Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Thị trường hàng hóa nguyên liệu trong nước tháng 9/2019
Cập nhật: 1-10-2019

VÀNG 

Giá vàng liên tục tăng, giảm trong suốt tháng 9


Trước áp lực biến động của giá vàng thế giới bởi các thông tin kinh tế và địa chính trị, giá vàng trong nước tháng 9/2019 không nằm ngoài vòng xoáy đó. Giá vàng đã trải qua nhiều cung bậc, trạng thái khiến cho các nhà đầu tư khó đoán định được đâu là bước đi tiếp theo của vàng. Chính vì vậy, các nhà đầu tư vẫn phải chờ đợi một xu hướng rõ ràng hơn của loại tài sản này. Điều này khiến cho thị trường không thể sôi động. Với tình trạng hiện tại, việc đầu tư vào vàng vẫn đang được xem là mạo hiểm, chưa phải là kênh đầu tư hấp dẫn.

Trong tuần đầu tiên của tháng 9, giá vàng có xu hướng tăng trở lại vào ngày 4/9 và ngày 5/9 theo đà tăng của giá vàng thế giới. Vào lúc 9 giờ 15 phút sáng 5/9, Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn niêm yết giá vàng SJC cho thị trường Hà Nội ở mức 42,55 - 42,92 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), tăng 150.000 đồng/lượng so với chốt phiên hôm trước. Tập đoàn Doji niêm yết giá vàng SJC cho thị trường Hà Nội ở mức 42,65 - 42,9 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), tăng 100.000 đồng/lượng ở chiều mua và 50.000 đồng/lượng ở chiều bán so với giá đóng cửa hôm trước. Tuy nhiên, vào sáng 6/9 giá vàng đã lao dốc. Giá mua bán vàng có nơi giảm tới 500.000 đồng một lượng. Tập đoàn Doji niêm yết giá mua bán vàng miếng SJC tại 42- 42,55 triệu đồng một lượng. So với chiều 5/9, giá này giảm 500.000 đồng ở chiều mua và 380.000 đồng ở chiều bán. Công ty Vàng bạc Đá quý Phú Nhuận (PNJ) công bố giá mua giảm 300.000 đồng, về 42,2 triệu đồng mỗi lượng, giá bán giảm 250.000 đồng, về 42,65 triệu đồng. 

Bước sang tuần 2, giá vàng giảm mạnh ngay từ đầu tuần. Đến đầu giờ sáng ngày 12/9, giá vàng đã lùi về mức 41,35 - 41,75 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra) tại Công ty VBĐQ Sài Gòn. Cũng tại thời điểm này, Tập đoàn Vàng bạc Đá quý DOJI cũng niêm yết giá vàng SJC tại thị trường Hà Nội ở mức 41,45 – 41,78 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), giảm 50.000 đồng/lượng ở chiều mua và 90.000 đồng/lượng ở chiều bán so với giá cuối ngày 11/9. Tuy nhiên, giá đã tăng trở lại ngay ngày hôm sau. Tới 14h30' ngày 13/9, giá vàng miếng trong nước được Tập đoàn Vàng bạc đá quý Doji niêm yết ở mức: 41,800 triệu đồng/lượng (mua vào) và 42,150 triệu đồng/lượng (bán ra). Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn niêm yết giá vàng SJC ở mức 41,750 triệu đồng/lượng (mua vào) và 42,120 triệu đồng/lượng (bán ra). Vàng đã tăng giá mạnh sau khi giới đầu tư trên thị trường thế giới chứng kiến làn sóng nới lỏng chính sách tiền tệ trong bối cảnh những rủi ro về tăng trưởng toàn cầu vẫn hiện hữu.

Trong tuần này, Công ty chứng khoán SSI đã đưa ra những nhận định về thị trường vàng. Cụ thể, 8 tháng đầu năm nay vàng đã trở thành tài sản tăng giá mạnh nhất. Cộng hưởng với đà tăng 18% của thế giới, giá vàng trong nước 8 tháng đầu năm cũng tăng tới 16%, vượt mức 43 triệu đồng mỗi lượng. Mức sinh lời này cao hơn đà tăng của VN-Index (10,3%), và hơn gấp đôi lãi suất trái phiếu chính phủ 10 năm.

Trung tuần tháng 9, giá vàng trong nước trồi sụt thất thường cũng bởi ảnh hưởng của giá vàng thế giới. Giá dao động trong khoảng từ 41,40 – 41,77 triệu đồng/lượng chiều mua vào và 41,60 – 42,12 triệu đồng/lượng chiều bán ra. Theo giới quan sát, có rất nhiều các luồng thông tin đa chiều nhận định về thị trường vàng trong tương lai ngắn hạn và dài hạn nên rất khó định hướng được các động thái tiếp theo của vàng.

Đà tăng của giá vàng thế giới đã kéo giá vàng trong nước tăng mạnh trở lại trong tuần thứ 4. Cụ thể, tính đến 9h30 ngày 25/9, Công ty TNHH MTV Vàng bạc Đá quý Sài Gòn niêm yết giá vàng miếng SJC tại khu vực TP.HCM ở mức 42,25 - 42,6 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra). So với chiều 24/9, giá vàng tại đây đã tăng 200.000 đồng/lượng ở chiều mua vào, và tăng 250.000 đồng/lượng ở chiều bán ra. Kể từ phiên giao dịch 5/9, đây là phiên đầu tiên vàng miếng trong nước tăng trở lại mốc 42,6 triệu đồng/lượng. Đây cũng là vùng giá cao nhất trong 2 tuần của vàng trong nước. Trước đó, có thời điểm giá vàng trong nước đã giảm về dưới mốc 41,6 triệu đồng. Tuy nhiên, ngay sau diễn biến tăng mạnh, giá vàng đột ngột lao dốc mạnh ngay ngày hôm sau 26/9 và tiếp tục giảm trong ngày cuối tuần 27/9 ở mức 41,85 – 42,15 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra). Với những biến động giằng co như trên, các nhà đầu tư nhận định đây chưa phải là thời điểm có lợi để tham gia thị trường nên khiến các giao dịch trên thị trường khá thưa thớt. 

Sau khi không đổi trong ngày cuối tuần trước, giá vàng SJC mở cửa sáng ngày 30/9 tại Hà Nội đã giảm 100.000 đồng/lượng đồng/lượng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra, và được niêm yết tại mức 41,60 - 41,92 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra). "Những người mua vàng ở mức giá "đỉnh" 43,5 triệu đồng/lượng (ngày 5/9) đến giờ bán chỉ được 41,60 triệu đồng/lượng. Mỗi lượng vàng lỗ xấp xỉ gần 2 triệu đồng. Giá vàng biến động tăng giảm liên tục mỗi ngày và chênh lệch giá mua vào - bán ra được các doanh nghiệp giãn rộng 300.000 - 400.000 đồng/lượng khiến nhà đầu tư, người lướt sóng vàng khó có lời, thậm chí lỗ nặng" - một chuyên gia vàng phân tích.

Thực tế, từ đợt biến động mạnh của giá vàng vào tháng 6-2019 đến nay, nhiều người bắt đầu quan tâm hơn đến vàng, thậm chí có ý định trở lại thị trường vàng để lướt sóng. Tuy nhiên, các chuyên gia khuyến cáo, rủi ro từ việc đầu cơ lướt sóng vàng là không nhỏ. Bởi giá vàng hiện nay đã thiết lập mặt bằng giá mới, cao hơn từ 5-6 triệu đồng/lượng so với thời điểm trước khi sốt giá gần 4 tháng trước.

ĐÔ LA

Tỷ giá trung tâm trồi sụt khá mạnh, nhiều lần tăng vọt lên mức cao

Cũng giống như vàng, trong tháng cuối cùng của quý 3/2019, tỷ giá trung tâm của NHNN cũng liên tục biến thiên bởi ảnh hưởng của đồng đô la trên thị trường thế giới. Tuy nhiên, nhìn chung trong tháng 9, giá giao dịch USD tại các NHTM lại khá “dửng dưng” trước các thay đổi trên. Điều này đã được nhiều chuyên gia lý giải với nhiều những nguyên nhân khác nhau.

Hãy điểm lại các thay đổi của tỷ giá trong suốt tháng 9.

Trong tuần đầu tiên, tỷ giá trung tâm tăng giảm xen kẽ và đứng ở mức cao theo diễn biến tăng của đồng đô la trên thị trường thế giới. Mức tỷ giá cao nhất tuần là 23.146 đồng/USD. Mức thấp nhất tuần là 23.138 đồng/USD. Tại các NHTM, giá giao dịch USD ít biến động. Đầu giờ sáng 6/9, đa số các ngân hàng thương mại giữ tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ gần như không đổi so với cuối giờ phiên liền trước, phổ biến ở mức 23.135 đồng (mua) và 23.255 đồng (bán).

Xu hướng tăng rồi lại giảm tiếp tục diễn biến trong tuần thứ 2. Mức cao nhất tuần là 23.138 đồng/USD. Mức thấp nhất tuần là 23.130 đồng/USD. Tại các NHTM, giá giao dịch USD biến động nhẹ. Lúc 8 giờ 15 phút ngày 13/9, giá USD tại BIDV, niêm yết ở mức 23.145 – 23.265 VND/USD (mua vào - bán ra), tăng 5 đồng ở cả chiều mua và bán so với cùng thời điểm sáng 12/9. Tại Techcombank, giá đồng bạc xanh niêm yết ở mức 23.136 – 23.276 VND/USD (mua vào - bán ra), tăng 7 đồng ở cả chiều mua và bán so với cùng thời điểm sáng 12/9.

Trung tuần tháng 9, tỷ giá trung tâm có xu hướng tăng mạnh và chỉ có một phiên giảm vào sáng 20/9. Mức cao nhất tuần là 23.143 đồng/USD. Mức thấp nhất tuần là 23.130 đồng/USD. Xu hướng tăng mạnh của tỷ giá trung tâm là do ảnh hưởng của thị trường đồng đô la trên thế giới tiếp tục tăng lên. Tại các NHTM, giá giao dịch USD biến động nhẹ. Tới đầu giờ sáng 20/9, giá USD tại Vietcombank niêm yết ở mức 23.120 – 23.270 VND/USD (mua vào - bán ra), giảm 10 đồng ở cả chiều mua và bán so với cùng thời điểm sáng 19/9. Ngân hàng Techcombank niêm yết ở mức 23.138 – 23.278 VND/USD (mua vào - bán ra), giảm 9 đồng ở cả chiều mua và bán so với cùng thời điểm sáng hôm trước. Tính từ đầu năm 2019, đồng đô la Mỹ trong hệ thống ngân hàng tăng 5-35 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra.

Tuần cuối cùng tháng 9, tỷ giá trung tâm của NHNN tiếp đà tăng mạnh, dao động ở khoảng 23.137 – 23.160 đồng/USD. Trong 5 ngày của tuần này, tỷ giá đã tăng 23 đồng. Nguyên nhân khiến cho tỷ giá tăng mạnh trong tuần qua nằm trong diễn biến theo xu hướng đồng USD trên thị trường thế giới biến động khá mạnh ở trên mức cao trong bối cảnh thị trường đón nhận nhiều thông tin trái chiều đến từ nước Mỹ. Còn tại các NHTM, tới đầu giờ sáng 27/9, đa số giữ tỷ giá ngoại tệ không đổi so với cuối giờ phiên liền trước, phổ biến ở mức 23.140 đồng (mua) và 23.260 đồng (bán). Tính từ đầu năm 2019, đồng đô la Mỹ trong hệ thống ngân hàng tăng 30 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra.

Một điều dễ quan sát thấy trong thời gian qua, trong khi tỷ giá trung tâm liên tục được điều chỉnh lên những mốc kỷ lục mới, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại lại rất "dửng dưng", thậm chí nhiều phiên ngược chiều đi xuống. Giá mua bán USD trên liên ngân hàng thời gian qua cũng ổn định, thậm chí tiền đồng còn có xu hướng đi lên. 

Theo nhận định của chứng khoán SSI, nguyên nhân quan trọng nhất giúp cho VND giữ được sự ổn định trong thời gian qua và từ nay đến cuối năm là nhờ nguồn cùng USD dồi dào trong bối cảnh cán cân thương mại 8 tháng thặng dư 3,4 tỷ USD, giải ngân vốn FDI tăng trưởng mạnh, đạt 12 tỷ USD, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước. Theo SSI, dự trữ ngoại hối của Việt Nam hiện đang ở mức cao nhất trong lịch sử, khoảng 70 tỷ USD, là tấm đệm giúp Ngân hàng Nhà nước điều hành tỷ giá.

Trong khi đó, HSBC mới đây dự báo tiền đồng so với USD vào cuối năm nay sẽ ở mức 23.550 VND/USD, tăng khoảng 1,6% so với đầu năm. Tức theo dự báo này, từ nay đến cuối năm, giá mua bán USD sẽ tăng khoảng 300 đồng. HSBC còn đưa ra dự báo giá nhân dân tệ (CNY) của Trung Quốc năm 2019 ở khoảng 7,2 CNY đổi được một USD. Ông Phạm Hồng Hải, nguyên TGĐ HSBC Việt Nam cho rằng hiện nay tỷ giá USD/CNY vẫn đang nằm trong ngưỡng có thể chấp nhận được nhưng nếu vượt qua ngưỡng này sẽ xảy ra hoảng loạn. 

Như vậy, lũy kế từ đầu năm 2019 đến nay, chỉ số USD Index đo lường sức mạnh của đồng USD với 6 loại tiền tệ chủ chốt tăng 1,44%. Các đồng tiền mạnh như GBP, EUR, AUD, CNY, … có mức giảm trong dao động 1,6%-3,8% so có đồng USD, 1 số đồng RUB, JPY, PHP và THB đều tăng giá so với đồng USD. Nhưng riêng tỷ giá VND so với USD có sự biến động không đáng kể.

Theo các chuyên gia, việc VND giữ được mức ổn định như hiện nay, một phần nhờ động thái cắt giảm lãi suất điều hành của NHNN, đã khiến lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh về dưới mức 3%/năm.

Nhưng nguyên nhân quan trọng nhất là do thanh khoản VND và nguồn cung USD hiện đang khá dồi dào trong bối cảnh cán cân thương mại 8 tháng thặng dư 3,4 tỷ USD, giải ngân vốn FDI tăng trưởng mạnh, đạt 12 tỷ USD, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước; vốn FII cũng đạt tới 9,51 tỷ USD, tăng 80% so với cùng kỳ năm 2018…

Đặc biệt, theo các chuyên gia của Công ty Chứng khoán SSI, dự trữ ngoại hối của Việt Nam hiện tại đang ở mức cao nhất trong lịch sử, sẽ là tấm đệm quan trọng giúp NHNN điều hành tỷ giá.

Riêng với động thái hạ lãi suất của FED, báo cáo của nhóm tác giả Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV cho rằng, tác động lần này không lớn do đã được tiên đoán từ trước, phân khúc ngoại hối Việt Nam về căn bản ổn định (do quan hệ cung - cầu căn bản ổn, thanh khoản phân khúc tương đối dồi dào, dự trữ ngoại hối tiếp tục tăng…).

“Chênh lệch lãi suất VND và USD ở mức trên 1%, nguồn cung giai đoạn tới dự kiến vẫn dồi dào từ hoạt động thương mại, đầu tư và chuẩn bị bước vào mùa kiều hối nên nhiều khả năng tỷ giá USD/VND sẽ tiếp tục ổn định quanh vùng 23.200 VND/USD”, SSI cho biết.

Tuy nhiên, các chuyên gia vẫn cho rằng cần theo dõi sát sao bởi các biến động trên phân khúc ngoại hối quốc tế sẽ có tác động nhất định tới tỷ giá USD/VND. Đặc biệt, các cơ quan quản lý cần tăng khả năng chống chịu, tạo các “gối đệm” trước nhứng cú sốc, biến động của thị trường tài chính thế giới.

THÉP XÂY DỰNG

Sản lượng thép của Việt Nam tăng trong 8 tháng đầu năm

Trong tháng 9, thị trường thép xây dựng nhìn chung không có nhiều biến động về giá cả so với tháng 8/2019. Tuy đang là mùa xây dựng và tiến gần đến thời điểm cuối năm, nhưng giá thép lại có xu hướng giảm nhẹ so với đầu năm. Hiện nay, sắt thép chủ yếu có mặt trên thị trường là hàng của Nhà máy gang thép Thái Nguyên, Công ty Thép Việt - Úc, Thép Hòa Phát, Việt - Hàn, Việt - Nhật... Hiện giá bán thép cuộn phi 6,8,10 với giá bán ở mức khoảng từ 12.700 - 13.300 đồng/kg, thép phi 14,16,18 giá từ 189.00 - 315.000 đồng/cây (giá giao tại nhà máy, chưa bao gồm 10% thuế VAT, chiết khấu bán hàng).

Về tình hình sản xuất, theo thống kê của Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), tổng sản lượng thép thành phẩm của Việt Nam là khoảng 16,8 triệu tấn trong 8 tháng đầu năm 2019, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm ngoái.

Trong tháng 8, tổng sản lượng là hơn 2,08 triệu tấn, giảm 1% so với tháng 7. Lý do cho sự suy giảm trong tháng 8 là mùa mưa. Bên cạnh đó, tổng sản lượng bán thép trong tháng 8 là khoảng 1,87 triệu tấn, giảm 10% so với tháng 7 và 4,4% so với năm ngoái.

Về tình hình xuất nhập khẩu, theo số liệu từ Tổng cục Hải quan, trong tháng 8/2019 lượng xuất nhập khẩu sắt thép các loại tăng nhẹ. Xuất khẩu thép ra thị trường nước ngoài khó khăn hơn bởi các hàng rào phòng vệ thương mại.Cụ thể, xuất khẩu sắt thép tháng 8/2019 đạt hơn 492 ngàn tấn, trị giá 320 triệu USD, tăng 6,4% về lượng và tăng 2,8% về trị giá so với tháng trước. Lũy kế 8 tháng, lượng sắt thép xuất khẩu đạt 4,37 triệu tấn, trị giá 2,85 tỷ USD tăng 8,5% về lượng và giảm 4,6% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.

Tính đến hết tháng 8/2019 sắt thép các loại chủ yếu xuất khẩu sang các thị trường ASEAN như: Campuchia (1,17 triệu tấn), Indonesia (hơn 500 ngàn tấn), Malaysia (502 ngàn tấn),…

Về nhập khẩu lượng sắt thép các loại tháng 8 đạt 1,28 triệu tấn, trị giá 827,9 triệu USD, tăng nhẹ cả về lượng và trị giá so với tháng trước. Lũy kế 8 tháng, nhập khẩu sắt thép các loại đạt 9,64 triệu tấn trị giá 6,45 tỷ USD, giảm 3,8% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.

Kết thúc tháng 8/2019, Trung Quốc tiếp tục là thị trường cung cấp sắt thép các loại lớn nhất vào Việt Nam với 3,87 triệu tấn, trị giá 2,45 tỷ USD. Tiếp theo là Nhật Bản, Hàn Quốc.

Theo Phó Chủ tịch Hiệp hội thép Việt Nam (VSA) Trịnh Khôi Nguyên, từ đầu năm đến nay, ngành thép trong nước gặp nhiều khó khăn do sức ép cạnh tranh ngày càng khốc liệt từ việc gia tăng nguồn cung trong nước, cộng thêm hàng giá rẻ nhập khẩu từ Trung Quốc. Không chỉ vậy, tình trạng dư thừa nguồn cung thép trên thế giới cũng đang gây ra sự bất ổn của thị trường thép nói chung, trong đó có Việt Nam.

Bởi theo thống kê của VSA, năng lực sản xuất các sản phẩm thép của Việt Nam từ năm 2018 cung đã vượt cầu quá xa. Từ đó dẫn đến nhiều nhà máy sản xuất các sản phẩm thép trong nước chỉ hoạt động khoảng 60% công suất, chưa có nhà máy nào đạt 100%. Chưa kể, một số dự án thép lớn tiếp tục đi vào hoạt động trong năm nay càng làm trầm trọng thêm tình trạng cung vượt cầu.

Trong tháng 9/2019, có một số thông tin đáng chú ý đối với với thị trường thép trong nước. Đó là việc phản ứng khá mạnh của các doanh nghiệp trước đề xuất tăng thuế của Bộ Tài chính. Cụ thể, Bộ Tài chính đã có văn bản xin ý kiến dự thảo sửa đổi Nghị định 125/2017 theo hướng tăng thuế MFN đối với thép cuộn cán nóng nhóm 72.08 từ 0% lên 5%. Lý giải nguyên nhân đưa ra đề xuất trên, Bộ Tài chính cho biết nếu không có thuế nhập khẩu đánh vào mặt hàng thép cán cuộn giá rẻ từ Trung Quốc thì thép này sẽ tiếp tục tràn vào, gây bất ổn thị trường thép trong nước.

Tuy nhiên, Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) cho rằng biện pháp tăng thuế suất MFN đối với thép cuộn cán nóng nhóm 72.08 không những không hạn chế được thép Trung Quốc mà còn tạo cơ hội để lượng thép nhập từ Trung Quốc gia tăng.Cụ thể, Việt Nam và Trung Quốc đều tham gia Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA) nên thép cuộn cán nóng nhóm 72.08 từ Trung Quốc nhập vào Việt Nam được hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt 0% theo hiệp định này. Do đó, nếu tăng thuế suất MFN từ 0% lên 5% thì thép cuộn cán nóng nhóm 72.08 của Trung Quốc sẽ vẫn được nhập khẩu vào Việt Nam với thuế suất 0% theo Hiệp định ACFTA.

Đại diện các doanh nghiệp thép Việt Nam cũng cho biết, việc tăng thuế này gây thêm khó khăn cho doanh nghiệp sản xuất cán nguội, tôn mạ và ống thép trong bối cảnh các ngành sản xuất này đang gặp khó khăn. Lý do là các doanh nghiệp sẽ bị hạn chế nguồn cung trong khi sản lượng sản xuất trong nước chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ.

Bộ Tài chính cho biết, với những góp ý của các bộ và doanh nghiệp, ban soạn thảo đã thống nhất đưa phương án tăng thuế trên ra khỏi dự thảo nghị định mới nhất chuẩn bị trình Chính phủ. Theo Bộ Tài chính, việc đề xuất chưa tăng thuế nhằm đảm bảo không xáo trộn sản xuất kinh doanh trong nước. Việc tăng thuế trong giai đoạn này sẽ tăng chi phí đầu vào của doanh nghiệp.

XĂNG DẦU

Giá xăng dầu đồng loạt giảm ở cả 2 kỳ điều chỉnh trong tháng 9

Theo chu kỳ 15 ngày điều hành giá mặt hàng xăng dầu, trong tháng 9 Liên Bộ Công thương – Tài chính tiếp tục điều chỉnh mặt hàng này theo xu hướng giảm giá trên thị trường xăng dầu thế giới.

Tại kỳ điều chỉnh đầu tiên từ 15h chiều ngày 31/8, giá xăng dầu được công bố như sau: xăng RON95-III giảm 170 đồng/lít; Xăng E5RON92 giảm 135 đồng/lít; Dầu diesel 0.05S giảm 165 đồng/lít; Dầu hỏa giảm 69 đồng/lít; Dầu madút giảm 244 đồng/kg.

Như vậy, giá bán các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường không cao hơn mức giá: Xăng RON95-III không cao hơn 20.235 đồng/lít; Xăng E5RON92 không cao hơn 19.223 đồng/lít; Dầu diesel 0.05S không cao hơn 16.339 đồng/lít; Dầu hỏa không cao hơn 15.327 đồng/lít; Dầu madút không cao hơn 13.828 đồng/kg.

Tại kỳ điều hành này, Liên Bộ Tài chính - Công Thương cũng quyết định thực hiện giữ nguyên mức trích lập Quỹ bình ổn giá xăng dầu đối với xăng E5RON92 ở mức 100 đồng/lít; giảm mức trích lập Quỹ bình ổn giá xăng dầu đối với mặt hàng RON95 xuống mức 400 đồng/lít (kỳ trước là 500 đồng/lít), giữ nguyên mức trích lập Quỹ bình ổn giá xăng dầu đối với các loại dầu ở mức 500 đồng/lít/kg. Đồng thời, không chi sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu.

Tại kỳ điều hành thứ 2 trong tháng 9, cũng vào 15h chiều ngày 16/9, giá xăng dầu tiếp tục giảm nhẹ. Theo đó, Liên Bộ quyết định trích lập Quỹ Bình ổn giá xăng dầu đối với xăng E5RON92 ở mức 100 đồng/lít; trích lập Quỹ Bình ổn giá xăng dầu đối với các mặt hàng RON95 và các loại dầu ở mức 400 đồng/lít (kỳ trước là 500 đồng/lít/kg).

Sau khi thực hiện chi sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu như trên, giá xăng E5RON92 giảm 109 đồng/lít; xăng RON95-III: giảm 92 đồng/lít; dầu diesel 0.05S: giảm 139 đồng/lít; dầu hỏa tăng 35 đồng/lít; dầu mazut 180CST 3.5S: tăng 262 đồng/kg.

Như vậy, giá bán các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường không cao hơn mức giá:  Xăng E5RON92: không cao hơn 19.114 đồng/lít; Xăng RON95-III: không cao hơn 20.143 đồng/lít; Dầu diesel 0.05S: không cao hơn 16.200 đồng/lít; Dầu hỏa: không cao hơn 15.362 đồng/lít;  Dầu mazut 180CST 3.5S: không cao hơn 14.090 đồng/kg. 

Như vậy, kể từ đầu năm đến nay, giá xăng được điều chỉnh 17 lần với 7 lần tăng, 7 lần giảm và 3 lần giữ nguyên giá. 

GAS

Giá gas tháng 9/2019 tiếp tục neo ở mức 300.000 đồng/bình 12kg



Giá gas tháng 9/2019 đã được các đơn vị đầu mối kinh doanh công bố chiều 31/8 với mức giá không đổi so với tháng trước. 

Theo Công ty TNHH MTV Dầu khí TP.HCM (Saigon Petro), giá gas trong nước tháng 9/2019 giữ nguyên là do giá CP bình quân tháng 9 ở mức 365 USD/tấn, không tăng so với tháng trước đó. Với mức này, giá gas SP bán lẻ của Saigon Petro trong tháng 9/2019 ở mức 306.000 đồng bình 12kg và 1.183.000 đồng/bình 45 kg.

Với việc giữ nguyên giá so với tháng trước, gas Petrolimex loại 12kg (màu xám, đỏ, xanh lam, xanh lá) cũng được giữ ở mức 282.000 đồng/bình. Gas Petrolimex loại 13 kg: 296.300 đồng/bình.

Các công ty cho biết giá gas thế giới tháng 9 công bố 350 USD/tấn, giảm 10 USD/tấn so với tháng 8. Vì vậy các công ty điều chỉnh giảm tương ứng. 

Mặt khác, một số công ty gas cho biết, trong tháng 9 do các chi phí tăng như chi phí mua hàng tăng 20USD nếu cộng thêm chi phí này có thể mức giảm giá sẽ thấp hơn hoặc không giảm giá. Tuy nhiên, vì thị trường đang rất cạnh tranh nên hầu như các công ty “chấp nhận” giảm giá cho người tiêu dùng.

Như vậy, đây là tháng thứ 2 liên tiếp giá gas được giữ nguyên. Trước đó, giá gas tháng đầu năm 2019 được điều chỉnh tăng 4.000 đồng mỗi bình 12/kg, tháng 2 tăng 12.000 đồng/bình 12kg, tháng 3 tăng 17.000 đồng/bình 12kg, tháng 4 tăng 7.000 đồng/bình 12kg, tháng 5 tăng 2.000 đồng/bình 12 kg, tháng 6 giảm 33.000 đồng, tháng 7 giảm 19.000 đồng. Đến thời điểm này, mỗi bình gas 12 kg thấp hơn tháng 12/2018 khoảng 10.000 đồng.

Ô TÔ

Nhập khẩu ôtô đạt 2,4 tỷ USD từ đầu năm

Trong khi nhập khẩu xăng dầu, điện thoại giảm, lượng ôtô về Việt Nam lại tăng mạnh. Ước tính đến hết tháng 9, nhập khẩu ôtô nguyên chiếc các loại đạt 109.000 chiếc, trị giá 2,4 tỷ USD.

Theo Tổng cục Hải quan, lượng ôtô nhập về Việt Nam 9 tháng đầu năm tăng 167,8% về lượng và tăng 157% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Riêng trong tháng 9, nhập khẩu ôtô nguyên chiếc các loại được nhập khẩu ước đạt 13.000 chiếc, trị giá 260 triệu USD. So với tháng 8, con số này tăng 38,1% về lượng và tăng 24,4% về trị giá.

Chi tiết hơn, Tổng cục Hải quan còn cho biết nửa đầu tháng 9/2019 có hơn 6.100 ôtô được nhập về Việt Nam, tương đương bình quân hơn 400 xe mỗi ngày. Trong số này, dòng dưới 9 chỗ chiếm trên 80% lượng xe nhập về với khoảng 4.700 xe, với giá khai báo hải quan bình quân khoảng 400 triệu đồng, rẻ hơn khoảng 10 triệu đồng so với mức nhập hồi tháng 7. Lượng xe nhập tính đến 15/9 đã tăng hơn 200% so với cùng kỳ 2018 và gần 50% so với năm 2017.

Thị trường ôtô Việt đã bước qua giai đoạn thấp điểm nhất của tháng Ngâu với nhiều mẫu xe giảm kịch sàn xuống đáy. Kể từ 1/9, các hãng ôtô chỉ còn ưu đãi nhẹ ở mức hỗ trợ lệ phí trước bạ và tặng kèm phụ kiện. Hiện có 6 hãng xe đã bắt đầu triển khai các gói ưu đãi mới.

Đầu tiên phải kể đến là hãng Toyota Việt Nam với mức ưu đãi khá nhất thị trường, áp dụng cho 2 mẫu xe. Cụ thể, mẫu Toyota Fortuner được áp dụng nhận khuyến mãi với tổng giá trị dao động từ 60- 64 triệu đồng, áp dụng từ 3/9 – 31/10/2019.

Mẫu thứ hai là xe Innova được áp dụng hỗ trợ phí trước bạ 40 triệu đồng cho phiên bản 2.0E, phiên bản được ưa chuộng nhất của mẫu xe đa dụng này…

Các dự báo cho thấy, từ nay đến cuối năm, giá ô tô khó có thể tăng do nguồn cung vẫn nhiều. Theo Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam, thị trường ô tô 8 tháng đầu năm 2019 tăng trưởng trên 20% so với cùng kỳ. Đây là mức tăng trưởng khá cao. Tuy nhiên, xe không hề khan hiếm mà còn dư thừa. Nhiều doanh nghiệp có xe tồn từ đầu năm vẫn chưa tiêu thụ hết, do đó từ nay đến Tết giá xe khó tăng như mọi năm.

Ngoài ra, quy định nhập khẩu ô tô dự kiến sẽ thay đổi theo hướng thông thoáng hơn, xe nhập có thể về nước với số lượng lớn mà chi phí thấp hơn sẽ giúp giảm giá xe. Một số doanh nghiệp cho hay, thay quy định kiểm tra theo lô hiện nay bằng kiểm tra theo kiểu loại, xe nhập khẩu về Việt Nam có thể đạt mỗi tháng hơn 15.000 chiếc, trong đó chủ yếu từ Thái Lan và Indonesia. Xe nhập khẩu về nhiều, giá giảm thì xe trong nước muốn cạnh tranh cũng phải giảm giá theo.

Vì vậy, từ nay đến cuối năm giá xe khó tăng. Giá xe chỉ tăng khi đề xuất tăng thuế tiêu thụ đặc biệt của các cơ quan chức năng trở thành hiện thực. Khi đó, giá xe nhập khẩu chắc chắn sẽ tăng. Tuy nhiên, điều này khó thành hiện thực trong năm 2019. Bởi, các doanh nghiệp sẽ còn tung ra nhiều mẫu xe mới cùng các chương trình khuyến mãi hấp dẫn để kích cầu khách hàng.

Về tình hình tiêu thụ trên thị trường, trong báo cáo mới nhất của Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), trong tháng 8/2019, các đơn vị thành viên VAMA bán ra 21.483 xe, trong đó phân khúc xe du lịch đạt 15.228 chiếc (giảm 21% so với tháng trước); phân khúc xe thương mại 5.964 chiếc (giảm 12%) và phân khúc xe chuyên dụng đạt 291 chiếc (giảm tới 37%).

Về xuất xứ xe, doanh số bán của xe lắp ráp trong nước đạt 12.594 xe, giảm 18% còn doanh số của xe nhập khẩu nguyên chiếc là 8.889 xe, giảm 22% so với tháng trước.

Tính chung, tổng doanh số bán hàng của các đơn vị thành viên VAMA trong 8 tháng năm 2019, tăng 20% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, xe ôtô du lịch tăng 31%, xe thương mại giảm 1,6% và xe chuyên dụng giảm 28% so với cùng kỳ năm trước.

Tuy nhiên, nếu nhìn về bức tranh toàn cục của cả thị trường thì doanh số thị trường ô tô Việt Nam vẫn có những tín hiệu mừng khi số lượng xe nhập khẩu trong 8 tháng đầu năm đã tăng 232,9% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi số lượng xe lắp ráp trong nước lại có xu hướng đảo chiều, giảm 14%. Dự báo, bước sang quý 4 trở đi, tình hình tiêu thụ ô tô sẽ có nhiều cải thiện bởi bắt đầu vào mùa mua sắm cuối năm của thị trường. 

THỦY SẢN 

Cá tra nguyên liệu mất gần 40% giá so với cùng kỳ năm 2018

 

Còn nhớ cùng thời điểm này năm 2018, giá cá tra nguyên liệu tại các vùng ĐBSCL đang ở mức cao trong 10 năm trở lại đây. Với mức giá khoảng từ 34.000- 36.000 đồng/kg, người nuôi cá tra thắng lớn nhờ được giá.  Từ đó, kim ngạch xuất khẩu cá tra năm 2018 đạt 2,26 tỷ đồng, tăng 26,5%. Tuy nhiên, qua 9 tháng đầu năm 2019, tình hình cá tra khá ảm đạm… 

Chiều 16-9, Sở NN-PTNT các tỉnh ĐBSCL cho biết, giá cá tra nguyên liệu tiếp tục duy trì ở mức khá thấp, bất lợi cho người nuôi và doanh nghiệp xuất khẩu. Tuy nhiên, nếu so sánh với thời điểm đầu tháng 8, giá cá tra nguyên liệu tại TP Cần Thơ và nhiều tỉnh vùng ĐBSCL trong tháng 9 đã tăng nhẹ khoảng 500-1.000 đồng/kg. Cụ thể, giá cá tra kích cỡ 700-900gr/con tại nhiều quận, huyện ở TP Cần Thơ và các tỉnh An Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp… đang ở mức 20.000-21.500 đồng/kg.

Theo nhiều hộ dân nuôi cá tra ở TP Cần Thơ, giá cá tra có tăng nhẹ nhưng vẫn ở dưới giá thành sản xuất nên người nuôi cá tra tiếp tục bị lỗ nặng. Hiện giá thành nuôi cá tra thương phẩm đang ở mức từ 23.700-24.500 đồng/kg. Thời điểm này, nhiều hộ nuôi cá tra phải áp dụng giải pháp cho cá ăn cầm chừng để chậm thu hoạch, chờ giá tăng. Riêng đối với những ao đã thu hoạch, người dân chậm thả nuôi mới hoặc nuôi với mật độ thấp so với lúc giá cá tra ở mức cao.

 Ông Cao Lương Tri, một hộ nuôi cá tra lâu năm ở huyện Chợ Mới (An Giang) than thở: “Nếu như năm trước người nuôi cá tra có lãi nhiều thì năm 2019 này xem như thua trắng. Gia đình tôi còn khoảng 500 tấn cá tra nguyên liệu dù tới ngày thu hoạch nhưng chưa thể bán do giá quá thấp, lỗ từ 3.000- 5.000 đồng/kg”. Nguyên nhân khiến cá tra nguyên liệu giảm thê thảm là do tình hình xuất khẩu từ đầu năm 2019 đến nay khó khăn, trong đó thị trường Hoa Kỳ giảm hơn 50% trong 8 tháng đầu năm 2019.

Trước tình hình trên, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam dự báo cả năm 2019, kim ngạch xuất khẩu cá tra ước khoảng 2,23 tỷ USD, khó có thể đạt kế hoạch mà Bộ NN-PTNT đề ra là 2,4 tỷ USD.  

Xuất khẩu tôm giảm nhẹ trong tháng 8/2019 

Sau khi tăng trong tháng 7/2019, XK tôm Việt Nam trong tháng 8/2019 giảm nhẹ 1,6% đạt 352,9 triệu USD. Tám tháng đầu năm 2019, giá trị XK đạt 2,1 tỷ USD, giảm 7% so với cùng kỳ năm 2018. Mặc dù XK chưa tăng nhưng tốc độ giảm đã thấp hơn những tháng trước đó. XK tôm dự báo sẽ chuyển biến tích cực hơn trong những tháng cuối năm. 

Nhu cầu thị trường nhích lên, sản lượng tôm trong nước tăng, giá tôm trong nước và thế giới được cải thiện, tạo đà cho XK tôm những tháng cuối năm. Sau một tháng thị trường tôm xuất khẩu ảm đạm, hiện các loại tôm thẻ nguyên liệu cỡ lớn đều có giá bán tăng. Tại Sóc Trăng, giá niêm yết của 2 DN chế biến thủy sản xuất khẩu thu mua tôm thẻ nguyên liệu, loại A1, cỡ 20 - 30 - 40 con/kg tăng cao. Tôm cỡ 30 con/kg giá 168.000 đồng/kg (so với đầu tháng 8/2019 giá 160.000 đồng/kg). Tôm 40 con/kg giá 146.000 đồng/kg (so với đầu tháng 8/2019 giá 137.000 đồng/kg).

Trong khi các loại tôm sú và tôm thẻ cỡ nhỏ vẫn đứng mức cao tương đương cùng kỳ tháng trước. Nguyên do tôm thẻ bật tăng giá mạnh trở lại được các doanh nghiệp trong ngành hàng tôm phân tích: Ấn Độ từng được xem là vựa tôm cỡ lớn mấy năm qua. Tuy nhiên, năm nay tôm nuôi ở Ấn Độ hiện bị bệnh phân trắng diện rộng, khiến tôm không lớn và thiệt hại. Từ đó dẫn tới  thiếu tôm cỡ lớn và sản lượng tôm nuôi dự kiến giảm 30%. Nhiều khách hàng đã chuyển qua tìm mua tôm từ Việt Nam. Do đó tôm cỡ lớn lên giá. Giá bán tôm cỡ lớn hiện tăng khoảng 1 USD/kg cho các phiếu mới. 

Tháng 8/2019, XK tôm sang thị trường NK tôm lớn nhất của Việt Nam là EU đạt 74,8 triệu USD, giảm 16,3% so với tháng 8/2018. Trong 3 thị trường NK chính tôm Việt Nam trong khối EU (Anh, Hà Lan, Đức), XK sang Đức tăng 14% trong khi XK sang Anh và Hà Lan giảm lần lượt 25,8% và 18,3%. Lũy kế 8 tháng đầu năm nay, XK tôm sang EU đạt 452,4 triệu USD, giảm 20,5% so với cùng kỳ năm ngoái.

Tiếp nối đà tăng trưởng dương trong tháng 7/2019, XK tôm Việt Nam sang Mỹ trong tháng 8/2019 tăng 3,8% đạt 84,7 triệu USD. Đây là tháng thứ 4 liên tiếp, XK tôm Việt Nam sang Mỹ ghi nhận mức tăng trưởng dương sau khi giảm liên tục từ đầu năm. Mỹ vươn lên thành thị trường NK tôm lớn thứ 2 của Việt Nam sau EU, chiếm 19,4% tổng giá trị XK tôm của Việt Nam đi các thị trường.

Bộ Thương mại Mỹ (DOC) mới đây công bố kết quả cuối cùng của đợt rà soát hành chính lần thứ 13 (POR 13) về thuế chống bán phá giá tôm Việt Nam vào Mỹ với 31 doanh nghiệp được hưởng mức thuế 0%. Thông tin tích cực này giúp tăng khả năng cạnh tranh của tôm Việt Nam trên thị trường Mỹ so với Ấn Độ và Indonesia trong thời gian tới.

CÀ PHÊ

Xuất khẩu cà phê ảm đạm trong nửa đầu tháng 9/2019



Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết, giá cà phê Robusta trong nước phục hồi theo đà tăng của thị trường cà phê thế giới. Cụ thể, ngày 11/9/2019, giá cà phê Robusta tăng từ 0,9 - 1,9% so với ngày 30/8/2019, tăng từ 2,1 - 3,4% so với ngày 12/8/2019. Ngày 11/9/2019, giá cà phê Robusta tại thị trường nội địa phổ biến từ mức 32.800 đồng/kg – 33.900 đồng/kg. Tại các kho quanh khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, giá cà phê Robusta R1 ở mức 35.100 đồng/kg, tăng 1,4% so với ngày 30/8/2019 và tăng 2,9% so với ngày 12/8/2019.

 

2 tuần giữa tháng 9/2019, giá cà phê Robusta tại thị trường nội địa biến động không đồng nhất, tăng/giảm tùy từng địa phương. Ngày 23/9/2019, giá cà phê Robusta tại tỉnh Lâm Đồng tăng 0,3% so với ngày 10/9/2019, nhưng ổn định so với ngày 31/8/2019, giao dịch ở mức 32.400 – 32.500 đồng/kg. 

Tại Đắk Hà, tỉnh Kon Tum, giá cà phê Robusta giao dịch ở mức 33.600 đồng/kg, tăng 0,3% so với ngày 10/9/2019, nhưng giảm 0,3% so với ngày 31/8/2019. Tại các kho quanh khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, giá cà phê Robusta loại R1 giao dịch ở mức 34.700 đồng/kg, tăng 0,3% so với ngày 10/9/2019, nhưng giảm 0,6% so với ngày 31/8/2019.

Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, xuất khẩu cà phê trong nửa đầu tháng 9/2019 đạt 38,7 nghìn tấn, trị giá 67,91 triệu USD, giảm 35,1% về lượng và giảm 34,3% về trị giá so với 15 ngày cuối tháng 8/2019, so với 15 ngày đầu tháng 9/2018 giảm 34,7% về lượng và giảm 33,7% về trị giá. Lũy kế từ đầu năm đến giữa tháng 9/2019, xuất khẩu cà phê đạt 1,211 triệu tấn, trị giá 2,073 tỷ USD, giảm 12,6% về lượng và giảm 21,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. 

Giá xuất khẩu bình quân cà phê trong nửa đầu tháng 9/2019 đạt mức 1.753 USD/tấn, tăng 1,2% so với nửa cuối tháng 8/2019 và tăng 1,4% so với nửa đầu tháng 9/2018. Lũy kế từ đầu năm đến giữa tháng 9/2019, giá xuất khẩu bình quân cà phê đạt mức 1.711 USD/tấn, giảm 10,2% so với cùng kỳ năm 2018.

HẠT TIÊU

Giá hạt tiêu giảm trong tháng 9

Vào sáng 30/9, giá hạt tiêu trong nước ghi nhận mức giá cao nhất là 42.500 đồng/kg tại Bà Rịa - Vũng Tàu, thấp nhất 39.000 đồng tại Đồng Nai. Giá tiêu tại Bình Phước, Đắk Nông (Gia Nghĩa) và Đắk Lắk (Ea H'leo) ổn định ở mức 41.500 đồng/kg. Giá tiêu tại Gia Lai đứng ở mức 39.000 đồng/kg.

Riêng giá tiêu tại Đồng Nai phục hồi tăng giảm 500 đồng/kg lên mức 39.000 đồng/kg. Đây là mức giá thấp tại các tỉnh trồng tiêu trọng điểm Tây Nguyên và miền Nam.

Còn tại thời điểm đầu tháng 9, giá tiêu tại các tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đứng ở ngưỡng 45.000 đồng/kg. Trong khi đó, giá tiêu tại Đắk Nông (Gia Nghĩa), Đắk Lắk (Ea H'leo) ổn định ở mức 44.000 đồng/kg. Như vậy, trong tháng 9, giá hồ tiêu tiếp tục giảm mạnh, khiến cho đời sống người trồng tiêu càng trở nên khó khăn hơn. Nguyên nhân chính khiến cho giá hạt tiêu trong nước giảm như trên là do áp lực dư cung trên thị trường thế giới tiếp tục tăng khi hai nước sản xuất lớn gồm Indonesia và Brazil đã bước vào vụ thu hoạch, và tồn kho của các nước sản xuất lớn vẫn còn nhiều.

Đánh giá của Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công thương cho thấy, năm 2019 là năm rất khó khăn với ngành hồ tiêu Việt Nam khi giá bán giảm, tăng trưởng chậm so với cùng kỳ.

Theo đó, Việt Nam hiện có khoảng 100.000 ha hồ tiêu cho thu hoạch với năng suất trung bình khoảng 24,7 tạ/ha, tương đương sản lượng khoảng 247.000 tấn. Tuy nhiên, trong khi giá hồ tiêu vẫn ở mức rất thấp thì chi phí sản xuất lại có chiều hướng tăng, ít nhất 10% so với năm 2017.

Đây cũng là lý do khiến trong 8 tháng đầu năm 2019, Việt Nam dù đã xuất khẩu tiêu đạt 224.000 nghìn tấn, tăng 27,9% so với cùng kỳ, nhưng kim ngạch lại giảm nhẹ 2,1% và chỉ đạt 571 triệu USD, do giá xuất khẩu giảm 23,4%.

Cục Xuất nhập khẩu phân tích thêm: 5 năm trước đây, hạt tiêu Việt Nam dẫn đầu thế giới về năng suất và sản lượng. 2 năm trở lại đây, nhiều quốc gia như Brazil, Ấn Độ, Indonesia trở thành đối thủ cạnh tranh với Việt Nam về sản lượng cũng như chất lượng. Trong đó, đáng quan tâm nhất là hạt tiêu Brazil có chất lượng tốt hơn với 80% lượng bán ra thị trường thế giới đạt tiêu chuẩn hữu cơ. Tuy nhiên, riêng ở Việt Nam, chất lượng một phần hạt tiêu bị ảnh hưởng từ việc sử dụng hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật quá mức nên giá giảm hơn so với hạt tiêu một số quốc gia khác.

HẠT ĐIỀU  

Xuất khẩu hạt điều sang các thị trường chính đồng loạt tăng mạnh



Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết, trong tháng 8/2019, xuất khẩu hạt điều đạt 46 nghìn tấn, trị giá 312,65 triệu USD, tăng 3,8% về lượng và tăng 3,4% về trị giá so với tháng 7/2019, so với tháng 8/2018 tăng 31,9% về lượng và tăng 5% về trị giá. Lũy kế 8 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu hạt điều đạt xấp xỉ 286 nghìn tấn, trị giá 2,104 tỷ USD, tăng 18,3% về lượng, nhưng giảm 7,6% về trị giá so với 8 tháng đầu năm 2018.

Tháng 8/2019, giá xuất khẩu bình quân hạt điều đạt mức 6.785 USD/tấn, giảm 0,4% so với tháng 7/2019 và giảm 20,4% so với tháng 8/2018. Lũy kế 8 tháng đầu năm 2019, giá xuất khẩu bình quân hạt điều đạt mức 7.359 USD/tấn, giảm 21,7% so với 8 tháng đầu năm 2018.

 

Trong tháng 8/2019, giá xuất khẩu bình quân hạt điều sang một số thị trường tăng so với tháng 7/2019, bao gồm: Hồng Kông tăng 3,3%, Singapore tăng 11,2%, Israel tăng 1,5%, Irắc tăng 0,8%, Trung Quốc tăng 2,4%, Bỉ tăng 4,9%, Đức tăng 2,5%, Tây Ban Nha tăng 0,5%; giá xuất khẩu bình quân hạt điều sang Hy Lạp giảm 1,8%, Đài Loan giảm 7,3%, Pháp giảm 4,7%, Mỹ giảm 1,6%.

Lũy kế 8 tháng đầu năm 2019, giá xuất khẩu bình quân hạt điều sang Hồng Kông đạt mức cao nhất 10.076 USD/tấn, giảm 11,6%. Trong khi đó, giá xuất khẩu bình quân hạt điều sang Mỹ đạt 7.210 USD/tấn, giảm 23,6%, Đức đạt 7.684 USD/tấn, giảm 22% so với 8 tháng đầu năm 2018.

 

Theo Cục Xuất nhập khẩu, căng thẳng thương mại giữa Mỹ-Trung Quốc đã giúp xuất khẩu hạt điều sang Trung Quốc tăng mạnh. Chính phủ Trung Quốc quyết định ngừng nhập khẩu nhiều mặt hàng nông sản từ Mỹ sẽ khiến nhập khẩu các loại hạt từ Mỹ vào Trung Quốc giảm. Để bù đắp sự thiếu hụt các loại hạt nhập khẩu từ Mỹ, Trung Quốc có khả năng sẽ tiếp tục tăng nhập khẩu hạt điều từ Việt Nam trong những tháng tới. Nhu cầu thị trường châu Âu trong các tháng tới cũng tăng theo chu kỳ, nhưng sẽ không có hiện tượng mua ồ ạt. Tuy nhiên, đồng NDT giảm giá sẽ khiến giá hạt điều nhập khẩu vào thị trường Trung Quốc cao hơn so với trước đó, phần nào ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của hạt điều Việt Nam. Bên cạnh đó, các nhà rang chiên hạt điều lớn của Mỹ và EU đều khẳng định sắp tới sẽ áp dụng thêm một số tiêu chuẩn an toàn thực phẩm và sẽ kiểm tra kỹ hơn dư lượng hóa chất cấm trong nguyên liệu. Cục Xuất nhập khẩu dự báo giá hạt điều nhân và hạt điều thô sẽ ổn định hoặc tăng nhẹ trong thời gian tới.

CAO SU

Xuất khẩu cao su giảm mạnh trong nửa đầu tháng 9/2019



Ngày 23/9/2019, tại Đắk Lắk giá thu mua mủ nước tại vườn và tại nhà máy giảm 2 đ/ độ TSC so với ngày 10/9/2019, nhưng tăng 13 - 18 đ/độ TSC so với cuối tháng 8/2019, giao dịch lần lượt ở mức 243 đ/độ TSC và 258 đ/ độ TSC, theo báo cáo mới nhất của Cục XNK – Bộ Công thương.

Còn theo thống kê của Tổng cục Hải quan, trong 15 ngày đầu tháng 9/2019, xuất khẩu cao su đạt 72,11 nghìn tấn, trị giá 94,27 triệu USD, giảm 27% về lượng và giảm 28,7% về trị giá so với 15 ngày trước đó; giảm 6,5% về lượng và giảm 4,9% về trị giá so với 15 ngày đầu tháng 9/2018.

Tính từ đầu năm đến hết ngày 15/9/2019, xuất khẩu cao su đạt 1,03 triệu tấn, trị giá 1,41 tỷ USD, tăng 8,4% về lượng và tăng 6,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Giá xuất khẩu cao su trung bình 15 ngày đầu tháng 9/2019 ở mức 1.307 USD/tấn, giảm 2,4% so với mức giá xuất khẩu trung bình 15 ngày trước đó, nhưng tăng 1,8% so với cùng kỳ năm 2018.

 

Trên thị trường thế giới, sau khi tăng trưởng khả quan, giá cao su trên thị trường giảm trong những phiên giao dịch gần đây do căng thẳng thương mại Mỹ - Trung Quốc lại có dấu hiệu gia tăng, gây quan ngại về triển vọng kinh tế toàn cầu và giá dầu thô giảm cũng có tác động bất lợi đến giá cao su tự nhiên. Cùng với đó, thị trường cao su còn chịu áp lực bởi sự trì trệ của thị trường ô tô. 

(TTGCVT /T.Hiền tổng hợp)  

 

Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (024) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (024) 39762593 
Email:ttgcvattu1989@gmail.com