Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Thị trường hàng hóa nguyên liệu trong nước tháng 6/2019
Cập nhật: 1-7-2019

VÀNG

Vàng liên tiếp tăng giá tạo sự hấp dẫn cho thị trường


Không như trạng thái “bình lặng” những tháng trước đó, giá vàng trong nước tháng 6/2019 đã có sự bứt phá bất ngờ về giá và khiến thị trường trở nên sôi động – điều hiếm có trong cả một thời gian dài. Trong suốt 5 tháng đầu năm 2019, giá vàng miếng chủ yếu lình xình trên ngưỡng 36 triệu đồng/lượng. Theo đánh giá của các nhà đầu tư, với đà tăng bùng nổ được duy trì, giá vàng thời điểm trung tuần tháng 6/2019 đã lên đỉnh của 6 năm qua. Trước các thông tin biến động trên thị trường thế giới (giá vàng vượt mốc 1.440 USD/once), đặc biệt là các thông tin địa chính trị (chiến tranh thương mại, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) có đợt cắt giảm lãi suất lần đầu tiên sau 11 năm) đã tác động mạnh tới thị trường vàng thế giới và ảnh hưởng trực tiếp tới thị trường trong nước. 

Chỉ sau 3 tuần, giá vàng miếng đã đội thêm trên 2,5 triệu đồng/lượng so với cuối tháng trước. Tuy nhiên, giá vàng miếng vẫn đang tăng chậm hơn so với giá vàng quốc tế.

Trong tuần đầu tiên của tháng 6, giá vàng trong nước đã có xu hướng tăng mạnh theo đà tăng của giá vàng thế giới. So với tuần cuối tháng 5, giá vàng đã tăng tới gần 1 triệu đồng mỗi lượng. Mức giá đạt được trong sáng ngày 7- 6 là 36,980 triệu đồng/lượng (mua vào) và 37,250 triệu đồng/lượng (bán ra), tăng 130 ngàn đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với cuối giờ ngày 6/6. Nguyên nhân giá vàng thế giới tăng vọt lên sát đỉnh cao 2019 trong tuần này là do đồng USD suy yếu, thị trường lo ngại căng thẳng toàn cầu và kỳ vọng lãi suất nước Mỹ sẽ giảm. Theo Doji, ghi nhận trong những phiên gần đây, khách hàng tham gia giao dịch ở cả hai chiều mua và bán. Nhiều chuyên gia cho rằng, đây là thời điểm nhạy cảm, vừa là cơ hội, vừa là rủi ro.

Bước sang tuần thứ 2, thị trường vàng trong nước tiếp tục nằm trong áp lực tăng giá mạnh của thị trường thế giới khi các nhà đầu tư ồ ạt mua vàng trong bối cảnh bất ổn xảy ra khắp nơi, từ Trung Đông cho tới khu vực châu Á. Tới 14h ngày 14/6, giá vàng miếng trong nước được Tập Đoàn Vàng bạc đá quý Doji niêm yết ở mức: 37,550 triệu đồng/lượng (mua vào) và 37,700 triệu đồng/lượng (bán ra). Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn niêm yết giá vàng SJC ở mức 37,400 triệu đồng/lượng (mua vào) và 37,820 triệu đồng/lượng (bán ra). Theo nhận định của Doji, với mức tăng chạm ngưỡng cao nhất trong hơn hai tháng qua, giá vàng trong nước đang tạo sức hấp dẫn nhất định đối với thị trường đồng thời thu hút được phần lớn nhà đầu tư.

Trung tuần tháng 6, giá vàng trong nước đã có một tuần tăng “sốc”. Thời điểm lúc gần 10h trưa 21/6, Tập đoàn DOJI niêm yết giá vàng SJC cho thị trường Hà Nội ở mức 38,82 triệu đồng/lượng (mua vào) và 39,02 triệu đồng/lượng (bán ra). Tại thị trường Tp.HCM, Công ty SJC báo giá vàng miếng cùng thương hiệu ở mức 38,75 triệu đồng/lượng và 39,05 triệu đồng/lượng. So với cùng thời điểm hôm trước, giá vàng tăng khoảng 400.000 đồng/lượng. Như vậy, chỉ trong vòng hai ngày, giá vàng miếng đã tăng khoảng 1,5 triệu đồng/lượng. Biểu đồ giá vàng của DOJI cho thấy đây là mức giá cao nhất của vàng miếng kể từ tháng 6/2013.

Thận trọng với biến động mạnh của giá vàng, các doanh nghiệp kim hoàn kéo giãn rộng chênh lệch giữa giá mua vào và bán ra. Khoảng cách giữa giá mua-bán vàng SJC tại Hà Nội dao động trong khoảng 200.000-300.000 đồng/lượng.

Trong ngày này, nhiều người mang vàng đi bán để tranh thủ mức giá lên cao. Nếu mua vàng miếng SJC ở mức giá 36,6 triệu đồng/lượng vào đầu năm, nhà đầu tư đã lãi khoảng 2,2 triệu đồng mỗi lượng vàng. Tuy nhiên, một số tiệm vàng trên phố Trần Nhân Tông ở Hà Nội cho biết, thị trường vẫn đang giữ tâm lý thăm dò, bởi giá vàng quốc tế được dự báo còn tăng thêm.

Sau phiên giảm mạnh vào ngày 26/6, giá vàng thế giới tới sáng 27/6 vẫn giữ mốc 1.400 USD/oz, còn giá vàng miếng trong nước đang cho thấy những nỗ lực bám trụ mốc 39 triệu đồng/lượng. Theo giới kinh doanh vàng, một điểm khác biệt giữa đợt tăng giá vàng trong nước hiện tại với những đợt "sốt" trước kia là thị trường không xảy ra tình trạng chênh lệch lớn về cung-cầu.” Lực mua và bán khá cân đối, không có hiện tượng quá bán hoặc quá mua", Công ty PNJ cho biết ngày 26/6. 

ĐÔ LA

Thị trường đô la “bình tĩnh’ trước các biến động của thị trường vàng

Trái ngược với trạng thái “sôi động” của thị trường vàng, giá mua bán USD tại các ngân hàng thương mại và tỷ giá trung tâm của NHNN trong tháng 6/2019 nhìn chung ổn định. Mức cao nhất của tỷ giá trung tâm trong tháng 6 là 23.070 đồng/USD  và thấp nhất là 23.050 đồng/USD. 

Trong tuần đầu tiên của tháng 6, tỷ giá trung tâm có tới 3 phiên giảm giá. Mức thấp nhất tuần là 23.052 đồng/USD và mức cao nhất là 23.060 đồng/USD (có tới 2 phiên đứng ở mức trên). Tại các NHTM, giá giao dịch USD nhìn chung ổn định. Tới đầu giờ sáng 7/6, đa số các ngân hàng thương mại giữ tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ gần như không đổi so với cuối giờ phiên liền trước, phổ biến ở mức 23.340 đồng (mua) và 23.460 đồng (bán). 

Bước sang tuần 2, tỷ giá trung tâm tăng giảm xen kẽ qua các phiên giao dịch. Mức cao nhất tuần là 23.061 đồng/USD (sáng 11/6) và mức thấp nhất tuần là 23.054 đồng/USD (sáng 10/6). Tại các NHTM, giá giao dịch USD biến động nhẹ. Tới đầu giờ sáng 14/6, đa số các ngân hàng thương mại giảm tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ khoảng 5 đồng với cuối giờ phiên liền trước, phổ biến ở mức 23.265 đồng (mua) và 23.385 đồng (bán). 

Trung tuần tháng 6, tỷ giá trung tâm có xu hướng giảm về cuối tuần (mức thấp nhất tuần là 23.055 đồng/USD vào sáng 21/6). Tại các NHTM, giá giao dịch USD ổn định. Tới đầu giờ sáng 21/6, đa số các ngân hàng thương mại giữ tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ gần như không đổi so với cuối giờ phiên liền trước, phổ biến ở mức 23.240 đồng (mua) và 23.360 đồng (bán). Tính từ đầu năm 2018, tỷ giá đồng đô la Mỹ trong hệ thống ngân hàng tăng 435-460 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra.

Xu hướng giảm còn diễn ra ở tuần cuối tháng 6. Tới sáng 28/6, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ở mức 23.066 đồng/USD. Tại ngân hàng thương mại, đa số giữ tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ cùng ngày gần như không đổi so với cuối giờ phiên liền trước, phổ biến ở mức 23.270 đồng (mua) và 23.390 đồng (bán).

Tính từ đầu năm 2018, tỷ giá đồng đô la Mỹ trong hệ thống ngân hàng tăng 464-485 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra.

THÉP XÂY DỰNG

Giá thép ổn định

Mặc được dự đoán có xu hướng tăng giá từ cuối tháng 4/2016 do giá điện và xăng dầu tăng cao, dẫn đến tăng chi phí đầu vào cho các nhà máy sản xuất thép, nhưng xu hướng tăng đã không xảy ra đúng theo kịch bản do giá nguyên liệu phôi đầu vào giảm xuống, cùng với sức cầu trên thị trường yếu là nguyên nhân tăng giá không diễn ra như dự đoán. Có thể xu hướng tăng giá sẽ xảy ra muộn hơn đôi chút khi mà tháng 9 giá nhiên liệu tiếp tục tăng. Bên cạnh đó việc tổng cầu thép sẽ tăng do các dự án đang tích cực triển khai vào 2 quý cuối năm sẽ đấy sức cầu tăng mạnh.

Trong tháng 6/2019, giá bán thép xây dựng thành phẩm tại các nhà máy ổn định ở mức khoảng từ 12.200 – 14.500 đồng/kg (giá giao nhà máy, chưa bao gồm 10% VAT, chiết khấu bán hàng).Giá thép xây dựng bán lẻ phổ biến tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung dao động ở mức 12.800 – 15.600 đồng/kg. Tại các tỉnh miền Nam, giá thép dao động ở mức 13.000 – 15.500 đồng/kg. Thị trường tiêu thụ với định mức ổn định và nguồn cung đảm bảo của các nhà máy sản xuất thép . Đây vẫn sẽ là thời điểm tốt để khách hàng có nhu cầu cân nhắc thời điểm này để mua vào.

Về tình hình xuất khẩu mặt hàng này, theo thông tin từ Tổng cục Hải quan, trong 5 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu sắt thép các loại trong tháng 5 đạt 609.000 tấn, với trị giá đạt 389 triệu USD, tăng 7% về lượng và tăng 4% về trị giá. Qua đó đưa lượng xuất khẩu mặt hàng này trong 5 tháng đầu năm 2019 đạt 2,93 triệu tấn, trị giá 1,89 tỷ USD, tăng 24,4% về lượng và tăng 7,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Đến thời điểm nửa đầu tháng 6/2019, xuất khẩu sắt thép đã đạt 2 tỷ USD, cao hơn so với cùng kỳ của năm 2018 (1,89 tỷ USD), theo báo cáo mới nhất của TCHQ.

Một thông tin đáng chú ý thị trường thép trong tháng này đó là vào ngày 18/6, Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá (CBPG) tạm thời đối với một số sản phẩm thép hợp kim hoặc không hợp kim được cán phẳng, mạ hoặc không mạ, sơn có xuất xứ từ Trung Quốc và Hàn Quốc.

Cụ thể, mức thuế CBPG tạm thời dao động trong khoảng 3,45 - 34,27% được áp dụng đối với hơn 20 công ty. Trong đó, hàng loạt công ty Trung Quốc chịu mức thuế cao nhất là 34,27%. Các sản phẩm này có mã HS 7210.70.11, 7210.70.19, 7210.70.91, 7210.70.99, 7212.40.11, 7212.40.12, 7212.40.19, 7212.40.91, 7212.40.92, 7212.40.99, 7225.99.90, 7226.99.99, 7226.99.19.

Bộ Công Thương cho biết Bộ có thể sửa đổi, bổ sung danh sách các mã HS bị áp thuế tạm thời để phù hợp với mô tả hàng hóa bị điều tra và các thay đổi khác nếu có. Thuế CBPG tạm thời có hiệu lực sau 7 ngày kể từ ngày quyết định áp thuế và kéo dài trong vòng 120 ngày.

XI MĂNG

Giá được điều chỉnh theo chiều hướng tăng

Ngày 11/6, theo số liệu mới nhất vừa được Tổng cục Hải quan công bố, lượng xi măng xuất khẩu trong tháng 5/2019 đạt 2,48 triệu tấn trị giá 108,7 triệu USD giảm 12,6% về lượng và 9,8% về trị giá so với tháng trước.

Lũy kế 5 tháng đầu năm, lượng xi măng xuất khẩu đạt 13,8 triệu tấn, trị giá 589,9 triệu USD, chỉ tăng 4% về lượng nhưng tăng đến 23,2% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, lượng xuất khẩu xi măng trong 5 tháng đầu năm đã đạt được 55% kế hoạch xuất khẩu 25 triệu tấn năm 2019.

Năm 2019, Bộ Xây dựng dự kiến nguồn tiêu thụ trong nước sẽ là động lực chính cho tăng trưởng của ngành xi măng (dự báo tăng 9% so với năm 2018), trong khi xuất khẩu được dự báo sẽ sụt giảm (giảm 19%) so với mức đỉnh năm 2018. Nguyên nhân là do nhiều yếu tố trong chính sách nhập khẩu của các nước lớn trong khu vực sẽ thay đổi, ảnh hưởng đến kết quả của các Công ty Việt Nam. 

Về giá cả mặt hàng này, tiếp nối đà tăng giá từ 2 tháng trước đó, giá xi măng trong tháng 6/2019 tiếp tục được các doanh nghiệp sản xuất điều chỉnh theo chiều hướng tăng do chi phí đầu vào tăng lên và đang trong mùa xây dựng. Một số doanh nghiệp xi măng cụ thể như Sông Gianh, Hoàng Mai thông báo điều chỉnh giá bán từ ngày 16/6. Xi măng Vicem Hoàng Mai tăng giá bán 30.000 đồng/tấn (bao gồm VAT) đối với các chủng loại xi măng PCB40, loại bao PCB40 đóng vỏ bao PP và loại bao PCB40 đóng vỏ bao Sling tiêu thụ tại các tỉnh, thành phố Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Phú Yên, Ninh Thuận, Bình Thuận.

Cũng từ 16/6, Xi măng SCG Việt Nam thông báo điều chỉnh tăng giá bán 29.700 đồng/tấn (bao gồm VAT) áp dụng cho sản phẩm Xi măng Sông Gianh PCB40 và PCB30 bao nhận hàng tại các điểm giao hàng Xi măng Sông Gianh. PCB là xi măng Pooclăng hỗn hợp được sản xuất từ việc nghiền hỗn hợp clinker, thạch cao và phụ gia (lượng phụ gia kể cả thạch cao không quá 40% trong đó phụ gia đầy không quá 20%).

Không đợi tới tháng 6, ngay từ tháng 5, nhiều doanh nghiệp xi măng khác cũng bắt đầu tăng giá. Xi măng Xuân Thành báo tăng 50.000 đồng/tấn và Xi măng Hướng Dương tăng 30.000 đồng/tấn cùng với sản phẩm xi măng bao, rời.

XĂNG DẦU

Xăng dầu giảm giá ở cả hai kỳ điều chỉnh trong tháng 6/2019

Cũng như các tháng trước, mặt hàng xăng dầu chịu sự điều chỉnh của Liên Bộ Tài chính – Công thương 2 lần/tháng. Trong tháng 6/2019, mặt hàng được coi là xương sống của nền kinh tế được điều chỉnh vào ngày 1/6 và 17/6 và đều ở trong trạng thái giảm giá.

Tại kỳ điều chỉnh lần 1 vào 15h chiều 1/6, Liên Bộ Công Thương – Tài chính đã quyết định mặt hàng xăng RON95-III giảm 380 đồng/lít; Xăng E5RON92 giảm 269 đồng/lít; Dầu diesel 0.05S giảm 220 đồng/lít; Dầu hỏa giảm 197 đồng/lít; Dầu mazut giảm 182 đồng/kg.

Sau điều chỉnh, giá bán các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường không cao hơn mức giá: Xăng E5RON92 không cao hơn 20.219 đồng/lít; Xăng RON95-III không cao hơn 21.219 đồng/lít; Dầu diesel không cao hơn 17.394 đồng/lít; Dầu hỏa không cao hơn 16.225 đồng/lít; Dầu mazut không cao hơn 15.354 đồng/kg.

Liên Bộ Tài chính - Công Thương cũng quyết định chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu với Xăng E5RON92 là 398 đồng/lít (kỳ trước chi 457 đồng/lít) còn các loại xăng dầu khác về 0 đồng.

Tại kỳ điều chỉnh lần thứ 2 trong tháng, cũng vào 15h chiều ngày 17/6 Liên Bộ Tài chính - Công Thương quyết định điều chỉnh giảm giá mạnh các mặt hàng xăng dầu. Cụ thể, xăng RON95 giảm 1.085 đồng/lít; xăng E5RON92 giảm 986 đồng/lít; dầu diesel 0.05S giảm 737 đồng/lít; dầu hỏa giảm 614 đồng/lít; dầu mazut 180CST 3.5S giảm 239 đồng/kg.

Sau điều chỉnh, giá bán các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường cụ thể như sau: Xăng E5RON92 không cao hơn 19.233 đồng/lít; Xăng RON95 là 20.134 đồng/lít; dầu diesel 16.657 đồng/lít; Dầu hỏa 15.611 đồng/lít; Dầu mazut 15.115 đồng/kg.

Cũng tại kỳ điều chỉnh này, Liên Bộ thực hiện tăng mức trích lập Quỹ Bình ổn giá xăng dầu đối với xăng E5RON92 lên mức 300 đồng/lít; trích lập Quỹ Bình ổn giá xăng dầu đối với các mặt hàng RON95 và các loại dầu lên mức 900 đồng/lít,kg. Không chi sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu đối với các mặt hàng xăng dầu.

Đây là lần thứ ba liên tiếp giá xăng dầu giảm sau kỳ điều chỉnh hôm 17/5. Trước đó, giá xăng tăng 3 lần liên tục thêm 3.500 đồng/lít, đạt kỷ lục của năm 2019 vào ngày 2/4, chạm mức 22.191 đồng/lít với xăng RON 95 và 20.688 đồng/lít với xăng E5 RON 92.

GAS

Giá gas tháng 6/2019: Giảm sâu sau 5 lần tăng liên tiếp

Sau 5 lần tăng giá liên tiếp trong gần nửa năm qua, chiều ngày 31/5 các đơn vị đầu mối kinh doanh phân phối mặt hàng gas tại Tp.Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phía Nam đã công bố giá gas tháng 6/2019 giảm 2.750 đồng/kg (đã bao gồm VAT), tương đương 33.000 đồng/bình 12 kg so với tháng 5/2019.

Cụ thể, giá gas loại bình 12kg của SAIGON Petro, Pacific Petro Gas, City Petro, Eff Gas... đến tay người tiêu dùng có giá 322.000-325.000 đồng. Mức giảm sâu này đã kết thúc chuỗi 5 tháng liên tiếp giá gas trong nước tăng liên tục, với mức tăng lên đến 42.000 đồng/bình 12kg kể từ lần giảm giá gần đây nhất vào cuối năm 2018.

Theo đó, các tổng công ty, doanh nghiệp đã triển khai cập nhật thông tin và thông báo điều chỉnh giá gas đến các chi nhánh cửa hàng, đại lý bán lẻ trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh để đảm bảo tuân thủ quy luật thị trường cũng như quyền lợi của người tiêu dùng. Cụ thể, mức giá gas mới này sẽ áp dụng từ ngày 1/6.

Nguyên nhân giá gas giảm, theo các đơn vị đầu mối kinh doanh, phân phối do giá gas thế giới bình quân tháng 6 vừa công bố ở mức 422,5 USD/tấn, giảm 105 USD/tấn so với tháng 5.

Hiện giá gas trong nước phụ thuộc vào diễn biến thế giới do nguồn cung nội địa chỉ chủ động được khoảng 60% mức tiêu thụ.

Ô TÔ

Giá xe tiếp tục giảm trong tháng 6

Tiếp diễn tháng trước, thị trường ô tô Việt Nam trong tháng 6/2019 ghi nhận nhiều mẫu xe giảm giá mạnh. Tuy nhiên, các chương trình khuyến mại xuất phát từ phía đại lý. Vì vậy, các đại lý khác nhau sẽ áp dụng chương trình khuyến mại khác nhau. Cụ thể, một số đại lý Toyota đang áp dụng khuyến mại Corolla Altis giảm 50 - 80 triệu đồng. Theo một số nguồn tin, nguyên nhân là do mẫu xe này chuẩn bị ra mắt phiên bản 2019. Chính vì vậy, động thái giảm sâu Corolla Altis nhằm giảm lượng hàng đang tồn kho.

Cũng trong tháng 6/2019, Honda City vẫn được các đại lý ưu ái giảm giá từ 20 - 30 triệu đồng và được tặng kèm theo phụ kiện. Các chương trình khuyến mại có thể khác nhau ở mỗi đại lý Honda. Hai mẫu xe cuối cùng được ghi nhận giảm giá trong tháng 6 là Hyundai Grand i10 (giảm 15 - 20 triệu đồng, tùy từng đại lý) và Mazda3 (giảm 50 triệu đồng so với giá niêm yết).

Theo ghi nhận, trong 3 tháng trở lại đây, rất nhiều mẫu xe được áp dụng chương trình khuyến mại giảm giá. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này.

Thứ nhất, thị trường ô tô Việt Nam trong giai đoạn luôn trầm lắng hơn so với cuối năm. Theo số liệu của Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam qua các năm 2017 và 2018, doanh số bán xe thường tăng rất cao từ tháng 9 và đạt "đỉnh" vào các tháng 11, tháng 12 và tháng 1 năm sau. Ở chiều ngược lại, doanh số bán ô tô thường giảm sâu vào tháng 2, tháng sau Tết Nguyên đán và kéo dài cho tới tháng 8.

Trong khi đó, trong giai đoạn từ tháng 2 cho đến tháng 8 hàng năm, thị trường ô tô có nhiều chương trình khuyến mại giảm giá để kích cầu. Đó chính là 1 trong những nguyên nhân khiến những tháng quý 2 có rất nhiều dòng xe được giảm giá.

Nhiều đại lý, hãng xe áp dụng chương trình khuyến mại để tăng thị phần hoặc các mẫu xe có doanh số quá thấp nên buộc phải khuyến mại cũng là nguyên nhân tác động tới giá xe. Trong bối cạnh thị trường ô tô Việt Nam ngày càng có nhiều sản phẩm mới, thiết kế đẹp, giá cả hợp lý thì việc áp dụng khuyến mại là biện pháp rất tốt để tăng thị phần.

Điều đáng nói hơn là các mẫu xe được giảm giá mạnh hầu hết là những mẫu ô tô được lắp ráp trong nước.

Theo công bố của Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), doanh số bán xe lắp ráp trong nước tháng 5 đạt hơn 15.000 chiếc, tăng nhẹ so với tháng trước.

Tuy nhiên, tính tổng lượng bán ra của các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp xe hơi tại Việt Nam trong 5 tháng đầu năm chỉ đạt hơn 75.000 chiếc, giảm hơn 12.000 chiếc, (gần 14%) so với cùng kỳ năm trước.

Trong khi đó, số lượng xe ô tô nhập khẩu từ các thị trường nước ngoài lại đột ngột tăng mạnh. Trong tháng 5 vừa qua, số xe nhập khẩu đạt 12.000 chiếc, tăng 75% so với tháng trước đó. Còn tính chung 5 tháng đầu năm, số xe đã bán ra đạt kỷ lục hơn 51.000 chiếc, tăng hơn 34.000 chiếc, mức tăng hơn 200% so với cùng kỳ năm 2018.

Như vậy, nguyên nhân quan trọng nhất của việc giảm giá ô tô tại thị trường Việt Nam trong những tháng vừa qua bắt nguồn từ việc ô tô nhập khẩu về Việt Nam có sức mua tăng vọt, gây sức ép cho các nhà sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước.

Mặc dù thời gian gần đây, giá xe được nhận định là đã giảm "tới đáy", tuy nhiên, so với các nước trong khu vực thì giá ô tô của Việt Nam vẫn cao ngất ngưởng. Nguyên nhân là do ô tô ở Việt Nam vẫn bị liệt vào danh sách những mặt hàng xa xỉ, chịu nhiều khoản thuế, phí nên khi nhập khẩu về nước, mặt hàng này bị đội giá lên cao.

THỦY SẢN 

Giá cá tra giống và cá tra nguyên liệu giảm mạnh

Sau chu kỳ tăng giá cao và kéo dài, cá tra ở ĐBSCL lại vào chu kỳ giảm giá và đến cuối tháng 5/2019, cá nguyên liệu chỉ còn 23.000 - 25.000 đồng/kg gây không khí lo âu bao trùm như hai năm trước.

Bộ Công thương cho biết, những ngày đầu tháng 6, giá cá tra nguyên liệu ổn định ở mức cao, nhưng giá cá tra giống ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long giảm mạnh do nguồn cung dồi dào. Hiện cá tra giống loại 30 con/kg chỉ còn có giá từ 26.000-30.000 đồng/kg, giảm hơn một nửa so với trước đây một tháng.

Ông Lê Chí Bình, Phó Chủ tịch Hiệp hội Nghề nuôi và Chế biến thủy sản An Giang nói: “Người nuôi lúc này đang cảm nhận khó khăn quay lại sau hơn một năm được giá, nguyên do khi được giá thì nhiều người thả nuôi khiến chi phí đầu vào khá cao, nay giá đầu ra giảm dẫn tới nguy cơ hòa hoặc lỗ vốn”.

Giá cá tra nguyên liệu giảm do nhiều doanh nghiệp chế biến cá tra xuất khẩu chủ yếu tập trung thu hoạch, chế biến cá tra do doanh nghiệp tự nuôi và hạn chế thu mua cá tra nguyên liệu trong dân, nhất là khi doanh nghiệp chưa ký được nhiều đơn hàng xuất khẩu. Tại nhiều quận, huyện ở TP Cần Thơ và các tỉnh, như: An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long… giá cá tra nguyên liệu loại 1 (thịt trắng, cỡ 700-900gr/con) được nông dân bán cho doanh nghiệp thu mua chế biến xuất khẩu ở mức 23.500-24.500 đồng/kg. Mức giá này thấp hơn khoảng 5.500-6.000 đồng/kg so với hồi đầu năm 2019 và thấp hơn 11.000-11.500 đồng/kg so với một số thời điểm trong năm 2018 khi cá tra đạt mức giá cao kỷ lục trong nhiều năm qua.

Với những tín hiệu tích cực từ thị trường EU, Hiệp định EVFTA được thông qua và ký kết, VASEP dự báo, sau khi Hiệp định thương mại tự do này có hiệu lực, xuất khẩu cá tra sẽ có nhiều cơ hội hơn nữa. Trong đó, 2 sản phẩm cá tra, basa chủ lực là: cá tra phile tươi, ướp lạnh, thuế sẽ giảm từ 9% xuống 0% sau 3 năm; cá tra phile đông lạnh sẽ giảm từ 5,5% xuống còn 0% sau 3 năm EVFTA có hiệu lực… Sản phẩm cá tra đông lạnh được xóa bỏ thuế trong vòng 3 năm từ mức 8% như hiện nay. Như vậy, bên cạnh những thuận lợi đã và đang diễn ra tại EU và cơ hội về mặt thuế quan sau khi EVFTA có hiệu lực, dự báo mức tăng trưởng của cá tra, basa sẽ còn khả quan hơn. 

Không quá bi quan về giá tôm

Vụ thu hoạch tôm bắt đầu từ tháng 6/2019 đến nay ghi nhận tôm thẻ nguyên liệu ở ĐBSCL bắt đầu giảm giá khá mạnh. Người nuôi tôm bắt đầu lo âu, liệu có giống như kịch bản năm 2014, dù nuôi tôm trúng vẫn không có lãi.

Diễn biến rõ hơn từ tuần thứ 2 tháng 6/2019, tôm mới vào vụ thu hoạch giá tôm nguyên liệu ở ĐBSCLđã xuống thấp. Dân nuôi tôm vùng Bán đảo Cà Mau bán tôm tại ao qua thương lái loại tôm thẻ cỡ nhỏ 100 con/kg bình quân 75.000 đồng/kg và dao động mức 72.000 - 77.000 đồng/kg; tôm cỡ 70 con/kg giá khoảng 85.000 đồng/kg, giảm bình quân khoảng 10.000 - 15.000 đồng/kg so với cuối tháng 5/2019. Với mức giá này người nuôi tôm dù chăm sóc tốt, vượt qua rủi ro nuôi trúng vẫn không lãi nhiều.

Nguyên nhân được các nhà kinh doanh chế biến xuất khẩu phân tích, do thị trường mùa vụ tôm bắt đầu gia tăng nguồn cung từ một số nước như Việt Nam, Thái Lan, Trung Quốc cùng vào vụ thu hoạch.

Tại ĐBSCL, sau khi có thông tin về sự kiện Công ty CP Tập đoàn thủy sản Minh Phú, còn được gọi là “Vua tôm Việt” bị cáo buộc tránh thuế chống bán phá giá ở Mỹ, rằng đang nhập khẩu tôm chịu thuế từ Ấn Độ và sau đó bán lại tôm đó cho Mỹ dưới dạng sản phẩm của Việt Nam được miễn thuế. Để phản bác thông tin gây bất lợi đó, phía Công ty Minh Phú đã họp báo giải trình, xác nhận có nhập tôm nguyên liệu từ Ấn Độ, nhưng số lượng rất nhỏ, khoảng 10% so với tổng lượng xuất và tái xuất vào Mỹ. Đồng thời theo thông cáo báo chí của Công ty Minh Phú, vẫn chưa nhận được bất kỳ yêu cầu hay thông báo nào từ cơ quan chức năng của Mỹ.

Dù sao từ yếu tố tác động khách quan trên, về mặt tâm lý, sự kiện trên ít nhiều tác động khiến giá tôm nguyên liệu trong nước giảm thêm.

Dự đoán của các DN xuất khẩu thủy sản trong vùng, giá tôm có thể còn duy trì mức thấp đến khoảng đầu quý IV/2019 giá tôm nuôi mới hồi phục trở lại, vì đến lúc này vụ tôm chính đã qua đợt thu hoạch rộ và nhu cầu thu mua nguyên liệu từ các nhà máy chế biến tăng trở lại nhằm đáp ứng cho nhu cầu kế hoạch xuất hàng giai đoạn cuối năm.

LÚA GẠO

Xuất khẩu gạo gặp nhiều khó khăn

Sáng 24/6, Hội nghị Sơ kết Xuất khẩu gạo 6 tháng đầu năm 2019 và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu gạo những tháng cuối năm 2019 diễn ra. Theo Bộ Công thương, 6 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu gạo gặp nhiều khó khăn do nhu cầu từ các thị trường nhập khẩu gạo trên thế giới sụt giảm.

Ngoại trừ Philippines, các thị trường truyền thống nhập khẩu gạo lớn của Việt Nam như Trung Quốc, Indonesia và Bangladesh đều đồng loạt giảm nhập khẩu trong nửa đầu năm và dự báo cả năm 2019 với những lý do khác nhau như tồn kho vụ cũ ở mức cao tại Trung Quốc, năm bầu cử ở Indonesia hay khôi phục sản xuất sau lũ lụt ở Bangladesh.

Nếu như 5 tháng đầu năm 2018, xuất khẩu gạo của Việt Nam sang 3 thị trường nói trên đạt 1,44 triệu tấn thì 5 tháng đầu năm 2019 giảm chỉ còn 239.000 tấn (giảm trên 6 lần). Tính chung 5 tháng đầu năm, xuất khẩu của Việt Nam đạt 2,76 triệu tấn với giá trị 1,18 tỉ USD, giảm lần lượt 6,3% về khối lượng và 20,4% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. Giá xuất khẩu gạo cũng giảm rất mạnh trong đầu năm 2019 khi trung bình chỉ còn 427,5 USD/tấn, tức giảm tới gần 77 USD/tấn so với cùng kỳ. 

Philippines trở thành thị trường xuất khẩu chính với 38,6% tổng lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam, đạt 1,06 triệu tấn với giá trị 423,3 triệu USD. Xuất khẩu gạo sang Philippines đã tăng gần 3 lần về lượng và 2,4 lần về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái.

Theo Bộ Công thương, dù đã có những nỗ lực trong thu mua và giữ giá lúa gạo đầu năm cho người trồng lúa, nhưng do chưa có những phiếu tập trung khối lượng lớn để dẫn dắt thị trường nên xuất khẩu gạo còn gặp nhiều khó khăn. 

Theo dự báo tháng 6/2019 của USDA (Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ), nguồn cung lúa, gạo thế giới được dự báo tăng do sản lượng gạo của các nước sản xuất lớn tăng cùng với yếu tố giảm nhập khẩu từ các thị trường nhập khẩu lớn như Trung Quốc, Indonesia và Bangladesh dẫn đến kết quả xuất khẩu gạo của 3 nước xuất khẩu hàng đầu là Ấn Độ, Thái Lan và Việt Nam đều ảm đạm.

CÀ PHÊ

Giá cà phê có xu hướng giảm nhẹ cùng chiều với giá thế giới

Cục Xuất nhập khẩu cho biết những ngày đầu tháng 6/2019, giá cà phê trong nước giảm theo xu hướng giá thế giới. So với ngày 31/5/2019, giá cà phê Robusta nhân xô trong nước giảm từ 0,9 – 5,2%, nhưng tăng từ 2,0 – 7,1% so với ngày 11/5/2019.

Cụ thể, ngày 11/6/2019, giá cà phê nhân xô đứng ở mức thấp nhất là 31.200 đồng/kg tại huyện Bảo Lộc tỉnh Lâm Đồng; mức cao nhất là 33.200 đồng/kg tại các huyện Cư M'gar và Buôn Hồ tỉnh Đắk Lắk. Tại các kho quanh khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, giá cà phê Robusta loại R1 giảm 1,2% so với ngày 31/5/2019, giao dịch ở mức 34.100 đồng/kg, nhưng tăng 5,6% so với ngày 11/5/2019.

Đến ngày 22/6, giá cà phê tại Lâm Đồng ổn định, huyện Bảo Lộc là 32.100 đồng/kg, tại Lâm Hà và Di Linh ở  ngưỡng 32.000 đồng/kg. Trong khi đó, giá cà phê tại Đắk Lắk giảm nhẹ 100 đồng/kg so với ngày 18/6, ở huyện Cư M'gar giảm còn 33.300 đồng/kg, giá cà phê tại Buôn Hồ về l ngưỡng 33.200đồng/kg. Giá cà phê tại Gia Lai  không đổi ở ngưỡng  33.000 đồng/kg. Giá cà phê tại Kon Tum giữ ở mức 33.300 đồng/kg. Giá cà phê giao tại cảng TP HCM đứng yên ở ngưỡng 34.400đồng/kg so với cuối tuần trước đó (18/6).

Tới thời điểm cuối tháng, vào sáng 28/6, giá cà phê tại hầu hết các vùng trồng tiêu trọng điểm Tây Nguyên và miền Nam quay đầu giảm 100 đồng/kg. Khu vực Tây Nguyên dao động trong khoảng 32.500 - 33.800 đồng/kg. Trong đó, giá cà phê cao nhất ghi nhận tại tỉnh Đắk Lắk (33.800 đ/kg) và thấp nhất tại Lâm Đồng (32.500 đ/kg). 

Về tình hình xuất khẩu, theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, xuất khẩu cà phê tháng 5/2019 đạt 146.200 tấn, trị giá 238,22 triệu USD, tăng 2,0% về lượng, nhưng giảm 2,1% về trị giá so với tháng 4/2019, so với tháng 5/2018 giảm 2,4% về lượng và giảm 19% về trị giá. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu cà phê của nước ta đạt 777.700 tấn, trị giá 1,33 tỷ USD, giảm 11,8% về lượng và giảm 22% về trị giá so với 5 tháng đầu năm 2018.

Giá xuất khẩu bình quân mặt hàng cà phê tháng 5/2019 đạt mức 1.629 USD/tấn, giảm 4,1% so với tháng 4/2019 và giảm 17,1% so với tháng 5/2018. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2019, giá xuất khẩu bình quân cà phê đạt mức 1.710 USD/tấn, giảm 11,5% so với 5 tháng đầu năm 2018.

HẠT TIÊU

Giá hạt tiêu ít biến động trong tháng 6/2019

Giá hạt tiêu tính đến thời điểm ngày 28/6 diễn biến trái chiều ở hai tỉnh Gia Lai và Đồng Nai. Cụ thể, giá tiêu Châu Đức (Bà Rịa – Vũng Tàu) đang có mức 47.000 đồng/kg. Giá tiêu Đắk Lắk (Ea H’leo), Đắk Nông (Gia Nghĩa) là 46.000 đồng/kg. Giá hồ tiêu ở Bình Phước có giá 46.500 đồng/kg, Giá hồ tiêu tại Gia Lai giữ mức 45.000 đồng/kg. Giá tiêu tại Đồng Nai ở mức 44.000 đồng/kg, giảm 500 đồng/kg so với giao dịch trước đó.

Theo Cục Xuất nhập khẩu, đầu tháng 6, giá tiêu đen và tiêu trắng trên thị trường thế giới tăng so với tháng 5. Cụ thể, tại Brazil, ngày 10/6 giá tiêu đen xuất khẩu của Brazil tăng 6,7% so với ngày 31/5 lên mức 2.400 USD/tấn.

Tại Việt Nam, ngày 11/6 giá tiêu đen loại 500 g/l và 550 g/l tăng lần lượt 4,4% và 4,3% so với ngày 31/5, lên mức 2.350 USD/tấn và 2.415 USD/tấn. Giá tiêu trắng xuất khẩu tăng 3% so với ngày 31/5, lên mức 3.430 USD/tấn, so với ngày 10/5 tăng 6,9%.

Đầu tháng 6/2019, giá hạt tiêu tại thị trường trong nước tăng từ 1,1-2,3% so với ngày 31/5/2019. Ngày 11/6/2019, giá hạt tiêu tại thị trường trong nước thấp nhất ở mức 44.000 đ/kg tại tỉnh Đồng Nai; giá cao nhất ở mức 46.000 đ/kg tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Giá hạt tiêu trắng ở mức 71.000 đ/kg, thấp hơn so với mức giá 97.000 đ/kg cùng kỳ năm trước.

Về xuất khẩu, theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, tháng 5, xuất khẩu hạt tiêu đạt 38 nghìn tấn, trị giá 93,43 triệu USD, tăng 1,9% về lượng, nhưng giảm 0,7% về trị giá so với tháng 4/2019; tăng 64,6% về lượng và tăng 24,3% về trị giá so với tháng 5/2018.

Lũy kế 5 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu hạt tiêu đạt 146 nghìn tấn, trị giá 376,37 triệu USD, tăng 33% về lượng, nhưng giảm 1,3% về trị giá so với 5 tháng đầu năm 2018.

Tháng 5, giá xuất khẩu bình quân hạt tiêu đạt mức 2.458 USD/tấn, giảm 2,6% so với tháng 4/2019 và giảm 24,5% so với tháng 5/2018. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2019, giá xuất khẩu bình quân hạt tiêu đạt mức 2.579 USD/tấn, giảm 25,8% so với 5 tháng đầu năm 2018.

CAO SU

Xuất khẩu cao su sang các thị trường lớn vẫn tăng mạnh

Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết, trong 10 ngày đầu tháng 6/2019, giá mủ cao su nguyên liệu trong nước tăng theo xu hướng của thị trường thế giới. Cụ thể ngày 11/6/2019, tại Đắk Lắk giá thu mua mủ cao su nước tại vườn và tại nhà máy tăng 15 đ/độ TSC so với cuối tháng 5/2019, đạt lần lượt 295 đ/độ TSC và 300 đ/độ TSC.

Theo Tổng cục Hải quan, tháng 5/2019 xuất khẩu cao su tăng 2,7% về lượng và tăng 3,1% về trị giá so với tháng 4/2019, đạt 77,48 nghìn tấn, trị giá 111,79 triệu USD, nhưng giảm 28,8% về lượng và giảm 28,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu cao su đạt 491,65 nghìn tấn, trị giá 667,38 triệu USD, tăng 11,2% về lượng và tăng 3,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Giá xuất khẩu cao su của Việt Nam trong tháng 5/2019 đạt bình quân 1.443 USD/tấn, tăng 0,4% so với tháng 4/2019, nhưng giảm 0,1% so với cùng kỳ năm 2018.

Nhìn chung, trong 5 tháng đầu năm 2019, lượng cao su xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn tăng so với cùng kỳ năm 2018, trừ một số thị trường như Malaysia, Đài Loan, Đức…

Theo Cục Xuất nhập khẩu, trong tháng 5/2019, xuất khẩu cao su của Việt Nam chưa bị ảnh hưởng bởi căng thẳng thương mại giữa Mỹ–Trung Quốc. Trong khi, giá cao su nguyên liệu và xuất khẩu vẫn duy trì đà phục hồi do nguồn cung tại các nước sản xuất lớn bị hạn chế. Tuy nhiên, Trung Quốc hiện sử dụng khoảng 70% cao su tự nhiên cho ngành công nghiệp sản xuất lốp xe, việc Mỹ áp thuế lên lốp xe nói riêng và các sản phẩm làm từ cao su nói chung của Trung Quốc khiến nhập khẩu cao su của nước này có xu hướng giảm. Vì Trung Quốc là thị trường tiêu thụ cao su lớn nhất của Việt Nam, chiếm hơn 60% tổng lượng cao su xuất khẩu, nên việc Mỹ tăng thuế đối với linh kiện ô tô nhập khẩu từ Trung Quốc sẽ ảnh hưởng tới xuất khẩu cao su trong thời gian tới. Do đó, để tránh phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc, các doanh nghiệp cần đa dạng hóa thị trường xuất khẩu.

(TTGCVT /T.Hiền tổng hợp) 

 

Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (024) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (024) 39762593 
Email:ttgcvattu1989@gmail.com