm đánh dấu sự bùng nổ của thị trường vàng cả trên thị trường quốc tế và trong nước cũng đã qua. Liệu trong năm 2020, những gì tiếp theo sẽ tác động đến thị trường vàng? Thị trường vàng 2020 sẽ ổn định hay tiếp tục trải qua những “cơn bão giá” như trong năm 2019? Đó là những câu hỏi không dễ trả lời. Tuy nhiên, ngay trong tháng 12, giá vàng lại tiếp tục cho thấy thị trường vẫn còn những “con sóng ngầm” báo hiệu một năm mới với nhiều biến động đang chờ phía trước.

Điểm lại các diễn biến của thị trường vàng trong nước trong tháng 12. Trong tuần đầu tiên, giá vàng trong nước có hai phiên đầu tuần giảm và 3 phiên sau đó có chiều hướng tăng.  Mức mua vào trong cả tuần dao động ở khoảng 41,20 - 41,37 triệu đồng/lượng và mức bán ra là 41,42 - 41,61 triệu đồng/lượng (tại công ty VBĐQ Sài Gòn). Diễn biến trên của giá vàng trong nước song hành với diễn biến của thị trường vàng thế giới. Theo đó, giá vàng thế giới tiếp tục xu hướng tăng trong bối cảnh giới đầu tư thấp thỏm chờ đợi kết quả của một thỏa thuận thương mại Mỹ-Trung và  đồng USD suy yếu cũng góp phần giữ giá vàng ở mức cao… Với mức giá sáng 6/12 là ở  41,37 - 41,61 triệu đồng/lượng, giá vàng trong nước đang cao hơn giá thế giới khoảng 700 nghìn đồng một lượng chưa tính thuế phí.   

Trong tuần thứ 2, các doanh nghiệp vàng trong nước điều chỉnh giá rất nhẹ. Giá mua vào 5 ngày trong tuần ở mức 41,20 – 41,27 triệu đồng/lượng và giá bán ra ở mức 41,44 – 41,50 triệu đồng/lượng. Nguyên nhân chính khiến giá vàng ít biến động là do tuần qua giá vàng thế giới giữ ổn định giữa lúc giới thị trường quan ngại về tiến trình đàm phán thương mại Mỹ-Trung Quốc trước thời hạn 15/12, khi Mỹ kích hoạt mức thuế mới.  Với mức giá bằng ngày đầu tuần (9-12), giá vàng mở cửa sáng 13-12 chốt tuần ở mức 41,27 – 41,48 triệu đồng/lượng và đang cao hơn giá vàng thế giới khoảng 500 nghìn đồng mỗi lượng chưa tính thuế phí.

Trung tuần tháng 12, giá tăng nhẹ qua 5 phiên giao dịch. Giá thấp nhất tuần là vào ngày thứ 2 (16/12) khi giá mua vào – bán ra ở mức 41,30 – 41,54 triệu đồng/lượng tại công ty VBĐQ Sài Gòn. Giá cao nhất là vào sáng cuối tuần 20/12 khi giá bán ra ở mức 41,65 triệu đồng/lượng. Nguyên nhân của diễn biến tăng giá trên là do ảnh hưởng của giá vàng thế giới đã treo cao bất chấp đồng USD tăng mạnh. Với mức giá mở cửa sáng 20/12, giá vàng trong nước cao hơn giá vàng thế giới khoảng 750 nghìn đồng mỗi lượng chưa tính thuế phí. 

Tuần thứ 4, giá vàng đột ngột có cú bứt phá khi vào ngày lễ Giáng sinh 25/12, giá vàng trong nước vọt lên mức 41,77 triệu đồng/lượng (mua vào) và 42,07 triệu đồng/lượng (bán ra), tăng 100 ngàn đồng chiều mua vào và tăng 80 ngàn đồng chiều bán ra so với cuối giờ ngày 24/12 (giá mở cửa sáng 25/12 tại công ty VBĐQ Sài Gòn). Tại thời điểm này, giá vàng thế giới vọt lên đỉnh 6 tuần  (trên 1.500 USD/Ounce) ngay trước thềm nghỉ lễ Giáng sinh và năm mới. Giới đầu tư đã đánh cược vào khả năng vàng sẽ chứng kiến thêm một năm tăng giá ấn tượng trong bối cảnh thế giới bất định.

Đến ngày 27/12, giá vàng tiếp tục tăng và chốt cuối tuần ở mức 42,00 triệu đồng/lượng (mua vào) và 42,34 triệu đồng/lượng (bán ra), tăng 100 ngàn đồng ở chiều mua vào và tăng 120 ngàn đồng chiều bán ra so với cuối giờ ngày 26/12. Như vậy, so với đầu tuần, giá vàng đã tăng 750 nghìn đồng mỗi lượng.

Với mức giá như trên, giá vàng trong nước đã tăng 3,04% so với tháng trước, và tăng 18,15% so với cùng kì năm trước.

ĐÔ LA

Tỷ giá bình lặng trong tháng cuối cùng của năm 2019

Trái ngược với tình hình căng thẳng mỗi dịp cuối năm, tỷ giá  giao dịch USD/VNĐ tháng cuối cùng của năm 2019 lại khá bình lặng, thậm chí còn thấp hơn thời điểm đầu năm. Đáng chú ý, xu hướng giảm tỷ giá đã được các NH thương mại duy trì liên tục trong nhiều ngày qua. Trong khi tỷ giá trung tâm hiện cũng chỉ tăng khoảng 1,45% so với hồi đầu năm và đang được NH Nhà nước công bố ở mức  trung bình 23.160 đồng/USD.

Đây là diễn biến khá bất ngờ của tỷ giá dịp cuối năm so với những năm trước. Hồi đầu năm, tỷ giá được dự báo sẽ biến động tăng không quá 2%-3% so với năm trước nếu không có những cú sốc bất ngờ.

Lý giải về hiện tượng "lạ" này, các chuyên gia phân tích của Viện Đào tạo và Nghiên cứu NH Đầu tư Phát triển Việt Nam (BIDV) cho rằng nhờ kinh tế vĩ mô của Việt Nam tương đối tích cực đã góp phần ổn định tỷ giá. Cụ thể, nguồn cung ngoại tệ dồi dào, cán cân thương mại lũy kế 11 tháng thặng dư mức kỷ lục 9,1 tỉ USD; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giải ngân tăng trưởng tốt, ước đạt 17,62 tỉ USD, tăng 6,8% so với cùng kỳ; Việt Nam nằm trong nhóm 10 nước nhận kiều hối lớn nhất thế giới, ước đạt 16,7 tỉ USD trong năm nay… nên không có cớ gì để tỷ giá nổi sóng trong những ngày cuối năm.

Ông Nguyễn Đình Tùng, Tổng Giám đốc NH TMCP Phương Đông, cho biết nguồn cung ngoại tệ dồi dào giúp các NH đáp ứng đủ nhu cầu về ngoại tệ cho khách hàng. "Khách hàng mua ngoại tệ chưa bao giờ dễ như lúc này, vì nguồn cung dồi dào. Việt Nam đang có cơ hội tốt trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài, xuất siêu kỷ lục, kiều hối khả quan..." - ông Nguyễn Đình Tùng nói và dẫn chứng chỉ riêng tại TP HCM, trong 11 tháng qua, kiều hối đổ về TP qua hệ thống các tổ chức tín dụng trên địa bàn đạt 4,3 tỉ USD, dự kiến cả năm lên tới 5,3 tỉ USD, tăng khoảng 9% so với năm trước. Nguồn lực này góp phần rất quan trọng giúp ổn định cung cầu ngoại tệ trên địa bàn.

Lãnh đạo NH này nhận định tỷ giá đang trong xu hướng tích cực và nếu thời gian tới, kinh tế Việt Nam tiếp tục ổn định, các nguồn vốn vào Việt Nam vẫn khả quan sẽ hỗ trợ tốt cho tỷ giá.

Về diễn biến cụ thể của tỷ giá trong tháng 12. Trong tuần đầu tiên, tỷ giá trung tâm tăng giảm xen kẽ, dao động ở mức 23.156 - 23.167 đồng/USD. Tại các NHTM, giá giao dịch USD ít biến động. Tới đầu giờ sáng 6/12, đa số các ngân hàng thương mại giữ tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ không đổi so với cuối giờ phiên liền trước, phổ biến ở mức 23.120 đồng (mua) và 23.240 đồng (bán).

Trong tuần thứ 2, tỷ giá trung tâm giảm dần về cuối tuần. Mức cao nhất tuần là 23.167 đồng/USD (sáng 9/12). Mức thấp nhất tuần là 23.160 đồng/USD (sáng 13/12). Tại các NHTM lớn, giá giao dịch USD phổ biến ở mức 23.110 đồng (mua) và 23.220 đồng (bán).

Ở tuần thứ 3, tỷ giá trung tâm của NHNN tăng giảm xen kẽ, dao động ở khoảng 23.155 – 23.163 đồng/USD. Tại các NHTM, đa số các giữ tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ phổ biến ở mức 23.110 đồng (mua) và 23.225 đồng (bán). Tính từ đầu năm 2019, đồng đô la Mỹ trong hệ thống ngân hàng tăng 10 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra.

Đến sáng ngày 27/12, NHNN đã công bố tỷ giá trung tâm ở mức 23.169 đồng. Còn tại các ngân hàng thương mại giữ tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ không đổi so với cuối giờ phiên liền trước, phổ biến ở mức 23.110 đồng (mua) và 23.230 đồng (bán). Tính từ đầu năm 2019, đồng đô la Mỹ trong hệ thống ngân hàng tăng 10 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra.

Nhìn lại năm 2019, cặp tỷ giá USD/VND gần như duy trì đà ổn định xuyên suốt trong hầu hết các tháng và thậm chí tiền đồng tăng giá so với đồng bạc xanh khi Ngân hàng Nhà nước chủ động hạ giá mua vào cuối tháng 11. Tỷ giá USD/VND trên thị trường liên ngân hàng trong năm chỉ dao động trong biên độ tương đối hẹp và bám quanh mức mua vào của Ngân hàng Nhà nước 23.200 đồng, sau đó là 23.175 đồng. Từ đó, nhà điều hành cũng mua được lượng lớn ngoại tệ, gia tăng dự trữ ngoại hối lên mức cao kỷ lục từ trước tới nay.

THÉP XÂY DỰNG

Xu hướng tăng giá thép vẫn tiếp diễn trong tháng 12/2019

Giá sắt thép xây dựng ngay từ đầu tháng 12/2019 đã tiếp tục tăng nhẹ sau lần tăng cuối tháng 11 vừa rồi. Như dự báo từ tháng 9/2019, xu hướng quay đầu tăng giá sẽ xảy ra khi bắt đầu rơi vào các tháng cuối năm và cận tết. Và chắc chắn giá sẽ còn nhích dần lên cho tới khi qua tết nguyên đán. Mặc dù đã qua thời điểm bắt đáy (đầu tháng 11/2019), tuy nhiên, giá thép mới chỉ bắt đầu tăng trở lại, và thời gian tới nhận định sẽ còn tiếp tục tăng. 

Hiện tại giá bán tại các nhà máy ở mức khoảng từ 12.350 – 16.500 đồng/kg (giá giao nhà máy, chưa bao gồm 10% VAT, chiết khấu bán hàng).Giá thép xây dựng bán lẻ phổ biến tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung dao động ở mức 12.800 – 16.600 đồng/kg. Tại các tỉnh miền Nam, giá thép dao động ở mức 13.000 – 16.500 đồng/kg.

Thị trường tiêu thụ với định mức ổn định và nguồn cung đảm bảo của các nhà máy sản xuất thép. Đây sẽ là thời điểm tốt để khách hàng có nhu cầu cân nhắc thời điểm này để mua vào.

Một thông tin đáng chú ý của ngành thép trong tháng 12 đó là theo số liệu mới nhất ngày 24-12 vừa được Tổng cục Hải quan công bố, ghi nhận nhập siêu của ngành thép đạt xấp xỉ 5 tỉ USD, bất chấp nhiều chính sách phòng vệ thương mại được đặt ra từ đầu năm nhằm hạn chế các rủi ro từ nhiều quốc gia nhắm đến Việt Nam trong chiến lược bảo hộ ngành sản xuất trong nước từ nước sở tại.

Theo Tổng cục Hải quan, 11 tháng của năm 2019 ghi nhận lượng nhập khẩu sắt thép các loại đạt 13,36 triệu tấn, trị giá 8,79 tỉ USD, tăng 7,7% về lượng nhưng giảm 3,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Trong khi đó, lượng thép xuất khẩu trong khoảng thời gian tương ứng chỉ đạt 3,86 tỉ USD, dù tăng 4,7% về lượng nhưng giảm đến 8,3% về mặt giá trị, đẩy nhập siêu của ngành thép lên mức xấp xỉ 5 tỉ USD.

Đáng chú ý, dù thị trường Ấn Độ chỉ xếp thứ hai sau Trung Quốc về lượng thép nhập khẩu vào VN ở mức 1,89 triệu tấn so với 4,89 triệu tấn, nhưng tăng trưởng nhập khẩu thép từ Ấn Độ lên đến con số "khủng hoảng", đến 244,5%, trong khi lượng thép nhập khẩu từ Trung Quốc lại giảm 15% so với cùng kỳ năm ngoái.

Theo các chuyên gia trong lĩnh vực thép, cần theo dõi sát lượng thép nhập khẩu tăng đột biến vào thị trường Ấn Độ bởi quốc gia này cũng đang rơi vào tầm ngắm kiện phòng vệ thương mại từ nhiều nước, nhằm hạn chế ở mức tối đa Việt Nam có nguy cơ bị kiện "vạ lây" do nghi ngờ lẩn tránh xuất xứ.

Trong tháng 12/2019, các doanh nghiệp xuất khẩu thép vào Mỹ đã đón nhận một thông tin bất lợi. Đó là việc Mỹ quyết định áp thuế khủng 456% lên thép Việt Nam vào ngày 16/12. Theo đó, Bộ Thương mại Mỹ (DOC) đã thông báo Kết luận cuối cùng vụ việc điều tra lẩn tránh biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp với thép cán nguội (CRS) và thép chống ăn mòn (CORE) của Việt Nam có nguyên liệu đầu vào từ Hàn Quốc và Đài Loan-Trung Quốc (Đài Loan).

Với kết luận này, những lô hàng thép CRS và CORE xuất khẩu từ Việt Nam không chứng minh được xuất xứ của nguyên liệu thép cán nóng bị áp mức thuế lên đến 456%. Trong trường hợp doanh nghiệp chứng minh nguyên liệu cán nóng nhập khẩu từ Hàn Quốc hoặc Đài Loan sẽ bị áp thuế tương ứng của Hàn Quốc (29,4% với thép CORE; 24,2% với thép CRS) và Đài Loan (10,34% với thép CRS).

Như vậy, nếu các doanh nghiệp chứng minh được nguyên liệu sản xuất là của Việt Nam hoặc các nước/vùng lãnh thổ ngoài 03 nguồn trên sẽ không bị áp dụng biện pháp chống lẩn tránh thuế (tức là không phải nộp thuế).

Trước vấn đề này, Bộ Công Thương cho biết, ngay khi Bộ Thương mại Mỹ bắt đầu tiến hành điều tra vụ việc, Bộ Công Thương đã làm việc với Hiệp hội thép và các doanh nghiệp xuất khẩu để làm rõ thông tin, đề nghị ngành sản xuất trong nước phối hợp đầy đủ với cơ quan điều tra của Mỹ.

Bộ Công Thương cũng đã trao đổi trực tiếp, đề nghị DOC xem xét tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tham gia cung cấp thông tin, mở rộng diện cho phép doanh nghiệp tự chứng nhận nguồn gốc nguyên liệu nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của ngành sản xuất trong nước, đồng thời phối hợp với các cơ quan hữu quan của Việt Nam và Mỹ để ngăn chặn các hành vi gian lận, lẩn tránh bất hợp pháp. Bên cạnh đó, Bộ Công Thương cũng đã tham gia phiên điều trần do DOC tổ chức để bày tỏ quan điểm và có các cuộc họp với DOC để làm rõ đề nghị của Việt Nam.

XI MĂNG

Nhiều doanh nghiệp xi măng đang tăng giá bán 

Hiện chỉ còn chưa đến 1 tháng nữa là kết thúc năm 2019, ngành xi măng dự báo tình hình xuất khẩu vẫn ổn định, không tăng hơn nhưng khả năng xuất khẩu vẫn đạt mục tiêu đề ra của toàn ngành.  

Ông Nguyễn Quang Cung, Chủ tịch Hiệp hội xi măng Việt Nam nhận định, thị trường xi măng cuối năm 2019 tiếp tục duy trì mức tăng đều. Toàn ngành sẽ chạm mốc xuất khẩu khoảng 25 triệu tấn và tiêu thụ trong nước từ 69 - 70 triệu tấn xi măng như mục tiêu đề ra.

Trong đó, xi măng tiêu thị nội địa khoảng 67 triệu tấn, tăng 1%, xuất khẩu sản phẩm xi măng và clanhke khoảng 31 - 32 triệu tấn, tương đương năm ngoái, giá trị xuất khẩu ước đạt 1,27 tỉ USD.

Con số này giúp Việt Nam tiếp tục là quốc gia xuất khẩu xi măng nhiều nhất trên thế giới, chiếm trên 1/7 dưới 1/6 lượng xi măng, clanke của thế giới.
  

Ông Cung cũng lưu ý vừa qua do chi phí nguyên vật liệu đầu vào như giá điện, giá than tăng cao, một loạt doanh nghiệp xi măng tiếp tục điều chỉnh tăng giá bán xi măng nhằm giảm chi phí.

Đơn cử như xi măng Công Thanh đã có thông báo gửi các nhà phân phối khu vực miền Trung điều chỉnh tăng 30.000 đồng/tấn bao xi măng 50kg; Xi măng Long Sơn tăng 50.000 đồng/tấn đối với xi măng bao PCB 30, PCB 40, Xi măng Hoàng Long tăng 20.000 đồng/tấn, Xi măng The Vissai cũng điều chỉnh giá bán các loại xi măng bào tăng 50.000 đồng/tấn và xi măng rời tăng 20.000 đồng/tấn.

XĂNG DẦU 

Giá xăng có một lần tăng và một lần giảm trong tháng 12 

 

Theo chu kỳ điều chỉnh giá mặt hàng xăng dầu, tháng 12/2019 cũng có 2 kỳ điều chỉnh, mỗi kỳ cách nhau 15 ngày. 

Tại kỳ điều chỉnh lần 1 của tháng 12, vào 15 chiều ngày 30/11, Liên Bộ Công Thương - Tài chính quyết định giá bán lẻ xăng E5RON92 được điều chỉnh tăng 312 đồng/lít, Xăng RON95 tăng 283 đồng/lít; Dầu diesel tăng 25 đồng/lít. Còn một số mặt hàng như dầu hỏa giảm 6 đồng/lít; Dầu mazut giảm 754 đồng/kg. 

Sau điều chỉnh, giá xăng E5RON92 có giá tối đa là 19.819 đồng/lít; Xăng RON95-III 21.079 đồng/lít; Dầu diesel 15.988 đồng/lít; Dầu hỏa 14.962 đồng/lít; Dầu mazut 11.188 đồng/kg. 

Liên Bộ cũng yêu cầu thực hiện trích lập Quỹ BOG đối với xăng E5RON92, dầu diesel và dầu hỏa ở mức 100 đồng/lít; xăng RON95 trích lập ở mức 300 đồng/lít, dầu mazut trích lập ở mức 1.050 đồng/lít.

Đồng thời chi Quỹ Bình ổn giá đối với xăng E5RON92 ở mức 200 đồng/lít (kỳ trước chi 250 đồng/lít). 

Theo Bộ Công Thương, bình quân giá thành phẩm xăng dầu thế giới trong 15 ngày trước kỳ điều hành giá xăng dầu có biến động tăng giảm đan xen và biên độ khá lớn. Mức biến động có sự khác nhau giữa các loại xăng dầu, giá các loại xăng và dầu diesel xu hướng chung là tăng nhưng các loại dầu khác có xu hướng chung giảm. 

Tại kỳ điều chỉnh thứ 2, vào chiều ngày 16/12, liên Bộ Công Thương - Tài chính đã quyết định giá xăng E5RON92 được điều chỉnh giảm 90 đồng/lít; xăng RON95 giảm 192 đồng/lít.

Bộ Công Thương cho biết, bình quân giá thành phẩm xăng dầu thế giới trong 15 ngày trước kỳ điều hành giá xăng dầu ngày 16/12/2019 có biến động tăng giảm đan xen, nhưng xu hướng chung là giảm giá với xăng và tăng giá đối với các loại dầu.

Cụ thể, 70,661 USD/thùng xăng RON92 dùng để pha chế xăng E5RON92 (giảm 1,213 USD/thùng, tương đương -1,69% so với kỳ trước); 74,508 USD/thùng xăng RON95 (giảm 1,543 USD/thùng, tương đương -2,03% so với kỳ trước); 75,913 USD/thùng dầu diesel 0.05S (tăng 0,543 USD/thùng, tương đương +0,72% so với kỳ trước); 75,312 USD/thùng dầu hỏa (tăng 0,411 USD/thùng, tương đương +0,55% so với kỳ trước); 251,831 USD/tấn dầu mazut 180CST 3.5S (tăng 17,325 USD/tấn, tương đương +7,39% so với kỳ trước).

Sau điều chỉnh, giá xăng E5RON92 giảm 90 đồng/lít; xăng RON95-III giảm 192 đồng/lít. Trong khi đó, dầu diesel 0.05S tăng 75 đồng/lít; dầu hỏa: tăng 54 đồng/lít; dầu mazut 180CST 3.5S tăng 170 đồng/kg.

Như vậy, sau điều chỉnh giá xăng E5RON92 có mức giá tối đa là 19.729 đồng/lít; xăng RON95-III là 20.886 đồng/lít; dầu diesel 16.063 đồng/lít; dầu hỏa 15.016 đồng/lít; dầu mazut 11.358 đồng/kg.

Liên Bộ Công Thương - Tài chính cũng yêu cầu trích lập Quỹ bình ổn giá đối với xăng E5RON92, dầu diesel và dầu hỏa ở mức 100 đồng/lít; xăng RON95 trích lập ở mức 400 đồng/lít, dầu mazut trích lập ở mức 800 đồng/lít. Đồng thời chi Quỹ bình ổn giá đối với xăng E5RON92 ở mức 100 đồng/lít (kỳ trước chi 200 đồng/lít).

Như vậy, kể từ đầu năm đến thời điểm kết thúc tháng 12, giá xăng đã có 24 kỳ điều chỉnh giá, bao gồm 9 lần tăng, 11 lần giảm và 4 lần giữ nguyên. Tổng cộng, giá xăng tăng thêm 3.459 đồng/lít so với thời điểm đầu năm.

Về tình hình nhập khẩu mặt hàng xăng dầu, theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, nhập khẩu mặt hàng này 11 tháng đầu năm 2019 giảm cả về lượng, kim ngạch và giá so với cùng kỳ năm 2018, với mức giảm tương ứng 17,2%, 25,4% và 9,9%, đạt 8,86 triệu tấn, trị giá 5,4 tỷ USD, giá trung bình 609,7 USD/tấn.

Riêng tháng 11/2019 nhập khẩu 999.759 tấn xăng dầu, tương đương 593,04 triệu USD, giá trung bình 593,2 USD/tấn, giảm 5,5% về lượng, giảm 7,4% về kim ngạch và giảm 1,9% về giá so với tháng 10/2019, nhưng so với cùng tháng năm 2018 thì tăng mạnh 33,1% về lượng, tăng 15,4% về kim ngạch và giảm 13,3% về giá.

Hàn Quốc là thị trường lớn nhất cung cấp xăng dầu các loại cho Việt Nam, chiếm 28,4% trong tổng lượng xăng dầu nhập khẩu của cả nước và chiếm 30,4% trong tổng kim ngạch, với 2,52 triệu tấn, tương đương 1,64 tỷ USD, giá trung bình 650,8 USD/tấn, tăng 5,7% về lượng nhưng giảm 6,6% về kim ngạch và giảm 11,7% về giá so với cùng kỳ năm 2018. Riêng trong tháng 11/2019, nhập khẩu từ thị trường này tăng rất mạnh 60,2% về lượng và tăng 56,1% về kim ngạch so với tháng 10/2019, đạt 513.732 tấn, tương đương 320,97 triệu USD và cũng tăng mạnh 853,6% về lượng và tăng 755,8% về kim ngạch so với tháng 11/2018.

GAS

Giá gas tháng 12/2019 tiếp tục tăng 

Giá gas tháng 12/2019 tiếp tục được các công ty kinh doanh mặt hàng này điều chỉnh tăng. Cụ thể, theo Công ty TNHH MTV Dầu khí TP.HCM (Saigon Petro), từ ngày 1/12/2019, giá bán gas SP tăng 292 đồng/kg (đã VAT), tương đương 3.500 đồng bình 12kg; giá bán lẻ tối đa đến tay người tiêu dùng là 337.000 đồng bình 12kg. 

Công ty Gas Pacific Petro, City Gas, EFF Gas cũng cho biết từ ngày 1-12 sẽ tăng giá bán lên 3.500 đồng/bình 12 kg. Giá bán lẻ đến người tiêu dùng không vượt quá 330.500 đồng/bình 12 kg. Tương tự, Công ty TNHH MTV Dầu khí TP.HCM (Saigon Petro) cũng có giá bán lẻ tối đa đến người tiêu dùng là 334.000 đồng/bình 12 kg.

Lý do điều chỉnh là giá CP bình quân tháng 12/2019 là 447,5 USD/tấn, tăng 10 USD/tấn so với tháng 11/2019.

Với mức tăng này, giá gas SP bán lẻ của Saigon Petro trong tháng 12/2019 ở mức 337.000 đồng bình 12kg và 1.214.000 đồng/bình 45 kg. Giá gas Petrolimex tháng 10/2019 loại 12kg (màu xám, đỏ, xanh lam, xanh lá) cũng được nâng lên khoảng 313.500 đồng/bình. Gas Petrolimex loại 13 kg: 327.300 đồng/bình.

Trước đó, giá gas tháng đầu năm 2019 được điều chỉnh tăng 4.000 đồng mỗi bình 12/kg, tháng 2 tăng 12.000 đồng/bình 12kg, tháng 3 tăng 17.000 đồng/bình 12kg, tháng 4 tăng 7.000 đồng/bình 12kg, tháng 5 tăng 2.000 đồng/bình 12 kg, tháng 6 giảm 33.000 đồng, tháng 7 giảm 19.000 đồng. Giá gas tháng 8 bắt đầu tăng trở lại cho đến nay.

Như vậy, từ đầu năm đến nay giá gas đã 8 lần tăng với tổng mức 73.000 đồng/bình 12 kg.

Ô TÔ

Giá ô tô tháng 12 tiếp tục đón cơn lốc siêu giảm giá

Thị trường ô tô cuối năm đã gần kề. Trong khi phân khúc xe hạng sang và tầm trung đua nhau tạo nhiệt với những mức giảm giá khủng vài trăm triệu, thì nhiều mẫu xe giá rẻ khác cũng không nằm ngoài cuộc.

Trong đó, nhiều  mẫu xe ô tô giá rẻ trong tầm giá 300-500 triệu đồng đua nhau giảm giá nhằm tranh giành thị phần với mức giảm dao động từ 10-50 triệu đồng kéo giá xe xuống rẻ hấp dẫn chưa từng có. 

Đặc biệt với các dòng xe hạng sang, mới đây, Mazda CX-8, Ford Ranger,  Kia Sedona, Audi Q7, Audi Q5... là những mẫu xe ít khi được áp dụng giảm giá cao thì đến nay lại hưởng ưu đãi hấp dẫn đến bất ngờ. Nhà phân phối chính thức Audi tại Việt Nam đã thông báo giảm trực tiếp 200 triệu đồng vào giá bán các mẫu Q5 (phiên bản Design Quattro và Sport Quattro), Audi Q7 Quattro có mức giảm lên tới 300 triệu đồng. Như vậy, vào thời điểm này, Audi Q5 tại Việt Nam sẽ có giá bán khởi điểm từ 2,2 tỉ đồng và Audi Q7 có giá bán khởi điểm từ 3,04 tỉ đồng. 

Tuy nhiên, dù giá xe đã giảm mạnh nhưng cuối năm nay, nhu cầu về ô tô không tăng cao nên thị trường đạt tăng trưởng thấp. Một doanh nghiệp ô tô FDI cho biết, so với cuối năm ngoái, cuối năm nay xe bán chậm. Giá xe đã giảm mạnh nhưng hình như càng giảm, khách hàng càng chần chừ chờ đợi, không mua ngay. 

Một số đại lý bán ô tô tại Hà Nội nhận xét, thời điểm cuối năm ngoái, nhiều mẫu xe còn cháy hàng thì năm nay ngược lại. Doanh số bán hiện nay chỉ bằng 60% so với cuối năm 2018. Nhiều đại lý vẫn còn xe xuất xưởng từ đầu năm 2019 chưa tiêu thụ hết. Các đại lý trông đợi tháng 12/2019 sẽ có doanh số cao để bù đắp. Tuy nhiên, tháng 12 đã sắp kết thúc mà kinh doanh vẫn trầy trật.   

Theo dự báo của các doanh nghiệp, cả năm 2019, lượng ô tô nhập khẩu sẽ đạt khoảng 150.000 chiếc, xe sản xuất lắp ráp trong nước đạt 330.000 chiếc các loại; trong khi tiêu thụ khoảng 420.000 chiếc dẫn đến dư thừa hơn 50.000 chiếc. Vì vậy, từ nay đến Tết Nguyên đán, thị trường ô tô tiếp tục chạy đua đại hạ giá để xả hàng tồn. Xe tồn kho để sang 2020 thì còn rủi ro hơn nữa. Bởi xe sản xuất mới tiếp tục tung ra thì những xe tồn kho càng khó bán.

Còn theo thông tin mới được Tổng cục Hải quan công bố hôm 24/12, trong tháng 11, cả nước có 11.744 ô tô nguyên chiếc các loại đăng ký tờ khai hải quan nhập khẩu, tổng trị giá 267 triệu USD, giảm 29,6% (tương ứng giảm 4.939 chiếc) so với lượng nhập khẩu tháng trước.

Ô tô nguyên chiếc nhập khẩu trong tháng qua chủ yếu có xuất xứ từ 5 thị trường chính, chiếm 94% tổng lượng xe nhập. Trong đó, xe nhập từ Indonesia với 5.807 chiếc, Thái Lan với 4.009 chiếc, Trung Quốc với 480 chiếc, từ Mexico với 472 chiếc và từ Nhật Bản với 271 chiếc.

Xét về chủng loại, ô tô từ 9 chỗ ngồi trở xuống có 8.549 chiếc (giảm 32% so với tháng trước), trị giá đạt 154,6 triệu USD, chiếm 72,8% lượng ôtô nguyên chiếc các loại nhập khẩu.

2 thị trường nhập khẩu chính là Indonesia với 5.141 chiếc, giảm 24,3% và Thái Lan với 2.794 chiếc, giảm 28,3% so với tháng trước.

Theo một lãnh đạo Cục Thuế xuất nhập khẩu, Tổng cục Hải quan, lượng ô tô tháng này giảm có nguyên nhân từ việc các hãng xe, nhà sản xuất lắp ráp ô tô đã đáp ứng đủ lượng ô tô cung cấp cho thị trường dịp Tết Canh Tý 2020 từ các tháng trước đó.

Về tình hình tiêu thụ, Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA) cho biết, trong tháng 11, doanh số bán hàng của toàn thị trường ô tô Việt Nam đạt 29.846 xe, tăng 3% so với tháng 10 và giảm 3% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, có 22.312 xe du lịch (tăng 4% so với tháng trước), 7.203 xe thương mại (giảm 0,3%) và 331 xe chuyên dụng (giảm 9%).

Tính đến hết tháng 11, tổng doanh số bán hàng của toàn thị trường tăng 14% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, xe du lịch tăng 23%, xe thương mại giảm 3,9% và xe chuyên dụng giảm 27% so với cùng kì năm ngoái. Doanh số bán hàng của xe lắp ráp trong nước giảm 13%, trong khi đó xe nhập khẩu tăng 98% so với cùng kì năm ngoái./.

Một số nhận định cho rằng, dù có bán thế nào thì tồn kho vẫn lớn, chắc chắn phải chuyển sang năm 2020. Thời điểm tháng 2-4/2020, nhu cầu ô tô xuống thấp, DN sẽ còn ưu đãi và giảm giá nhiều hơn nữa với xe tồn kho từ 2019. Khách hàng có thể chờ đợi để mua những chiếc xe này với giá tốt hơn.

Năm 2020 cũng được dự báo có nhiều chính sách mới sẽ áp dụng với ngành công nghiệp ô tô, giúp cho giá ô tô sản xuất lắp ráp trong nước có cơ hội giảm. Mới đây, Thứ trưởng Bộ Công thương - Đỗ Thắng Hải cho biết, Chính phủ rất quan tâm đến phát triển ngành công nghiệp ô tô và tìm kiếm các giải pháp để giải quyết hiệu quả.  

Theo đó, sẽ có một số chính sách kích cầu tiêu dùng, khuyến khích tín dụng để tiêu dùng sản phẩm ô tô; sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến thuế, phí, nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh, thu hẹp khoảng cách chi phí sản xuất giữa ô tô trong nước và ô tô nhập khẩu. 

Doanh nghiệp và người tiêu dùng chờ đợi nhất là chính sách mới về thuế tiêu thụ đặc biệt dành cho ô tô. Theo đề xuất, ô tô sản xuất lắp ráp trong nước sẽ được miễn phần thuế tiêu thụ đặc biệt với linh kiện sản xuất trong nước. Điều này sẽ giúp cho giá xe nội có điều kiện giảm hơn nữa. Cùng với đó, chính sách giảm thuế nhập khẩu linh kiện ô tô về mức 0% cũng góp phần giúp giảm giá xe. 

Với xe nhập khẩu, một số nguồn tin cho biết Nghị định 116 đang được sửa theo hướng bỏ kiểm tra chất lượng ô tô theo lô, thay bằng kiểm tra theo mẫu, dự kiến áp dụng từ năm 2020. Như vậy, việc nhập khẩu ô tô sẽ thông thoáng hơn. Hiện tại phải mất 45 ngày một lô xe nhập về mới xong thủ tục thì với quy định mới giảm chỉ còn 7 ngày. Xe nhập khẩu nguyên chiếc sẽ về nước nhanh hơn và nhiều hơn. 

Các doanh nghiệp dự báo nhu cầu về ô tô sẽ tăng trên 20% trong năm 2020. Tuy nhiên, giá xe sẽ không tăng, ngược lại vẫn theo xu hướng giảm.

THỦY SẢN 

Kim ngạch xuất khẩu cá tra xấp xỉ 2 tỷ USD trong năm 2019, giảm 10% so với cùng kỳ 2018

Chiều 26/12, Tổng cục Thủy sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức hội nghị tổng kết công tác năm 2019 và triển khai kế hoạch năm 2020.

Dự kiến năm 2019, tốc độ tăng giá trị sản xuất thủy sản đạt 6,25% so với năm 2018, tổng sản lượng đạt khoảng 8,15 triệu tấn, tăng 4,9%. Trong đó sản lượng khai thác đạt 3,77 triệu tấn, tăng 4,5%; nuôi trồng đạt 4,38 triệu tấn, tăng 5,2%; kim ngạch xuất khẩu thủy sản ước đạt 8,6 tỷ USD. 

Năm 2020, Tổng cục Thủy sản đặt mục triêu tổng sản lượng thủy sản đạt khoảng 8,2 triệu tấn, tăng 0,6% so với ước thực hiện năm 2019; sản lượng cá tra 1,42 triệu tấn, tương đương so với năm 2019; sản lượng tôm các loại 850.000 tấn, tăng 3,7%;  kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt khoảng 10 tỷ USD, tăng 6,3% so với năm 2019.

Cũng theo Tổng cục Thủy sản, riêng ngành hàng cá tra, kim ngạch xuất khẩu năm 2019 ước đạt 2 tỉ USD, giảm 10% so với cùng kỳ năm 2018. Cơ cấu thị trường cũng thay đổi khi giảm sản lượng ở Mỹ, EU nhưng tăng ở Trung Quốc, Nhật Bản và ASEAN. Thị trường Mỹ từ đứng đầu về thị phần nay xuống vị trí thứ 2, chiếm khoảng 14,2% tổng lượng xuất khẩu. Nguyên nhân do tác động của kết quả chống bán phá giá POR14. Mức thuế cuối cùng này tăng cao hơn nhiều so với kết quả sơ bộ đã được công bố hồi tháng 9-2018. Mới đây, DOC thông báo quyết định mức thuế sơ bộ cho POR15 là 0 USD/kg, thuế suất toàn quốc vẫn là 2,39 USD/kg. Con số này thấp hơn nhiều so với kết quả cuối cùng của đợt rà soát trước đó là POR14 với mức thuế 1,37-2,39 USD/kg.

Trung Quốc đang giữ vị trí số 1 nhập khấu cá tra từ Việt Nam nhưng lại là thị trường không ổn định, nhiều rủi ro, là điểm nóng của thế giới về vệ sinh an toàn thực phẩm. Gần đây, thị trường này cũng khắt khe hơn về chất lượng và truy xuất nguồn gốc. Sản phẩm cá tra xuất sang đây phải theo những tiêu chuẩn của các thị trường khó tính như Mỹ và EU…

Riêng trong tháng 11/2019, xuất khẩu cá tra giảm 20% so với cùng kỳ năm 2018. Hầu hết các thị trường XK chính đều có giá trị giảm và Trung Quốc - Hồng Kông là thị trường duy nhất trong top “cứu” không cho giá trị bị sụt giảm sâu thêm.  

Tháng 11/2019, giá trị xuất khẩu cá tra sang hai thị trường Mỹ và EU đều giảm, lần lượt 60,2% và 36% so với cùng kỳ năm trước. Tính tới hết tháng 11/2019, tổng giá trị XK cá tra sang hai thị trường này đạt lần lượt 258,5 triệu USD và 217,6 triệu USD. Giá trị XK cá tra sang Mỹ giảm mạnh tới 47,7% và EU giảm không đáng kể 0,1%...

Như vậy, kết thúc 11 tháng xuất khẩu đầu năm 2019, cá tra Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi tăng trưởng âm so với cùng kỳ năm trước, trong đó, thị trường sáng nhất tiếp tục là Trung Quốc - Hồng Kông. Năm nay, giá cá tra nguyên liệu tại ĐBSCL giảm mạnh và ở mức thấp. Điều này cũng tác động không nhỏ tới giá trị xuất khẩu của các doanh nghiệp.

Thương lái lại tranh mua tôm

Sau gần 3 năm liên tục đứng ở mức thấp, giá tôm thẻ chân trắng ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thời gian gần đây tăng mạnh do nguồn cung khan hiếm.

Bà Nguyễn Thị Hồng - một chủ vựa tôm ở huyện Mỹ Xuyên, Sóc Trăng - cho hay giá tôm thẻ nguyên liệu những ngày gần đây nhảy múa khó lường, có ngày tăng đến 3.000 đồng/kg. 

Đầu tháng 11, tôm cỡ 40 con/kg chưa chạm 120.000 đồng/kg, nhưng hiện tăng thêm 24.000 đồng, đạt ngưỡng 144.000 đồng/kg, cao nhất trong 4 năm trở lại đây. "Tuy vậy giá tôm vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt, dự báo sẽ còn tăng trong những ngày tới" - bà Hồng nói.

Tại Bến Tre, giá tôm nguyên liệu còn "nóng" hơn. Tôm thẻ cỡ từ 20-30 con/kg hiện được thương lái chào mua với giá 175.000-190.000 đồng/kg, tăng hơn 50.000 đồng/kg so với ba tháng trước đó. Giá tôm cỡ 100 con/kg cũng tăng nhẹ, được thương lái mua trên 100.000 đồng/kg.

Theo ông Võ Văn Phục - tổng giám đốc Công ty CP Thủy sản sạch Việt Nam, do sản lượng năm nay giảm nên giá tôm nguyên liệu tháng cuối tăng mạnh. 

Ông Trần Văn Trung - giám đốc Công ty TNHH thủy sản Anh Khoa, Cà Mau - cũng cho biết công ty đang gặp khó trong khâu tôm nguyên liệu, do nguồn cung không chỉ khan hiếm mà giá khá cao, tăng trung bình 15-20%. Điều này cũng ảnh hưởng đến tình hình xuất khẩu tôm năm nay. 

"Tôm sú và tôm thẻ đều thất thu so với năm ngoái, tôm nguyên liệu giảm nhiều. Bài toán tôm nguyên liệu xuất khẩu từ nay đến cuối năm chưa thấy có dấu hiệu khả quan" - ông Trung nhận định.

Theo ông Hồ Quốc Lực - tổng giám đốc Công ty CP thực phẩm Sao Ta (Sóc Trăng), do thiếu nguyên liệu chế biến, các nhà máy tranh mua để "trả nợ" những phiếu đã ký trước đó nên đẩy giá tôm thời gian gần đây leo thang. "Giá hợp đồng không tăng, do vậy càng thu mua nhiều, doanh nghiệp càng lỗ" - ông Lực nói.

Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam (Vasep), sau mấy tháng giảm liên tục, xuất khẩu tôm trong tháng 11 đảo chiều tăng nhẹ so với cùng kỳ năm 2018. Cụ thể, xuất khẩu tôm Việt Nam tăng nhẹ 1,5% đạt gần 309 triệu USD. Luỹ kế 11 tháng năm nay, xuất khẩu tôm đạt 3,1 tỷ USD, giảm 5,7% so với cùng kỳ năm ngoái.

Trong tháng 11/2019, trong top 9 thị trường chính nhập khẩu  tôm Việt Nam, xuất khẩu tôm đồng loạt tăng trưởng dương ở 7 thị trường chính trong đó xuất khẩu sang Trung Quốc, Australia tăng trưởng hai con số, 2 thị trường vẫn giảm là Nhật Bản và Hàn Quốc. xuất khẩu sang EU sau khi sụt giảm trong nhiều tháng cũng đã tăng trưởng dương trong tháng 11 năm nay.

EU chiếm khoảng 31% tổng nhập khẩu tôm thế giới và chiếm 21% xuất khẩu tôm của Việt Nam. Nếu biết tận dụng ưu đãi thuế quan từ Hiệp định EVFTA giữa Việt Nam và EU, áp dụng hiệu quả quy tắc xuất xứ, xuất khẩu tôm Việt Nam sang EU sẽ có cơ hội gia tăng từ năm 2020.

Cùng với thị trường EU, trong tháng 11 xuất khẩu tôm Việt sang Mỹ cũng tăng, mặc dù tăng trưởng không cao nhưng xuất khẩu tôm Việt Nam sang Mỹ duy trì được giá trị xuất khẩu ổn định. Tính chung 11 tháng năm nay, xuất khẩu tôm sang Mỹ tăng 1,3% đạt 601,5 triệu USD.

VASEP nhận định, kết quả khả quan về thuế chống bán phá giá tôm Việt Nam vào Mỹ trong POR 13 đã góp phần tạo động lực cho các doanh nghiệp xuất khẩu tôm của Việt Nam sang thị trường này. xuất khẩu tôm Việt Nam sang Mỹ dự kiến tăng khoảng 5% trong quý cuối năm nay. 

HỒ TIÊU

Xuất khẩu hồ tiêu trượt dài trong mất giá


Báo cáo của Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ NN&PTNT) cho thấy: 11 tháng năm 2019, XK hồ tiêu ước đạt 269 nghìn tấn và 677 triệu USD, tăng 23,3% về khối lượng nhưng giảm 5,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018. Đáng chú ý, giá tiêu XK bình quân 10 tháng năm 2019 chỉ đạt 2.533 USD/tấn, giảm 22,6% so với cùng kỳ năm 2018.

Suốt từ đầu năm đến nay, giá hồ tiêu XK sụt giảm, “bức tranh” toàn ngành nhìn chung theo xu hướng lượng XK đi lên, song giá trị lại theo chiều đi xuống. Nhìn theo cả quá trình, những năm gần đây, sản phẩm nông sản đình đám một thời được ví von như “vàng đen” này thực ra đã trượt dài trong mất giá.

Bộ NN&PTNT nêu rõ: Nếu như năm 2016, giá trị XK hồ tiêu đạt 176,6 nghìn tấn, tăng 34,3% về khối lượng và tăng 12,9% về giá trị so với năm 2015 thì những năm sau đó đến nay, giá trị XK lại đều theo chiều đi xuống. Cụ thể, năm 2017 giá trị hồ tiêu XK ước đạt 1,11 tỷ USD, giảm 21% so với năm 2016; năm 2018, XK hồ tiêu đạt 758,8 triệu USD, giảm 32,1%.

Quay trở lại câu chuyện của riêng năm 2019, tại thị trường trong nước, giá thu mua hạt tiêu đen biến động tăng trong tháng 11, 12/2019. So với tháng 10, giá tiêu tại Bà Rịa-Vũng Tàu tăng 500 đồng/kg lên 42.000 đồng/kg. Giá tiêu tại Gia Lai và Đồng Nai tăng 1.000 đồng/kg lên 40.000 đồng/kg. Giá tiêu tại Đắk Lắk, Đắk Nông giữ mức 40.500 đồng/kg. Giá tiêu được dự báo sẽ khó có khả năng tăng mạnh trong thời gian tới do nguồn cung vẫn còn dồi dào và nhu cầu sẽ không tăng nhiều vào các tháng tiếp theo do các thị trường đã NK một lượng hạt tiêu lớn từ giữa năm.

Nói là giá hạt tiêu có xu hướng nhích lên trong tháng 11, 12/2019 so với tháng 10/2019, song nếu nhìn lại “bức tranh” từ đầu năm tới nay, giá hiện tại thậm chí còn thấp hơn cả mức giá khoảng 42.000-45.000 đồng/kg trong quý đầu năm. Tại thời điểm mức giá tiêu dao động 42.000-45.000 đồng/kg, ông Nguyễn Nam Hải, Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam đã phải thốt lên: “Giá hồ tiêu trên dưới 45.000 đồng/kg là mức thấp nhất trong khoảng 10 năm trở lại đây, thấp hơn giá thành. Giá thành của người nông dân là khoảng trên dưới 50.000 đồng/kg. Dự báo, trong 1-2 niên vụ nữa, giá tiêu may ra mới có thể khởi sắc”.

Bộ NN&PTNT nhận định: Sản xuất hồ tiêu của Việt Nam được đánh giá chưa bền vững chủ yếu do diện tích trồng hồ tiêu ở nhiều vùng tăng nhanh, đặc biệt là ở các vùng không phù hợp, thâm canh quá cao trong giai đoạn giá tốt. Bên cạnh đó, sản xuất theo hướng GAP, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm còn chưa toàn diện; tổ chức sản xuất, sơ chế và chế biến sâu hồ tiêu còn nhiều hạn chế, chưa phát huy hết tiềm năng, lợi thế của ngành hồ tiêu…

Theo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương): Thời gian tới, giải pháp quan trọng để ngành hồ tiêu phát triển bền vững là phải chuyển dịch cơ cấu sản phẩm, nâng tỷ lệ tiêu trắng XK đạt 30-40%, tiêu bột đạt 20% vào năm 2030; đa dạng hóa sản phẩm đáp ứng thị trường yêu cầu chất lượng cao như sản phẩm tiêu hữu cơ, tiêu đỏ, tiêu xay, nhựa hồ tiêu…

HẠT ĐIỀU  

Giá xuất khẩu hạt điều tăng tháng thứ tư liên tiếp

Theo Vinacas, thời gian gần đây, giá hạt điều thô đang biến động theo chiều hướng tăng với biên độ lớn hơn nhiều so với điều nhân. Do đó, các doanh nghiệp cần chú ý để tránh thua lỗ khi quyết định mua hạt điều thô.

Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) ước tính, giá xuất khẩu bình quân hạt điều tháng 11/2019 ở mức 7.125 USD/tấn, tăng 2,9% so với tháng 10/2019, nhưng giảm 10,2% so với tháng 11/2018. Lũy kế 11 tháng năm 2019, giá xuất khẩu bình quân hạt điều đạt 7.241 USD/tấn, giảm 20,5% so với cùng kỳ năm 2018.

Tháng 11/2019, giá hạt điều trên thị trường thế giới không có nhiều biến động sau khi tăng mạnh trong 2 tháng trước đó do nguồn cung ổn định, nhu cầu ở mức thấp.

Hiện nay, rất nhiều công ty chế biến hạt điều Việt Nam đã hết hạt điều thô để sản xuất. Một số công ty đã mua đủ hàng cho sản xuất tới vụ mới, nhưng cũng có một số công ty đang thiếu lượng nguyên liệu từ 1 - 3 tháng. Vì thiếu nguyên liệu, nên giá hạt điều thô nội địa hiện ở mức cao hơn giá hạt điều nhân ký hợp đồng xuất khẩu.

Theo Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas), giá hạt điều thô có biến động lớn hơn so với hạt điều nhân. Thông thường, hạt điều thô tăng giá thì nhanh và nhiều nhưng giảm chậm. Thời gian gần đây, giá hạt điều thô đang biến động theo chiều hướng tăng với biên độ lớn hơn nhiều so với điều nhân. Do đó, các doanh nghiệp cần chú ý để tránh thua lỗ khi quyết định mua hạt điều thô.

Vinacas dự báo, từ nay đến đầu vụ mới năm 2020, giá hạt điều thô sẽ cơ bản ổn định, mức tăng giảm chỉ biến động nhẹ. Giá hạt điều thô mới đầu vụ năm 2020 được chào bán vào tháng 2 và tháng 3/2020 sẽ ổn định hơn và có khả năng giảm dần từ tháng 5 - tháng 6/2020 rồi lặp lại chu kỳ như năm 2019.

Theo ước tính, xuất khẩu hạt điều tháng 11/2019 đạt 40 nghìn tấn, trị giá 285 triệu USD, giảm 9,1% về lượng và giảm 6,5% về trị giá so với tháng 10/2019, nhưng tăng 14,6% về lượng và tăng 2,9% về trị giá so với tháng 11/2018. Lũy kế 11 tháng năm 2019, xuất khẩu hạt điều đạt 412 nghìn tấn, trị giá 2,985 tỷ USD, tăng 21,5% về lượng, nhưng giảm 3,4% về trị giá so với 11 tháng năm 2018.

CAO SU

Xuất khẩu cao su lấy lại đà tăng trưởng

Giá cao su trên thị trường quốc tế tăng giúp tình hình xuất khẩu (XK) cao su của nước ta tăng trưởng khá trong thời gian qua.

Theo Tổng cục Hải quan, XK cao su của Việt Nam trong tháng 11/2019 đạt hơn 199 nghìn tấn, trị giá gần 262 triệu USD, tăng 10,8% về lượng và tăng 17,1% về trị giá so với tháng 11/2018. Lũy kế 11 tháng năm 2019, XK cao su đạt 1,5 triệu tấn, trị giá 2,02 tỷ USD, tăng 8% về lượng và tăng 7,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Về giá XK, tháng 11/2019, giá cao su XK của nước ta bình quân đạt 1.316 USD/tấn, tăng 1,3% so với tháng 10/2019 và tăng 5,8% so với cùng kỳ năm 2018. Như vậy kể từ khi chạm đáy với mức giá XK bình quân vào tháng 12/2018 ở mức khoảng 1.200 USD/tấn, giá cao su từ đầu năm 2019 đến nay đã từng bước tăng khá, đạt ngưỡng bình quân 1.443 USD/tấn vào tháng 5/2019.

Tuy nhiên, liên tiếp từ tháng 5/2019 đến tháng 10/2019, giá cao su XK đã tụt dần, rớt xuống mức xấp xỉ 1.300 USD/tấn vào tháng 10/2019. Tuy nhiên từ tháng 10/2019 đến tháng nay, giá mủ XK tiếp tục có tín hiệu đáng mừng khi đang tăng trở lại.

Về thị trường XK, trong tháng 11/2019, Trung Quốc vẫn là thị trường XK cao su lớn nhất của Việt Nam, đạt 149,75 nghìn tấn, trị giá 195,59 triệu USD, tăng 15,1% về lượng và tăng 22,4% về trị giá so với tháng 11/2018, chiếm 75,2% tổng khối lượng cao su XK của Việt Nam. Lũy kế 11 tháng năm 2019, XK cao su sang Trung Quốc đạt 1,04 triệu tấn, trị giá 1,34 tỷ USD, tăng 10% về lượng và tăng 9,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Ngoài Trung Quốc, nhiều thị trường XK cao su của Việt Nam trong 11 tháng năm 2019 cũng tăng khá về lượng so với cùng kỳ năm 2018 như: Ấn Độ tăng 29,7%; Hàn Quốc tăng 26,1%; Brazil tăng 21,6%; Banglades tăng 48,4%...

Giá cao su trên thị trước quốc tế tăng trở lại đã giúp giá thu mua cao su cho nông dân trong nước tăng theo. Tại Đông Nam Bộ ngày 17/12/2019, Hội đồng giá thu mua mủ cao su tiểu điền của Cty TNHH MTV cao su Lộc Ninh (Bình Phước) thông báo giá thu mua cao su nguyên liệu tại vườn đạt mức 280 Đ/độ TSC đối với mủ nước (tăng mạnh so với mức bình quân khoảng 250 Đ/độ TSC hồi cuối tháng 10/2019).

(TTGCVT/T.Hiền tổng hợp)  

 

Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (024) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (024) 39762593 
Email:ttgcvattu1989@gmail.com