Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Thị trường hàng hóa nguyên liệu trong nước tháng 7/2019
Cập nhật: 1-8-2019

VÀNG 

Giá vàng đang rất rủi ro!


Sau nhiều năm ngủ đông, giá vàng đã có những cú bật tăng kinh ngạc trong thời gian gần đây. Có thể thấy chỉ trong 2 tháng qua, giá vàng SJC có thời điểm đã tăng tới 3,65 triệu đồng/lượng và đang đứng ở mức cao nhất trong hơn 6 năm qua.

Trong tháng 7, một mốc dấu đáng chú ý nhất đối với thị trường vàng trong nước đó là diễn biến giá vàng ngày 19-7, vàng đã bất ngờ tăng vọt lên trên 40 triệu đồng/lượng, cao nhất trong nhiều năm trở lại đây. Ông Nguyễn Hoàng Minh, Phó Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh TP HCM cho biết, đang theo dõi sát diễn biến trên thị trường vàng và biến động của tỉ giá. "Giá vàng trong ngày vượt 40 triệu đồng/lượng nhưng thị trường vẫn ổn định. Tỉ giá và giá vàng trong nước không có quá nhiều đột biến về giao dịch. Chúng tôi sẽ tiếp tục theo sát giá vàng và tỉ giá để kiến nghị giải pháp kịp thời" - ông Minh khẳng định.

Trên thị trường, ngay từ sáng sớm 19-7, giá vàng SJC tại TP HCM đã nhảy vọt lên 39,75 triệu đồng/lượng mua vào, 40,05 triệu đồng/lượng bán ra, tăng khoảng 650.000 đồng/lượng so với cuối ngày hôm trước. Một số nơi bán vàng tới 40,15 - 40,2 triệu đồng/lượng, sau đó hạ nhiệt dần vào buổi chiều. Cuối ngày, giá vàng SJC tại Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) chốt ở mức 39,6 triệu đồng/lượng mua vào và 39,92 triệu đồng/lượng bán ra.

Trong khi đó, giá vàng miếng tại Doji lại được niêm yết rất cao, 39,6 triệu đồng/lượng mua vào và 40,5 triệu đồng/lượng bán ra. Tương tự, PNJ báo giá mua vàng SJC 39,5 triệu đồng/lượng nhưng bán ra tới 40,15 triệu đồng/lượng.

Dù giá vàng tăng mạnh nhưng theo ghi nhận tại một số doanh nghiệp vàng lớn ở TP HCM, lượng giao dịch không tăng đột biến. Tại trụ sở SJC ở quận 3 sáng 19-7, nhân viên cho biết lượng giao dịch có nhộn nhịp hơn nhưng không tăng đáng kể so với mấy ngày qua và chủ yếu là khách hàng đi bán vàng.  

Ông Trần Thanh Hải, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Đầu tư và Kinh doanh vàng Việt Nam, nhận định vàng trong nước đã hình thành mặt bằng giá mới quanh vùng 39-40 triệu đồng/lượng so với trước. Hiện nhà đầu tư đang chờ đợi tin tức về cuộc họp của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) ngày 30 và 31-7. Nếu FED hạ lãi suất USD như dự đoán, giá vàng sẽ còn tăng mạnh. Ông Trần Thanh Hải cho rằng những người có tiền nhàn rỗi có thể mua vàng nhưng người đang có khoản đầu tư ở các kênh khác không nên chuyển sang vì rất rủi ro.

Chuyên gia tài chính, TS Bùi Quang Tín cũng nhận xét vàng không còn là kênh đầu tư phổ biến của nhiều người do rủi ro cao. Hiện chỉ những nhà đầu tư lớn, hiểu về kỹ thuật mới dám "nhảy" vào. Nhưng, thời gian tới, nếu giá vàng tiếp tục tăng mạnh bỏ xa vùng 40 triệu đồng/lượng có thể nhà đầu tư nhỏ lẻ trong nước sẽ mua vàng nhiều hơn. "Ngân hàng Nhà nước cần có động thái liên quan đến kiểm soát, ổn định thị trường vàng trong trường hợp đột biến, bởi giá vàng tăng mạnh sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tỉ giá, lãi suất, từ đó tác động tới lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô" - TS Bùi Quang Tín nhận định.

ĐÔ LA

Tỷ giá trung tâm đạt mức cao nhất kể từ đầu năm đến nay

Dù không có nhiều biến động như vàng, thị trường kinh doanh ngoại hối tháng 7/2019 đã diễn ra với những dấu ấn riêng. Nhìn chung trong cả tháng 7, xu hướng chủ đạo của tỷ giá trung tâm là tăng dần về thời điểm cuối tháng. Dưới sự ảnh hưởng lớn của diễn biến đồng đô la trên thị trường thế giới cùng với những tác động của các sự kiện địa chính trị, NHNN đang cho thấy sự bám sát và điều chỉnh linh hoạt đối với thị trường ngoại tệ. 

Điểm lại những diễn biến chính qua các tuần. Trong tuần đầu tiên, tỷ giá trung tâm có mức cao nhất là 23.061 đồng/USD. Vào sáng 5/7, đa số các ngân hàng thương mại giữ tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ gần như không đổi so với cuối giờ phiên liền trước, phổ biến ở mức 23.190 đồng (mua) và 23.310 đồng (bán). 

Bước sang tuần 2, tỷ giá trung tâm có 2 phiên tăng và 3 phiên giảm với mức cao nhất tuần là 23.079 đồng/USD và mức thấp nhất là 23.059 đồng/USD. Tại các NHTM, nhìn chung giá giao dịch USD ổn định và có xu hướng giảm nhẹ vào gần cuối tuần. Tới đầu giờ sáng 12/7, đa số các ngân hàng thương mại giữ tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ không đổi so với cuối giờ phiên liền trước, phổ biến ở mức 23.140 đồng (mua) và 23.260 đồng (bán).

Trung tuần tháng 7, tỷ giá trung tâm tăng giảm xen kẽ qua các phiên, dao động ở khoảng từ 23.062 – 23.072 đồng/USD. Tại các NHTM, giá giao dịch USD biến động nhẹ. Vào đầu giờ sáng 19/7, giá giao dịch USD tại các ngân hàng phổ biến ở mức 23.185 đồng (mua) và 23.305 đồng (bán).

Trong phiên giao dịch hôm 29/7 và 30/7, tỷ giá trung tâm được NHNN điều chỉnh tăng lên 23.085 đồng/USD, cao nhất kể từ đầu năm đến nay. So với ngày 12/7 - ngày tỷ giá bắt đầu xu hướng đi lên - tỷ giá trung tâm đã tăng 24 đồng/USD; nhưng so với thời điểm cuối tháng 6, tỷ giá trung tâm cũng tăng 19 đồng/USD.

Trong khi đó, giá mua bán USD tại các ngân hàng chỉ nhích rất nhẹ trong thời gian này. Theo đó, trong phiên ngày 29/7, giá mua vào USD của các nhà băng phổ biến trong khoảng 23.150 – 23.160 đồng/USD, trong khi giá bán ra phổ biến trong khoảng 23.270 – 23.280 đồng/USD; tức chỉ tăng nhẹ 10 đồng so với thời điểm giữa tháng 7. Thậm chí so với thời điểm cuối tháng 6, giá mua bán USD của các ngân hàng còn giảm tới 80 - 85 đồng/USD.

Giá USD chợ đen cũng giảm khá mạnh so với cuối tháng 6. Theo đó, trong phiên ngày 29/7, giá USD tự do niêm yết ở mức mua vào là 23.190 đồng/USD và bán ra là 23.210 đồng/USD, giảm 80 đồng ở chiều mua và giảm 85 đồng ở chiều bán so với thời điểm cuối tháng 6.

Giải thích lý do dẫn tới xu hướng tăng của tỷ giá trung tâm trong 2 tuần gần đây, một chuyên gia ngân hàng cho biết là do đồng USD trên thị trường thế giới. Trái với dự báo của nhiều chuyên gia là USD sẽ sụt giảm sau khi Fed phát đi tín hiệu sẽ cắt giảm lãi suất, đồng bạc xanh lại bật tăng khá mạnh trong 2 tuần gần đây. Nguyên nhân chủ yếu do nhiều NHTW lớn khác cũng phát tín hiệu sẽ nới lỏng thêm tiền tệ đẩy các đồng tiền chủ chốt khác suy yếu. Vì lẽ đó, chỉ số đồng USD đã bật tăng mạnh từ mức 96,8 điểm của ngày 12/7 lên 98,1 điểm trong phiên ngày 29/7 (tương đương với mức tăng 1,34%).

Thế nhưng, tỷ giá trên thị trường lại chịu ảnh hưởng lớn của yếu tố cung - cầu ngoại tệ. “Tỷ giá thị trường giảm là do nguồn cung ngoại tệ trong nền kinh tế hiện đang rất dồi dào”vị chuyên gia trên cho biết và dẫn chứng: cán cân thương mại ước thặng dư 1,8 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm, trong khi giải ngân vốn FDI đạt tới 10,6 tỷ USD. Đó là chưa kể giải ngân vốn ODA, nguồn thu từ du lịch, kiều hối…

“Chỉ trong 4 tháng đầu năm nay, NHNN đã mua được 8,35 tỷ USD bổ sung cho quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia. Con số mua ròng ngoại tệ đến thời điểm này còn có thể cao hơn nhiều” - vị chuyên gia này cho biết.

Nhìn chung, tỷ giá 7 tháng đầu năm là khá ổn định, bất chấp những biến động tiêu cực từ bên ngoài. Theo đó, tính chung từ đầu năm đến nay, tỷ giá trung tâm tăng 260 đồng/USD, tương đương tăng 1,14%. Thế nhưng, hiện giá mua vào USD của các ngân hàng chỉ tương đương với thời điểm cuối năm 2018, trong khi giá bán ra chỉ tăng nhẹ khoảng 20 – 25 đồng/USD (tương đương với mức tăng khoảng 0,1%).

Theo Công ty chứng khoán bảo Việt (BVSC), động thái điều chỉnh tăng tỷ giá trung tâm liên tục kể từ đầu năm đến nay của NHNN mang tính “làm mềm” giúp tỷ giá trung tâm gần tiệm cận với tỷ giá giao dịch thực tế cũng như tạo ra “khoảng đệm”, tránh việc tỷ giá vượt ra mức trần trong trường hợp có thông tin mang tính biến động mạnh ngoài dự báo.

THÉP XÂY DỰNG

Giá thép không có biến động trong tháng 7/2019

Trên bình diện giá cả, giá sắt thép xây dựng đầu tháng 07/2019 trong nước có xu hướng tăng nhẹ, nhưng nhìn chung nằm trong thế bình ổn so với tháng 06/2019. Mặc dù dự đoán xu hướng tăng giá từ cuối tháng 4/2016 do nguyên nhân giá điện và xăng dầu tăng cao, dẫn đến tăng chi phí đầu vào cho các nhà máy sản xuất thép. Nhưng xu hướng tăng đã không xảy ra đúng theo kịch bản do giá nguyên liệu phôi đầu vào giảm xuống, cùng với sức cầu trên thị trường không có biến động là nguyên nhân khiến cho việc tăng giá không diễn ra như dự đoán. Có thể xu hướng tăng giá sẽ xảy ra muộn hơn đôi chút khi mà tháng 9 giá nhiên liệu có khả năng tiếp tục tăng. Bên cạnh đó việc tổng cầu thép sẽ tăng do các dự án đang tích cực triển khai vào 2 quý cuối năm sẽ đẩy sức cầu tăng mạnh.

Trong tháng 7, giá bán tại các nhà máy ở mức khoảng từ 12.200 – 14.500 đồng/kg (giá giao nhà máy, chưa bao gồm 10% VAT, chiết khấu bán hàng).Giá thép xây dựng bán lẻ phổ biến tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung dao động ở mức 12.800 – 15.600 đồng/kg. Tại các tỉnh miền Nam, giá thép dao động ở mức 13.000 – 15.500 đồng/kg. Thị trường tiêu thụ với định mức ổn định và nguồn cung đảm bảo của các nhà máy sản xuất thép 

Theo báo cáo triển vọng ngành thép năm 2019 mới được VCBS công bố cho biết, trong năm 2019, khả năng giá thép giảm sâu xuống dưới 12 triệu đồng/tấn là khá thấp do thuế tự vệ bổ sung vẫn còn kéo dài tới hết tháng 3/2020, thép phế liệu vẫn duy trì ở mức khá cao (350 USD/tấn) so với giai đoạn 2015-2017 (250 – 300 USD/tấn) cùng với việc bị siết chặt nhập khẩu dẫn tới các nhà sản xuất từ lò điện sẽ có xu hướng nhập phôi đang giảm giá từ Trung Quốc về để cán.

Trong kịch bản giá nguyên liệu đi ngang ở thời điểm hiện tại, VCBS ước tính điểm hòa vốn các doanh nghiệp này sẽ ở mức khoảng 12,035 triệu đồng/tấn, đây được xác định là mức giá tối thiểu của thị trường Việt Nam.

Cũng tại báo cáo, VCBS nhận định, sản lượng tiêu thụ thép tiếp tục tăng trưởng do đầu tư công đẩy mạnh trong giai đoạn 2019 đặc biệt các dự án đầu tư vào cơ sở hạ tầng là thiết yếu trong sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Theo đó, nhu cầu đối với sản phẩm xây dựng cơ bản như thép vẫn ở mức cao. Bộ Công thương dự báo tiêu thụ thép sẽ tiếp tục tăng trưởng với tốc độ 15%/năm cho tới năm 2020.

Về tình hình xuất khẩu mặt hàng này, với kim ngạch tăng trưởng hai tháng liên tiếp, xuất khẩu sản phẩm từ sắt thép đã thu về trên 1 tỷ USD và lọt vào TOP những mặt hàng đạt kim ngạch tỷ USD trong nửa đầu năm 2019.

XI MĂNG

Hỗ trợ giá bán để ổn định thị trường



Theo Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) tháng 7/2019 là thời điểm bước vào mùa mưa bão, nhu cầu tiêu thụ giảm mạnh, lượng tiêu thụ xi măng của toàn ngành xi măng khoảng gần 6 triệu tấn. Mức giá tại các máng xuất của các Công ty xi măng thuộc Tổng Công ty xi măng đối với loại PCB 40 từ 0,99 - 1,625 triệu đồng/tấn, xi măng PCB 30 từ 0,988 - 1,23 triệu đồng/tấn.

6 tháng đầu năm, các Công ty xi măng đã thực hiện kê khai tăng giá 1 lần vào ngày 20/3 với mức tăng dao động từ 10.000 - 60.000 đồng/tấn tùy chủng loại. Ngoài đợt tăng giá trên, có hai Công ty gồm Xi măng Bỉm Sơn và Xi măng Bút Sơn kê khai điều chỉnh tăng giá lần 2 vào tháng 5/2019 với mức tăng 30.000 đồng/tấn.

Sang tháng 7, nhằm hỗ trợ giá bán cũng như ổn định lại thị trường xi măng, một số doanh nghiệp sản xuất xi măng tiếp tục đưa ra những chính sách giảm giá bán xi măng cho các nhà phân phối, đại lý. Đơn cử như Công ty CP Xi măng Xuân Thành  áp dụng chương trình “Chiết khấu thương mại” đối với sản phẩm xi măng bao với số tiền 30.000 đồng/ tấn (không áp dụng đối với các nhà phân phối lấy xi măng xuất khẩu), giá trên đã bao gồm VAT. Hoặc công ty Xi măng Long Sơn cũng áp dụng chương trình chiết khấu bán hàng 30.000 đồng/ tấn (đã bao gồm 10% VAT) đối với các sản phẩm xi măng bao PCB30, PCB40 (Long Sơn, Tam Sơn), không áp dụng đối với sản phẩm xi măng rời bắt đầu từ ngày 11– 15/07/2019…

XĂNG DẦU

Giá xăng dầu tăng ở cả hai kỳ điều chỉnh

Để bảo đảm giá xăng dầu trong nước có sự điều chỉnh phù hợp với xu hướng giá thị trường thế giới, ổn định kinh tế vĩ mô; căn cứ tình hình địa chính trị trên thế giới phức tạp, khó lường và tình hình thực tế của Quỹ bình ổn giá, trong 2 kỳ điều hành trong tháng 7/2019 là ngày 2 và 17/7, Liên Bộ Công Thương - Tài chính đã quyết định tăng giá mặt hàng xăng dầu

Tại kỳ điều chỉnh ngày 2/7, giá xăng đồng loạt tăng sau 3 kỳ liên tiếp giảm. Cụ thể, từ 16h30 cùng ngày, xăng RON95-III tăng 383 đồng/lít, xăng E5RON92 tăng 420 đồng/lít, dầu diesel tăng 292 đồng/lít, dầu hỏa tăng 326 đồng/lít, dầu mazut tăng 105 đồng/kg.  

Sau  điều chỉnh, xăng E5RON92 không cao hơn 19.653 đồng/lít, xăng RON95-III không cao hơn 20.517 đồng/lít. Dầu diesel không cao hơn 16.949 đồng/lít, dầu hỏa không cao hơn 15.937 đồng/lít, dầu mazut không cao hơn 15.220 đồng/kg.  

Tại kỳ điều chỉnh lần 2 kể từ 17h chiều 17/7, xăng RON 95 tăng 626 đồng/lít; xăng E5 RON 92 tăng 718 đồng/lít. Sau khi điều chỉnh, giá xăng RON 95 trên thị trường không cao hơn 21.235 đồng/lít, xăng E5 RON 92 là 20.279 đồng/lít.

Bên cạnh đó, các mặt hàng dầu cũng ghi nhận mức tăng nhẹ. Cụ thể, dầu diesel tăng 48 đồng/lít, dầu hỏa tăng 22 đồng/lít, dầu mazut tăng 760 đồng/kg. Giá bán mới của dầu diesel, dầu hỏa và dầu mazut lần lượt tối đa là 16.997 đồng/lít, 15.959 đồng/lít và 15.980 đồng/kg.

Đến thời điểm kết thúc tháng 7/2019, giá xăng đã lên cao nhất vào kỳ điều chỉnh ngày 2/5. Khi đó, xăng E5 RON 92 được bán với giá 20.688 đồng/lít; xăng RON 95 được bán với giá 22.191 đồng/lít. Sau đó, giá xăng giảm liên tục đến kỳ điều chỉnh ngày 17/6.

Việc xăng dầu tăng giá trong cả 2 kỳ điều chỉnh là một trong những nguyên nhân chính khiến cho chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 7/2019 tăng 0,18% so với tháng trước, tăng 1,59% so với tháng 12/2018 và tăng 2,44% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả hai kỳ giá xăng dầu đã tăng với tổng cộng: xăng A95 tăng 1.110 đồng/lít, xăng E5 tăng 1.050 đồng/lít, dầu diezen tăng 340 đồng/lít, làm CPI chung tăng 0,002%.

GAS

Giá gas đầu tháng 7-2019 giảm mạnh

Chiều 30-6, đại diện các doanh nghiệp kinh doanh gas tại phía Nam cho biết giá gas trong nước sẽ giảm sâu từ ngày 1-7. Theo đó, giá gas sẽ giảm đến 1.583 đồng/kg (mức giảm này đã bao gồm VAT). Như vậy, với loại bình 12kg thì giá gas sẽ giảm thêm 19.000 đồng. Theo đó giá bán lẻ tối đa đến người tiêu dùng là 306.000 đồng/bình 12 kg.

Tương tự, Công ty Gas Pacific Petro , City Gas , EFF Gas cũng giảm 19.000đồng/ bình 12 kg. Giá bán lẻ đến người tiêu dùng không vượt quá 303.000 đồng/bình 12 kg. Trong khi đó, Petrolimex Gas SaiGon cũng giảm 19.000 đồng/bình 12 kg. Theo đó giá bán lẻ đến tay người tiêu dùng tại TP.HCM là 306.500 đồng/bình 12 kg.

Các công ty cho biết do giá gas thế giới tháng 7 công bố 365 USD/tấn, giảm 57,5 USD /tấn so với tháng 6. Vì vậy các công ty điều chỉnh giảm tương ứng.

Như vậy, sau 5 tháng giá gas liên tục tăng tổng mức tăng 42.000 đồng/bình 12 kg, thì đây là lần thứ hai trong năm 2019 giá gas giảm mạnh đến 52.000 đồng/bình 12 kg.

Ô TÔ

Tháng 7 - Thời điểm mua xe giá tốt trước tháng ngâu

Sau những đợt giảm giá “khủng” của tháng 6, tưởng chừng giá xe tại Việt Nam khó có thể giảm thêm nữa; tuy nhiên, ngay từ đầu tháng 7/2019, nhiều hãng tiếp tục đưa ra những mức giảm, khuyến mãi hấp dẫn nhằm kích cầu tiêu dùng cho nhiều mẫu xe.

Đáng chú ý trong đó là mức giảm giá của Toyota Việt Nam đối với mẫu xe Vios – một dòng xe chủ lực của hãng xe Nhật tại thị trường Việt Nam. Cụ thể, trong tháng 7/2019, Vios được Toyota giảm tới 40 triệu đồng cho phiên bản thấp nhất (E MT) giúp giá bán của mẫu xe này chỉ còn 490 triệu đồng. Còn phiên bản E CVT và  G CVT có mức giảm lần lượt là 29 và 36 triệu đồng đưa giá bán của xe xuống còn 540 và 570 triệu đồng.

Cùng với Vios, khách hàng mua xe Toyota Corolla Altis trong tháng 7 và tháng 8/2019 sẽ được hỗ trợ phí trước bạ lên tới 40 triệu đồng. Với mức hỗ trợ lệ phí trước bạ này, khách hàng ở các tỉnh, thành phố (ngoại trừ Hà Nội) sẽ được giảm khoảng một nửa số tiền phải bỏ ra để đóng lệ phí trước bạ cho Toyota Corolla Altis khi lăn bánh…

Theo giới kinh doanh xe nhận định, tháng 8/2019 sẽ tiếp tục là tháng khó khăn đối với thị trường ô tô Việt, vì tháng 8/2019 (sẽ rơi vào tháng 7 âm lịch hay còn gọi là tháng Ngâu) nên nhiều người sẽ hạn chế mua sắm xe theo tâm lý chung.

Đánh giá về sức mua xe của khách hàng trước thời điểm tháng 7 âm cận kề, trưởng nhóm kinh doanh một đại lý Nissan ở Hà Nội chia sẻ, lượng khách hỏi xe, đặt mua xe 2 tuần cuối tháng 7 có phần nhỉnh hơn một chút. Cũng như mọi năm, thời điểm này ai đang có ý định mua xe đều chạy nước rút trước tháng ngâu cũng như nắm cơ hội giá xe đang giảm ít nhiều trên toàn thị trường. Sang tháng 8, 9 chắc hẳn thị trường xe sẽ tăng trường trở lại và nhiều khả năng giá xe sẽ được điều chỉnh tăng dần đến Tết.

DỆT MAY

Dệt may gặp khó, lo không đạt chỉ tiêu


Số liệu cập nhật từ Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas) cho thấy, trong nửa đầu năm 2019, các doanh nghiệp (DN) dệt may xuất khẩu tổng cộng 17,97 tỷ USD, tăng 8,61% so với cùng kỳ năm 2018. Mỹ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của hàng dệt may Việt Nam với kim ngạch 7,22 tỷ USD. Xuất khẩu sang các nước thuộc khối Hiệp định Đối tác toàn diện tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đạt 2,57 tỷ USD, EU hơn 2,05 tỷ USD.

Theo Tổng Thư ký Vitas, ông Trương Văn Cẩm, tình hình đơn hàng của các doanh nghiệp trong ngành không khả quan như kỳ vọng hồi đầu năm. Tình trạng khan hiếm đơn hàng khá phổ biến, số lượng đơn hàng của nhiều DN mới chỉ bằng khoảng 70% so với cùng kỳ năm 2018. Nhiều DN lớn như May 10, May Việt Tiến, May Nhà Bè cũng rơi vào tình trạng thiếu đơn hàng.

“Tiêu thụ sợi và phụ liệu gặp nhiều khó khăn trong khi kim ngạch xuất khẩu các phụ liệu dệt may nửa đầu năm 2019 cũng giảm so với cùng kỳ. Vì vậy mục tiêu đạt kim ngạch 40 tỷ USD trong năm 2019 là rất khó khăn”, ông Cẩm cho hay.

Theo ông Cẩm, dệt may gặp khó khăn hơn dự kiến do cuộc chiến tranh thương mại Mỹ- Trung phần nào tác động đến ngành. Trước đây, bình quân một năm Việt Nam sản xuất 2,2 triệu tấn sợi và xuất khẩu khoảng 1,5 triệu tấn, phần lớn sang Trung Quốc. Nhưng từ cuối năm 2018, xuất khẩu sợi có hiện tượng bất ổn. Trong các tháng đầu năm 2019, việc tiêu thụ rất khó khăn. Cùng đó, Trung Quốc phá giá đồng tiền khiến hàng xuất khẩu của Việt Nam có giá cao hơn của Trung Quốc.

Ông Cẩm cho rằng, trong bối cảnh xuất khẩu gặp khó, các hiệp định thương mại tự do Việt Nam đã ký và có hiệu lực được kỳ vọng tạo bước tăng trưởng đột biến cho ngành. Tuy nhiên, vẫn có độ trễ nhất định và trước mắt các hiệp định CPTPP hay EVFTA chưa hỗ trợ nhiều cho các DN xuất khẩu.

Theo đại diện Vitas, hiệp định EVFTA dù đã ký nhưng chưa có hiệu lực nên hàng dệt may Việt Nam vẫn đang chịu thuế suất bình quân 9,6% tại thị trường EU, trong khi đó nếu chuyển đơn hàng sang các quốc gia khác có thể được hưởng lợi ngay về giá, nhân công. Chính vì thế chưa thể kỳ vọng sự tăng trưởng mạnh kim ngạch xuất khẩu vào thị trường này.

Ông Cao Hữu Hiếu, Giám đốc điều hành Vinatex cho hay, để gỡ khó, theo ông Hiếu, các DN trong ngành cần tự nâng cao khả năng cạnh tranh, đồng thời áp dụng các biện pháp như: Cắt giảm chi phí đầu vào, chuẩn hóa quy trình sản xuất, quy trình quản lý chuẩn theo thực trạng của doanh nghiệp. Chỉ khi quản lý sản xuất, quản lý con người theo tinh thần cách mạng công nghiệp 4.0, hướng tới mục tiêu biến nhà máy sản xuất thông thường thành nhà máy sản xuất thông minh, không để lãng phí bất kỳ nguồn lực nào thì các DN mới có thể tồn tại được trong thị trường đầy biến động hiện nay.

“Các bài toán về chi phí, thị trường, đầu tư cần phải được tính toán kỹ lưỡng, đo lường tất cả các kịch bản có thể xảy ra và cần có phương án cụ thể đối với từng kịch bản của thị trường, tránh lúng túng đưa ra giải pháp đối phó”, ông Hiếu nói.

Về cơ hội, thách thức của ngành dệt may trong thời gian tới khi EVFTA có hiệu lực chính thức, Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh cho rằng, đây sẽ là ngành hàng có lợi nhiều nhất khi chúng ta có Hiệp định thương mại tự do với Liên minh châu Âu (EU). Theo đó, dệt may sẽ xóa bỏ thuế dần đều trong vòng 7 năm về 0%.

THỦY SẢN 

Xuất khẩu cá tra “giảm tốc”

Thống kê của Hiệp hội Xuất khẩu Thuỷ sản Việt Nam (VASEP) 4 tháng liên tiếp từ tháng 3-6/2019, giá trị xuất khẩu cá tra giảm từ 6-17,6% so với cùng kỳ năm 2018.   

Tính đến hết tháng 6/2019, tổng giá trị xuất khẩu cá tra đạt 961,6 triệu USD, giảm 4,1% so với cùng kỳ. Xuất khẩu sang thị trường Mỹ, Brazil và Colombia giảm cũng kéo tốc độ tăng trưởng chung chậm lại. 

Tuy nhiên, sang quý 3 -giai đoạn xuất khẩu tăng tốc, dự báo xuất khẩu cá tra sẽ tăng trưởng trở lại, tuy nhiên sẽ không quá 15% so với cùng kỳ năm 2018.

Với thị trường Trung Quốc, 6 tháng đầu năm nay, xuất khẩu cá tra sang thị trường Trung Quốc - Hồng Kông có chiều hướng tăng trưởng chậm hơn nhiều so với các năm trước. Tính đến hết tháng 6/2019, tổng giá trị xuất khẩu cá tra sang thị trường này đạt 254,3 triệu USD, tăng 1,2%, chiếm 26,4% tổng giá trị xuất khẩu cá tra. 

Điều này cho thấy xu hướng xuất khẩu trong nửa đầu năm nay, phần lớn cá tra Việt Nam vẫn được xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc - Hồng Kông sau khi xuất khẩu sang thị trường Mỹ giảm.

Với thị trường EU, trong nửa đầu năm nay, giá trị xuất khẩu cá tra sang EU đạt 138,5 triệu USD, tăng 18% và chiếm 14,4% tổng giá trị xuất khẩu cá tra. Cho tới nay, phần lớn Việt Nam xuất khẩu sản phẩm cá tra phile đông lạnh sang EU nên giá xuất khẩu trung bình chưa cao, duy nhất Hà Lan là thị trường được phát triển với nhiều sản phẩm cá tra giá trị gia tăng nhất trong khu vực. 

"Dự báo, quý 3/2019, xuất khẩu cá tra sang EU tiếp tục giữ tốc độ tăng trưởng tương đương với hai quý đầu năm. Có một thuận lợi với cá tra Việt Nam tại EU là sau khi EVFTA có hiệu lực, xuất khẩu cá tra sẽ có nhiều cơ hội hơn nữa để đẩy mạnh sang thị trường này. Với hai sản phẩm cá tra chủ lực là: cá tra phile tươi, ướp lạnh thuế sẽ giảm từ 9% xuống 0% sau 3 năm; cá tra phile đông lạnh sẽ giảm từ 5,5% xuống còn 0% sau 3 năm EVFTA có hiệu lực. Sản phẩm cá tra đông lạnh được xóa bỏ thuế trong vòng 3 năm từ mức 8% như hiện nay", VASEP phân tích. 

Riêng thị trường Mỹ, tính đến hết tháng 6/2019, tổng giá trị xuất khẩu cá tra sang thị trường Mỹ đạt 141,9 triệu USD, giảm 27,9% so với cùng kỳ năm trước, riêng tháng 6/2019, giá trị xuất khẩu cá tra sang thị trường này giảm mạnh tới 40,8%.Tác động của việc tăng thuế bán phá giá trong đợt xem xét hành chính lần thứ 14 (POR14) đã ảnh hưởng rõ nét hơn tới xuất khẩu cá tra Việt Nam sang thị trường này. Đúng như dự báo của VASEP vào cuối quý 1/2019, giá trị xuất khẩu cá tra sang Mỹ có thể giảm mạnh sau thông báo về mức thuế của POR14. Trong quý 3/2019 tới, giá trị xuất khẩu cá tra sang thị trường này khó có thể tăng so với cùng kỳ.

Về giá cá tra nguyên liệu trong tháng 7/2019, ông Dương Nghĩa Quốc, Chủ tịch Hiệp hội Cá tra Việt Nam, cho biết: “Giá cá tra ở các tỉnh ĐBSCL tiếp tục sụt giảm rất mạnh, trong khi sức tiêu thụ chậm, dẫn đến nguy cơ thừa nguyên liệu, tồn kho ngày càng tăng. Tình hình đang hết sức căng thẳng”.

Cụ thể, tại An Giang, Đồng Tháp, TP Cần Thơ giá cá tra sụt giảm nhiều ngày qua và đang tiếp tục giảm. Hiện tại, các nhà máy thu mua cá tra chỉ còn khoảng 19.000- 20.000 đồng/kg, thấp nhất trong khoảng 10 năm qua; với giá này người nuôi thua lỗ từ 3.000 - 5.000 đồng/kg. 

Giá tôm giảm mạnh

Thông tin từ vietnambiz.vn, giá tôm giảm khá nhanh từ giữa tháng 5 đến tháng 7/2019 do vào vụ thu hoạch chính, tại các tỉnh nuôi tôm lớn như Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau giảm từ 88.000 - 95.000 đồng/kg giữa tháng 5 xuống 81.000 - 91.000 đồng/kg ở cuối tháng 5 và giảm xuống 73.000 - 79.000 đồng/kg trong tháng 7. Như vậy, chỉ trong vòng một tháng, giá tôm giảm khoảng 18%.

Bộ NN&PTNT cho biết thời tiết mưa nắng thất thường làm môi trường ao nuôi thay đổi đột ngột, buộc nông dân phải thu hoạch đồng loạt để tránh rủi ro. Do đó, đã khiến cho nguồn cung tôm thẻ tăng vọt, đẩy giá sụt giảm.

Theo dự báo của VASEP, xuất khẩu trong tháng 7 dự kiến tăng nhẹ so với cùng kỳ năm ngoái. Về dài hạn, doanh số trong các tháng tiếp theo được kỳ vọng sẽ nhích dần lên nhờ tác động từ các hiệp định thương mại, cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung, nhu cầu nhập khẩu tăng và Ấn Độ đã qua vụ thu hoạch chính.

Xuất khẩu sang EU, thị trường tiêu thụ tôm lớn nhất của Việt Nam, đạt 300,5 triệu USD trong 6 tháng đầu năm nay, giảm 25,9% so với cùng kỳ năm ngoái. 3 thị trường nhập khẩu chính, gồm Anh, Đức, Hà Lan, giảm lần lượt 9,5%, 12,5% và 50,2%, theo số liệu của VASEP.

CÀ PHÊ

Xuất khẩu cà phê tháng 7 tăng

Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết, trong 10 ngày giữa tháng 7/2019, giá cà phê trong nước giảm so với ngày 10/7/2019. Ngày 20/7/2019, giá cà phê nhân xô Robusta trong nước giảm từ 0,3-0,9% so với ngày 10/7/2019 với mức giá phổ biến từ 33.100 – 34.200 đ/kg. 

Tại các kho quanh khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, giá cà phê Robusta loại R1 ổn định so với ngày 10/7/2019, ở mức 35.200 đ/kg. So với cuối tháng 6/2019, giá cà phê biến động không đồng nhất tùy địa phương. Theo đó, so với cuối tháng 6/2019, giá cà phê tại Lâm Đồng ngày 10/7/2019 tăng 0,6%; trong khi giá tại Đắk Lắk giảm 0,3-0,6%...

Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, xuất khẩu cà phê trong nửa đầu tháng 7/2019 đạt 78,5 nghìn tấn, trị giá 126,3 triệu USD, tăng 4,7% về lượng và tăng 1,3% về trị giá so với nửa đầu tháng 6/2019, tăng 33,3% về lượng và tăng 14,1% về trị giá so với nửa đầu tháng 7/2018. Lũy kế từ đầu năm đến giữa tháng 7/2019, xuất khẩu cà phê đạt 996,8 nghìn tấn, trị giá 1,69 tỷ USD, giảm 9,1% về lượng và giảm 19,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.  

Giá xuất khẩu bình quân cà phê của Việt Nam trong nửa đầu tháng 7/2019 đạt mức 1.607 USD/tấn, giảm 3,3% so với nửa đầu tháng 6/2019, và giảm 14,4% so với nửa đầu tháng 7/2018. Lũy kế từ đầu năm đến giữa tháng 7/2019, giá xuất khẩu bình quân cà phê đạt mức 1.698 USD/tấn, giảm 11,8% so với cùng kỳ năm 2018.

Trên thị trường thế giới, trong 10 ngày giữa tháng 7/2019, giá cà phê trên thị trường thế giới biến động theo xu hướng giảm. Thị trường cà phê toàn cầu vẫn chịu áp lực giảm giá do nguồn cung dư thừa. Theo báo cáo tháng 6/2019 của Tổ chức Cà phê Thế giới (ICO), mặc dù có sự gia tăng nhập khẩu cà phê toàn cầu trong 6 tháng đầu năm 2019, nhưng không theo kịp tốc độ tăng trưởng sản xuất trong hai năm vừa qua.

Cục Xuất nhập khẩu dự báo thị trường cà phê toàn cầu trong thời gian tới sẽ vẫn gặp khó khăn do nguồn cung vượt nhu cầu. Theo dữ liệu từ HIS Markit, tiêu thụ cà phê toàn cầu được dự báo sẽ tăng 1,8% trong năm nay, nhưng mức tăng này chưa đủ hỗ trợ thị trường cà phê thế giới. Bên cạnh đó, căng thẳng thương mại Mỹ - Trung Quốc leo thang trở lại cũng sẽ gây bất lợi lên giá các mặt hàng nông sản trong thời gian tới, trong đó có mặt hàng cà phê.

HẠT TIÊU

Xuất khẩu hạt tiêu nửa đầu tháng 7/2019: Tăng về lượng nhưng giảm mạnh về trị giá

Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết, giá hạt tiêu giảm và ở mức thấp nhiều năm đã ảnh hưởng đến đời sống của người trồng hạt tiêu, dẫn đến việc đầu tư chăm sóc giảm, nhiều vườn cây trồng sinh trưởng kém. Mặc dù vậy, sản lượng hạt tiêu của Việt Nam vẫn tăng khá nhiều do năng suất chung vẫn tăng.

Cụ thể, tổng diện tích hạt tiêu của cả nước hiện là 145.447 ha, giảm khoảng 4.000ha so với năm 2018; năng suất 25,5 tạ/năm, tăng 1,2 tạ/ha, sản lượng khoảng 300 nghìn tấn, tăng 45 nghìn tấn so với năm 2018.

Trong bối cảnh giá hạt tiêu toàn cầu liên tục giảm và duy trì ở mức thấp như hiện nay, chỉ có thể sản xuất hạt tiêu sạch, kiểm soát được vấn đề an toàn thực phẩm thì mới giúp ngành hạt tiêu Việt Nam phát triển bền vững và tham gia vào các thị trường khó tính. Sở dĩ giá bán hạt tiêu đạt chất lượng hữu cơ cao là vì trên thế giới sản lượng mặt hàng này chiếm chưa tới 2%. Sản phẩm hạt tiêu đạt tiêu chuẩn hữu cơ có giá bán cao hơn giá xô thị trường từ 2-6 lần nhưng vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu thị trường.  

20 ngày đầu tháng 7/2019, giá hạt tiêu đen trong nước biến động theo xu hướng giảm. So với ngày 10/7/2019, giá hạt tiêu đen giảm từ 1,1-2,2%, còn so với ngày 29/6/2018 giảm từ 2,1-2,2%. Ngày 20/7/2019, giá hạt tiêu đen trong nước ở mức thấp nhất là 44.000 đ/kg tại tỉnh Đồng Nai, mức cao nhất là 46.000 đ/kg tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Giá hạt tiêu trắng ở mức 70.000 đ/kg, giảm 2.000 đ/kg so với cuối tháng 6/2019 và thấp hơn so với mức 87.000 đ/kg cùng kỳ năm 2018.  

Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, xuất khẩu hạt tiêu trong 15 ngày đầu tháng 7/2019 đạt 11,09 nghìn tấn, trị giá 28,2 triệu USD, tăng 6,6% về lượng, nhưng giảm 11,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/7/2019, xuất khẩu hạt tiêu đạt 187,7 nghìn tấn, trị giá 479,8 triệu USD, tăng 32% về lượng, nhưng giảm 0,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Giá xuất khẩu trung bình hạt tiêu trong 15 ngày đầu tháng 7/2019 đạt 2.544 USD/tấn, tăng 3,8% so với mức giá xuất khẩu trung bình tháng 6/2019.  

Trên thị trường thế giới, trong 20 ngày đầu tháng 7/2019, giá hạt tiêu trên thị trường thế giới biến động không đồng nhất. Giá xuất khẩu hạt tiêu tại Việt Nam và Indonesia giảm; giá tại Brasil và Malaysia ổn định. Giá hạt tiêu trắng xuất khẩu tại Indonesia tăng, tại Malaysia ổn định, và giảm tại Việt Nam.

Cục Xuất nhập khẩu dự báo trong ngắn hạn, thị trường hạt tiêu toàn cầu vẫn chịu sức ép giảm giá do áp lực dư cung và nhu cầu ở mức thấp. Về dài hạn, áp lực dư cung giảm sẽ hỗ trợ giá hạt tiêu toàn cầu.

HẠT ĐIỀU  

Vinacas: Thị trường điều hiện tại rất nhạy cảm  

Theo Hiệp hội Điều Việt Nam, trong tháng 7, lượng điều thô tiếp tục cập cảng Việt Nam với số lượng lớn.

Tuy nhiên, khác với những năm trước, vào thời gian này khi điều thô cập cảng số lượng lớn thường xảy ra hiện tượng bán nhân ồ ạt nhưng năm nay hiện tượng này không xảy ra. 

Vinacas đánh giá đây là tín hiệu tích cực nhất từ trước đến nay. Do đó, Vinacas dự báo thị trường nhân xuất khẩu sẽ giữ giá như hiện tại và có thể sẽ tăng trong thời gian tới nhưng mức tăng không nhiều. 

Theo số liệu của Cục Xuất nhập khẩu tháng 6, giá điều nhân xuất khẩu bình quân đạt mức thấp 7.024 USD/tấn, giảm hơn 4% so với tháng 5/2019.  Ghi nhận nửa đầu năm nay, giá điều xuất khẩu đạt 7.613 USD/tấn, giảm tới 21,5% so với cùng kỳ năm ngoái.  

Xuất khẩu điều nhân trong 6 tháng đầu năm đạt 195.700 tấn, trị giá gần 1,5 tỷ USD, tăng 12,2% về lượng, nhưng giảm 12,1% về trị giá so với cùng kì năm ngoái.

Vinacas cảnh báo việc nhập điều thô với giá cao là tiềm ẩn nhiều rủi ro nên doanh nghiệp cần thận trọng. 

Ở một diễn biến khác, Vinacas cho biết lượng điều thô nhập về lớn trong tháng 6 và tháng 7 trong khi các nhà nhập khẩu bị áp lực tài chính phải bán ra giá rẻ. 

Điều này khiến giá nhân điều sẽ bị ảnh hưởng do các lò chẻ nhỏ mua được điều thô giá rẻ sẽ sản xuất và bán điều nhân với giá thấp

"Thị trường hiện tại rất nhạy cảm, không mang tính bền vững nên cần thận trọng, không nên ký bán nhân xa khi chưa có hạt điều thô trong kho vì thời gian tới, giá nhân có thể sẽ tăng.   

Với giá nhân rẻ như hiện tại, tiêu thụ nhân điều sẽ tăng. Mặt khác, cuối năm cũng là mùa cao điểm tiêu thụ nhân" Vinacas cảnh báo. 

CAO SU

Giá cao su giảm theo giá thế giới

Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết, trong 10 ngày giữa tháng 7/2019, giá mủ cao su nguyên liệu trong nước giảm theo xu hướng giá thế giới. Ngày 22/7/2019, tại Đắk Lắk giá thu mua mủ nước tại vườn và tại nhà máy giảm 15 đ/độ TSC so với cuối tháng 6/2019, hiện giao dịch ở mức 255 đ/độ TSC và 260 đ/độ TSC.

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, trong 15 ngày đầu tháng 7/2019, xuất khẩu cao su đạt 76,14 nghìn tấn, trị giá 106,98 triệu USD, tăng 14,3% về lượng và tăng 12,2% về trị giá so với 15 ngày cuối tháng 6/2019, tăng 16,1% về lượng và tăng 21,1% về trị giá so với 15 ngày đầu tháng 7/2018. Như vậy, tính từ đầu năm đến hết ngày 15/7/2019, lượng cao su xuất khẩu đạt 690,55 nghìn tấn, trị giá 948,86 triệu USD, tăng 9,6% về lượng và tăng 4,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Giá xuất khẩu cao su trung bình 15 ngày đầu tháng 7/2019 ở mức 1.405 USD/tấn, giảm 1,8% so với mức giá xuất khẩu trung bình 15 ngày trước đó, nhưng tăng 4,3% so với cùng kỳ năm 2018.

Việt Nam là nước xuất khẩu cao su thứ tư thế giới, song không làm cho cán cân thương mại về cao su đẹp. Năm 2018, khi xuất khẩu cao su và sản phẩm từ cao su được 2,8 tỷ USD thì phải nhập khẩu cao su và sản phẩm cao su gần 2 tỷ USD. Cặp số tương tự của 6 tháng 2019, là xuất khẩu 1,184 tỷ USD và nhập khẩu 996 triệu USD. 

Điều ấy nói lên việc sản xuất và xuất khẩu cao su và sản phẩm từ cao su vẫn chưa nhiều, chưa lôi cuốn khách ngoại và cả với người Việt dù nặng lòng với hàng Việt.

(TTGCVT /T.Hiền tổng hợp) 

 

 

Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (024) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (024) 39762593 
Email:ttgcvattu1989@gmail.com