Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Thị trường hàng hóa nguyên liệu trong nước tháng 5/2019
Cập nhật: 1-6-2019

VÀNG

Giá vàng ít biến động trong tháng 5/2019


Mở cửa lúc 8h30 sáng 31/5 – ngày cuối cùng của tháng, giá vàng miếng trong nước được Tập Đoàn Vàng bạc đá quý Doji niêm yết ở mức: 36,35 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,45 triệu đồng/lượng (bán ra), tăng 100-150 ngàn đồng ở chiều bán ra so với cuối phiên liền trước. Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn niêm yết giá vàng SJC ở mức 36,30 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,49 triệu đồng/lượng (bán ra), tăng 150 ngàn đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với cuối giờ ngày 30/5. Theo Doji, giao dịch tiếp tục ảm đạm. Tuy nhiên, những biến động đảo chiều liên tục của giá vàng trên thế giới là cơ hội dành cho các nhà đầu tư.

Nhìn chung, giá vàng trong nước chịu tác động của giá thế giới. Tuy nhiên, trong vài tháng trở lại đây, dường như áp lực bật tăng hoặc giảm sâu không có tác động quá nhiều đến giá vàng trong nước. Giá vàng trong tháng 5 biến động trong biên độ hẹp do lực cầu trong nước yếu.

Ở tuần đầu tiên của tháng sau kỳ nghỉ lễ dài, giá vàng trong nước hầu như đi ngang qua 5 phiên. Giá mua vào chỉ ở mức 36,18 triệu đồng/lượng và bán ra là 36,37 triệu đồng/lượng. Giá vàng trong nước đã thờ ơ mặc cho các thông tin biến động trên thị trường tài chính, đặc biệt là khi giá vàng thế giới có những phiên tăng mạnh. Tuy nhiên, theo Doji, có những phiên giao dịch nhiều nhà đầu tư đã nắm bắt cơ hội mua vào trong bối cảnh những thông tin từ thị trường thế giới được cho là hỗ trợ cho kim loại quý trong ngắn hạn. Thị trường ghi nhận lượng khách mua vàng vào vẫn chiếm ưu thế.

Bước sang tuần thứ 2, giá vàng trong nước có xu hướng tăng nhẹ và giảm vào phiên cuối tuần. Giá dao động trong khoảng 36,24 – 36,37 triệu đồng/lượng (chiều mua vào) và 36,43 – 36,56 triệu đồng/lượng (chiều bán ra). Giá vàng tăng là do tác động của giá vàng thế giới tăng mạnh do chứng khoán Mỹ và châu Âu biến động mạnh và bất ổn gia tăng tại khu vực Trung Đông. Theo nhận định của Doji, các nhà đầu tư trong nước đã tranh thủ mức giá cao qua các phiên giữa tuần để bán hàng ra chốt lời, trong khi chỉ có số ít nhà đầu tư mua vào theo nhu cầu với số lượng nhỏ lẻ.

Trung tuần tháng 5, giá vàng trong nước giao dịch ổn định do thị trường vàng thế giới dịch chuyển trong biên độ hẹp và không để lại dấu ấn nổi bật. Tham gia thị trường trong các phiên phần lớn là nhà đầu tư theo nhu cầu bán ra. Mức giá mua vào trong 5 ngày của tuần là từ 36,13 – 36,23 triệu đồng/lượng và giá bán ra là 36,32 -36,42 triệu đồng/lượng. Các nhà đầu tư đều có chung tâm lý dè dặt, thận trọng và tìm thêm những cơ hội ở các phiên tiếp theo.

Trước diễn biến lình xình của kim loại quý thời điểm hiện tại, các chuyên gia cho rằng giá vàng trong ngắn hạn vẫn biến chuyển linh hoạt và đây sẽ là cơ hội dành cho các nhà đầu tư. Hiện những thông tin kinh tế, chính trị từ thị trường quốc tế trong thời gian tới vẫn là những ẩn số.

ĐÔ LA

Tỷ giá trung tâm liên tục thiết lập đỉnh mới kể từ đầu năm, giá đô la tại ngân hàng biến động


Trái ngược với sự bình lặng của giá vàng, tỷ giá trung tâm ngay từ tuần đầu tiên của tháng 5 đã tăng nóng khi chỉ qua 5 ngày, tỷ giá đã tăng tới 27 đồng. Mức thấp nhất tuần (đến ngày 10/5) là 23.030 đồng/USD vào sáng 6/5, và mức cao nhất là sáng 10/5 với mức công bố của NHNN là 23.057 đồng/USD. Nguyên nhân tăng cao của tỷ giá trung tâm được cho là bị ảnh hưởng bởi các thông tin diễn biến thương mại Mỹ - Trung vẫn đang căng thẳng nhưng những số liệu gần đây cho thấy kinh tế vĩ mô của Mỹ vẫn tăng trưởng khá tốt. Nó giúp đồng USD tăng giá trong những ngày vừa qua.

Tại các NHTM, đã có thời điểm giá giao dịch đồng USD cao hơn cả thị trường tự do. Đầu giờ sáng ngày 8/5, các ngân hàng thương mại yết giá bán ra USD phổ biến trong khoảng 23.400-23.420 đồng, trong khi trên thị trường tự do, những điểm giao dịch trên phố Hà Trung (Hà Nội) chỉ bán ra ở ngưỡng 23.360-23.370 đồng. Trước đó, tình trạng này cũng diễn ra từ đầu tuần với mức chênh lệch giữa kênh chính thức và kênh tự do từ 40-60 đồng. Việc các ngân hàng đẩy giá bán USD lên cao hơn cả thị trường tự do, theo một số chuyên gia, xuất phát từ tình trạng các nhà băng đã bán quá đà ngoại tệ cho Ngân hàng Nhà nước dẫn tới nguồn cung trên thị trường tạm thời không còn dồi dào như trước.

Bước sang tuần 2, tỷ giá trung tâm tăng giảm xen kẽ qua các phiên, dao động ở khoảng 23.054 – 23.064 triệu đồng/lượng. Tại các NHTM, giá giao dịch USD biến động nhẹ. Tới đầu giờ sáng 17/5, đa số các ngân hàng thương mại tăng tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ thêm 10-15 đồng so với cuối giờ phiên liền trước, phổ biến ở mức 23.260 đồng (mua) và 23.375 đồng (bán). Tính từ đầu năm 2018, tỷ giá đồng đô la Mỹ trong hệ thống ngân hàng tăng 540-560 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra.

Trung tuần tháng 5, tỷ giá trung tâm dù không biến động nhiều nhưng vẫn đứng ở mức cao. Có 2 phiên đầu tuần, tỷ giá đều đứng ở mức 23.069 đồng/USD và là mức cao nhất tuần (tăng 15 đồng so với cuối tuần trước). Mức thấp nhất là 23.063 đồng/USD. Tại các ngân hàng thương mại, sau khi ngày thứ Sáu (17/5) điều chỉnh tăng tới hơn 80 đồng/USD - bước tăng trong vòng một ngày cao kỷ lục từ trước tới nay - thì đến sáng ngày 20/5 lại tăng tiếp lên đỉnh mới. Cụ thể, Vietcombank và BIDV cùng báo tỷ giá ở mức 23.350 - 23.470 đồng (mua vào - bán ra bằng tiền mặt), cao hơn 20 đồng so với cuối tuần trước. Agribank cũng tăng song niêm yết tỷ giá thấp hơn đáng kể so với 2 ngân hàng trên, ở mức 23.345 - 23.440 đồng. Tới sáng 24/5, tỷ giá USD/VND ở một số ngân hàng phổ biến ở mức: 23.330 đồng/USD và 23.450 đồng/USD (mua vào và bán ra).

Cũng trong tuần này, đại diện NHNN cho biết “NHNN sẵn sàng bán ngoại tệ để bình ổn thị trường”. Đó là khẳng định của ông Phạm Thanh Hà, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ trước diễn biến tăng mạnh của tỷ giá kể từ đầu tháng 5 tới nay.Vụ trưởng Phạm Thanh Hà cho rằng nguyên nhân khiến tỷ giá tăng trong những ngày qua chủ yếu do những thông tin về đàm phán thương mại Mỹ - Trung làm gia tăng quan ngại thị trường về khả năng xung đột thương mại quốc tế diễn biến tiêu cực, đồng thời việc đồng nhân dân tệ tiếp tục giảm giá trong một số ngày từ cuối tháng 4 đến nay đã tác động mạnh tới tâm lý thị trường ngoại tệ trong nước, từ đó gây áp lực tới tỷ giá.Tuy nhiên, qua theo dõi của NHNN, thanh khoản thị trường vẫn ổn định, cân đối cung cầu ngoại tệ tổng thể về cơ bản vẫn tương đối thuận.

Cho tới sáng 31/5, tỷ giá trung tâm có xu hướng giảm nhẹ khi NHNN công bố ở mức: 23.065 đồng (giảm 2 đồng). Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch NHNN hiện mua vào ở mức 23.200 đồng (không đổi) và bán ra ở mức 23.707 đồng (tăng 1 đồng). Cũng trong đầu giờ sáng 31/5, đa số các ngân hàng thương mại giữ tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ gần như không đổi so với cuối giờ phiên liền trước, phổ biến ở mức 23.360 đồng (mua) và 23.470 đồng (bán).

Tính từ đầu năm 2018, tỷ giá đồng đô la Mỹ trong hệ thống ngân hàng tăng 550-570 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra.

THÉP XÂY DỰNG

Giá thép tăng nhẹ so với tháng 4/2019

Bước vào giai đoạn cao điểm của ngành xây dựng, giá sắt thép trong nước tháng 05/2019 đã tăng giá thêm từ 100 – 200đ/kg so với tháng 04/2019. Nguyên nhân tăng giá có thể dễ dàng dự đoán đó là do giá điện và xăng dầu tăng cao, dẫn đến tăng chi phí đầu vào cho các nhà máy sản xuất thép. Theo dự báo, xu hướng tăng có thể sẽ kéo dài đến tận tháng 9 khi mà giá nhiên liệu tiếp tục có dấu hiệu tăng tiếp trong thời gian tới. Bên cạnh đó việc tổng cầu thép đang tăng do các dự án đang tích cực vào giai đoạn triển khai cũng một phần làm giá sắt thép trong nước tiếp tục tăng.

Hiện tại giá bán tại các nhà máy ở mức khoảng từ 12.300 – 15.000 đồng/kg (giá giao nhà máy, chưa bao gồm 10% VAT, chiết khấu bán hàng).Giá thép xây dựng bán lẻ phổ biến tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung dao động ở mức 12.800 – 15.600 đồng/kg. Tại các tỉnh miền Nam, giá thép dao động ở mức 13.000 – 15.500 đồng/kg.

Thị trường tiêu thụ với định mức ổn định và nguồn cung đảm bảo của các nhà máy sản xuất thép . Đây sẽ là thời điểm tốt để khách hàng có nhu cầu cân nhắc thời điểm để mua vào.

Một thông tin đáng chú ý là vào thời điểm giữa tháng 5/2019, Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương) đã miễn trừ biện pháp chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại đối với một số sản phẩm thép dây, thép cuộn nhập khẩu. Đối tượng áp dụng biện pháp chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại là các sản phẩm thép cuộn, thép dây có mã HS: 7213.91.90, 7217.10.10, 7217.10.29, 7229.90.99, 9839.10.00 nhập khẩu vào Việt Nam từ các nước/vùng lãnh thổ khác nhau.

Tuy nhiên, theo Cục Phòng vệ thương mại các sản phẩm thép cuộn, thép dây sẽ được loại trừ khỏi phạm vi áp dụng biện pháp chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại nếu thép chứa một trong các nguyên tố có hàm lượng phần trăm (%) theo khối lượng thuộc phạm vi sau: Các-bon (C) > 0,37%; Si-líc (Si) > 0,60%; Crôm (Cr) > 0,60%; Ni-ken (Ni) > 0,60%; Đồng (Cu) > 0,60%. Thép chứa đồng thời các nguyên tố có hàm lượng phần trăm (%) theo khối lượng thuộc phạm vi sau: Măng-gan (Mn) từ 0,70% đến 1,15%; Lưu huỳnh (S) từ 0,24% đến 0,35%. Bên cạnh đó, thép có mặt cắt ngang hình tròn từ 14mm trở lên và các sản phẩm thép trong nước chưa sản xuất được cũng được miễn trừ biện pháp chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại.

XI MĂNG

Giá xi măng tháng 5/2019 chưa có chiều hướng hạ nhiệt

Từ giữa tháng 3 đến đầu tháng 5 năm nay, giá xi măng đã được điều chỉnh tăng 2 lần với tổng mức tăng từ 50.000 – 70.000 đồng/tấn tuỳ loại. Theo lý giải của các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh trên nhiều địa bàn, giá điện, giá xăng dầu đồng loạt tăng khiến chi phí đầu vào cho sản xuất xi măng tăng mạnh. Điều này khiến doanh nghiệp xi măng buộc phải tăng giá bán để ổn định sản xuất. Vì vậy, sau thép và cát, giá xi măng tăng là điều dự báo từ trước.

Nhiều nhà thầu xây dựng cũng đang như “ngồi trên lửa” vì giá xi măng tăng cao. 

Theo tìm hiểu, các dòng xi măng được người tiêu dùng lựa chọn chủ yếu hiện nay là Hoàng Mai, Nghi Sơn, Bỉm Sơn và Duyên Hà. Thời điểm này, xi măng Vicem Hoàng Mai, Bỉm Sơn có giá giao động từ 1.400.000 – 1.500.000 đồng/tấn; xi măng Duyên Hà có giá từ là 1.200.000 – 1.250.000 đồng/tấn...

Giá tăng đồng loạt khiến hoạt động của các cơ sở kinh doanh vật liệu xây dựng nhỏ lẻ cũng trở nên trầm lắng. Theo một số chủ cơ sở vật liệu xây dựng cho hay, giá xi măng tăng khiến cho sức mua giảm, lại thêm cước vận chuyển cũng tăng khiến doanh thu của cơ sở sụt giảm đáng kể.

Theo nhận định, thời gian tới giá xi măng sẽ chưa có chiều hướng “hạ nhiệt” do giá nguyên liệu đầu vào vẫn “treo” ở mức cao. Vì vậy, các nhà thầu hay chủ đầu tư có nhu cầu mua số lượng xi măng lớn cần xem xét, tính toán kỹ để có thể chủ động được nguồn hàng cũng như đảm bảo được chi phí xây dựng khi đã lập dự toán.

XĂNG DẦU

Giá xăng dầu đã có một lần tăng và 1 lần giảm trong tháng 5

Cũng như mọi tháng, mặt hàng xăng dầu trong tháng 5/2019 đã được Liên Bộ Công thương –Tài chính cân nhắc điều chỉnh giá trong 2 kỳ. Trước diễn biến giá xăng dầu tăng rồi lại giảm trên thị trường thế giới, giá xăng dầu trong nước tháng 5 đã có 1 lần tăng giá và 1 lần giảm giá. Cụ thể:

Vào 16h chiều ngày 2/5, Liên Bộ Công Thương-Tài chính quyết định tăng giá mặt hàng này:  Xăng E5RON92 tăng 985 đồng/lít; Xăng RON95-III tăng 956 đồng/lít; Dầu diesel 0.05S tăng 311 đồng/lít;....Cũng trong lần điều chỉnh này, dầu diesel 0,05S tăng 311 đồng/lít; dầu hỏa tăng 363 đồng/lít và dầu mazút 3.5S tăng 385 đồng/kg.

Về chi sử dụng Quỹ bình ổn với xăng E5 RON92 là 925 đồng/lít; xăng RON95 là 283 đồng/lít."Việc trích lập và chi sử dụng Quỹ bình ổn đối với các mặt hàng xăng dầu áp dụng từ 16 giờ, trong khi việc điều chỉnh giá bán do thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu quy định nhưng không sớm hơn thời gian trên," công văn của liên bộ nêu rõ.

Giá etanol E100 đưa vào tính giá cơ sở mặt hàng xăng E5RON92 theo Công văn số 462/BTC-QLG ngày 02 tháng 5 năm 2019 của Bộ Tài chính về điều hành kinh doanh xăng dầu là 14.791 đồng/lít (chưa có thuế GTGT).

Từ đầu năm 2019 đến nay, mặc dù giá thế giới có xu hướng tăng nhưng Liên Bộ Công Thương - Tài chính đã điều hành chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu liên tục và ở mức cao nhằm giữ ổn định giá bán xăng dầu trong nước (dịp trước, trong và ngay sau Tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019, tránh tác động cộng hưởng trong đợt điều chỉnh tăng giá điện ngày 20 tháng 3 năm 2019) hoặc hạn chế mức tăng giá bán xăng dầu trong nước. Giá bán lẻ các mặt hàng xăng trong nước vẫn đang được duy trì ở mức thấp hơn khá nhiều so với giá cơ sở.

Giá cơ sở các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến kỳ điều hành này (ngày 02 tháng 5 năm 2019) so với giá bán tối đa kỳ điều hành trước liền kề (ngày 17 tháng 4 năm 2019) là: tăng 1.910 đồng/lít xăng E5RON92; tăng 1.239 đồng/lít xăng RON95-III; tăng 311 đồng/lít dầu diesel 0.05S; tăng 363 đồng/lít dầu hỏa; tăng 385 đồng/kg dầu mazut 180CST 3.5S.

Để tiếp tục góp phần bình ổn giá cả các mặt hàng tiêu dùng, kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, căn cứ tình hình thực tế của Quỹ Bình ổn giá xăng dầu, trong kỳ điều hành này Liên Bộ Công Thương - Tài chính tiếp tục chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu để hạn chế mức tăng giá cho các mặt hàng xăng, hạn chế tác động tâm lý đến thị trường hàng hóa nói chung: Xăng E5RON92: 925 đồng/lít (kỳ trước chi 1.456 đồng/lít); Xăng RON95: 283 đồng/lít (kỳ trước chi 743 đồng/lít).

Như vậy, giá bán các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường không cao hơn mức giá: Xăng E5RON92: không cao hơn 20.688 đồng/lít;Xăng RON95-III: không cao hơn 22.191 đồng/lít;Dầu diesel 0.05S: không cao hơn 17.695 đồng/lít;Dầu hỏa: không cao hơn 16.625 đồng/lít;Dầu mazut 180CST 3.5S: không cao hơn 16.002 đồng/kg.

Tại kỳ điều chỉnh thứ 2 vào chiều ngày 17/5, theo thông tin từ liên Bộ Công Thương - Tài chính, giá bán lẻ xăng, dầu trong nước điều chỉnh giảm sau 3 lần tăng liên tiếp. Cụ thể, mỗi lít xăng E5 RON 92 giảm 200 đồng, xăng RON 95 giảm 592 đồng. Các mặt hàng dầu giảm 81-466 đồng một lít. 

Sau điều chỉnh, giá bán mới xăng E5 RON 92 không cao hơn 20.488 đồng/lít, xăng RON 95 không cao hơn 21.599 đồng/lít, dầu diesel không cao hơn 17.614 đồng/lít, dầu hỏakhông cao hơn 16.422 đồng/lít, dầu mazut không cao hơn15.536 đồng/lít.

Cùng với giảm giá bán lẻ, nhà chức trách vẫn tiếp tục xả Quỹ bình ổn xăng dầu trong bối cảnh quỹ này đang âm tại phần lớn các doanh nghiệp xăng dầu. Cụ thể, mức chi Quỹ với xăng E5 RON 92 là 457 đồng một lít, còn xăng RON 95 là 0 đồng.  

Như vậy, sau 3 lần tăng giá liên tiếp ở mức cao, hơn 3.000 đồng một lít với tuỳ loại xăng, giá xăng có đợt giảm đầu tiên kể từ giữa tháng 3 tới nay. 

Một thông tin đáng lưu ý, giá xăng dầu và giá điện tăng đã khiến chỉ số giá tiêu dùng trong tháng 5/2019 tăng 0,49% so với tháng trước và tăng 2,88% so với tháng 5/2018. Trong đó, nhóm giao thông có mức tăng cao nhất 2,64% do ảnh hưởng từ 2 đợt điều chỉnh tăng giá xăng, dầu vào thời điểm 2/5/2019 và thời điểm 17/5/2019, tác động làm CPI chung tăng 0,25%. 

GAS

Giá gas tháng 5/2019 tiếp tục tăng, lên 358.000 đồng/bình 12kg

Giá gas tháng 5/2019 đã được các đơn vị đầu mối kinh doanh công bố chiều ngày 30/4 với mức tăng 167 đồng/kg (đã VAT), tương đương 2.000 đồng/bình 12kg. 

Theo Công ty TNHH MTV Dầu khí TP.HCM (Saigon Petro), giá gas trong nước tháng 5/2019 tăng là do  giá CP bình quân tháng 5/2019 tăng 2,5 USD/tấn so với tháng 4/2019, lên 527,5 USD/tấn. Với mức tăng này, giá gas SP bán lẻ của Saigon Petro trong tháng 5/2019 cũng được điều chỉnh lên 358.000 đồng bình 12kg và 1.235.000 đồng/bình 45 kg.

Với mức tăng này, gas Petrolimex loại 12kg (màu xám, đỏ, xanh lam, xanh lá) cũng được điều chỉnh giá bán lẻ lên mức 334.000 đồng/bình. Gas Petrolimex loại 13 kg: 348.300 đồng/bình.

Gas Gia Đình loại 12kg (màu xám, đỏ, xanh lam, xanh lá) cũng được điều chỉnh giá bán lẻ lên mức 341.000 đồng/bình. Gas Gia đình loại 45 kg: 1.218.000 đồng/bình.

Cùng ngày, Chi hội gas miền Nam cũng thông báo, từ ngày 1/5/2019, giá gas bán lẻ tối đa đến tay người tiêu dùng của một số thương hiệu như Petrovietnam, SP gas, Petrolimex, gas Dầu khí… có mức phổ biến là 358.000 đồng/bình 12kg (tăng 2.000 đồng/bình 12kg so với tháng 4).  

Mức giá gas mới sẽ áp dụng từ ngày 1/5/2019 và hiện đã được các đơn vị kinh doanh triển khai cập nhật thông tin và thông báo điều chỉnh giá gas đến các chi nhánh cửa hàng, đại lý bán lẻ trên địa bàn, để đảm bảo tuân thủ quy định và quyền lợi của người tiêu dùng.

Trước đó, giá gas tháng đầu năm 2019 được điều chỉnh tăng 4.000 đồng mỗi bình 12 kg, tháng 2 tăng 12.000 đồng/bình 12kg, tháng 3 tăng 17.000 đồng/bình 12kg, tháng 4 tăng 7.000 đồng/bình 12kg. Như vậy, đây là tháng thứ năm liên tiếp giá gas được điều chỉnh tăng với tổng cộng 42.000 đồng/bình 12kg.

Ô TÔ

Thị trường ô tô hạ nhiệt tháng thứ 3 liên tiếp

Tháng 5 là tháng thứ 3 liên tiếp giá ô tô 2019 giảm sâu và dường như thị trường đã xuống đáy khi có mẫu xe hạ nhiệt mạnh đến hàng trăm triệu.  Giá xe ô tô giảm mạnh nhất trong tháng 5 phải kể đến dòng xe Toyota Hiace, giảm lên tới 169 triệu đồng. Giá xe Toyota Hiace hiện còn khoảng 830 triệu đồng. Ngoài ra, mẫu xe Toyota Vios giảm từ 30 - 35 triệu đồng, theo đó, giá bán xe thực tế chỉ còn từ 500 triệu đồng.

Tình hình kinh doanh ế ẩm chung của thị trường ôtô trong thời gian vừa qua khiến nhiều hãng xe tiếp tục chạy đua giảm giá kích cầu ngay khi mới bước sang đầu tháng 5.

Thông thường bắt đầu từ quý 2-2019, thị trường ô tô trong nước sẽ bắt đầu chững lại. Một phần vì kinh tế còn nhiều khó khăn nên ảnh hưởng đến sức mua, phần vì tâm lý người tiêu dùng chần chừ chờ ưu đãi, giảm giá xe của các hãng.

Ngoài ra, theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, trong tháng 4, Việt Nam đã chi 576 triệu USD để nhập khẩu mặt hàng ô tô. Trong đó, lượng xe nguyên chiếc được nhập khẩu vào Việt Nam ước đạt 13.000 xe, đạt trị giá 256 triệu USD.

Với con số này, lượng xe nguyên chiếc nhập khẩu vào thị trường Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2019 đã đạt đến con số khoảng 52.000 chiếc, trị giá 1,139 tỷ USD.

Số liệu thống kê cho thấy, trong tháng 4/2019, lượng xe nhập khẩu nguyên chiếc về Việt Nam đã tăng tới 502% về lượng và 422% lần về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái. Còn tổng 4 tháng đầu năm nay xe nhập khẩu tăng tới 778% về lượng và 637% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái, khi gần như không có xe nhập khẩu được đưa về Việt Nam.

Với việc ô tô nhập về ngày càng tăng qua các tháng, người tiêu dùng sẽ có nhiều sự lựa chọn hơn. Cùng với đó cuộc cạnh tranh giữa các hãng xe sẽ trở nên khốc liệt hơn, chính vì vậy các hãng tung ra những chương trình ưu đãi hấp dẫn là điều hoàn toàn dễ hiểu.

Còn theo số liệu mới nhất của Tổng cục Hải quan, 15 ngày đầu tháng 5, Việt Nam nhập khẩu tới 7.611 xe ô tô nguyên chiếc, tổng kim ngạch 163,4 triệu USD. Trong đó xe ô tô dưới 9 chỗ chiếm gần 83% số lượng của mặt hàng xe nguyên chiếc.

Ô tô tải đứng thứ 2 với 981 xe, tổng kim ngạch gần 35 triệu USD; tiếp đến là ô tô trên 9 chỗ ngồi với 51 xe, tổng kim ngạch hơn 2,9 triệu USD.

Như vậy, tính từ đầu năm, cả nước nhập 58.295 ô tô nguyên chiếc các loại, tổng kim ngạch gần 1,3 tỷ USD.

Về tình hình tiêu thụ, theo báo cáo gần đây của Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), toàn thị trường trong tháng 4/2019 tiêu thụ hơn 21.021 xe, giảm 35% so với cùng kỳ tháng 3/2018 và giảm 1% so với cùng kỳ năm ngoái. Cụ thể theo VAMA, trong tháng 4/2019, doanh số bán hàng của xe du lịch đạt 14.362 xe, giảm 36% so với tháng trước; xe thương mại đạt 6.079 xe, giảm 32% so với tháng trước; xe chuyên dụng đạt 580 xe, giảm 33% so với tháng trước.

Về nguồn gốc, trong tháng 4, sản lượng của xe lắp ráp trong nước đạt 14.047 xe, giảm 29% so với tháng trước và số lượng xe nhập khẩu nguyên chiếc là 6.947 xe, giảm 44% so với tháng trước.

Lũy kế từ đầu năm đến hết tháng 4/2019, tổng doanh số bán hàng của toàn thị trường tăng 23% so với cùng kỳ năm ngoái. Riêng xe ô tô du lịch tăng 38%; xe thương mại giảm 1% và xe chuyên dụng giảm 40% so với cùng kỳ năm ngoái.

Về nguồn gốc, doanh số bán hàng của xe lắp ráp trong nước giảm 11%, trong khi xe nhập khẩu tăng 202% so với cùng kì năm ngoái.

THỦY SẢN 

Giá cá tra giảm 6.000 đồng/kg trong 5 tháng qua

Trong 5 tháng đầu năm, ngành thủy sản duy trì mức tăng khá về sản lượng nhưng nuôi cá tra trong tháng không thuận lợi do sản lượng cá tra xuất khẩu vào thị trường Mỹ và Trung Quốc giảm, các doanh nghiệp giảm giá thu mua cá nguyên liệu.

Theo Tổng cục Thống kê, tổng sản lượng thủy sản tháng 4/2019 ước tính đạt 689,8 nghìn tấn (nuôi trồng 348,4 nghìn tấn; khai thác 341,1 nghìn tấn), tăng 5,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 520 nghìn tấn, tăng 5,8%; tôm đạt 68,2 nghìn tấn, tăng 5,2%; thủy sản khác đạt 101,6 nghìn tấn, tăng 5,5%.

Tính chung 4 tháng đầu năm, sản lượng thủy sản ước tính đạt gần 2,2 triệu tấn, tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 994,6 nghìn tấn, tăng 5,3%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 1,16 triệu tấn, tăng 4,9% .

Còn theo Bộ NN và PTNT, trong tháng 5/2019, mặt hàng thủy sản ước đạt 3,15 tỷ USD, giảm nhẹ so với cùng kỳ; trong đó cá tra ước đạt 795 triệu USD tương đương cùng kỳ, tôm các loại ước đạt 1,1 tỷ USD.

Từ đầu tháng 4 đến nay, giá cá tra trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp có xu hướng giảm khiến cho nhiều nông dân không nuôi theo mô hình liên kết rất lo lắng.Hiện giá cá tra thương phẩm có trọng lượng bình quân 0,7 – 0,9 kg/con giá hơn 23.500 đồng/kg. 

Đối với cá tra có size cỡ 1,1kg/con giá 24.000 - 25.000 đồng/kg; giá cá tra giảm khoảng 500 đồng/kg so với tháng trước và giảm 6.000 đồng/kg so với đầu tháng 1/2019. Người nuôi cá không liên kết đang lo lắng trước tình trạng giá cá giảm. 

Nhiều hộ nuôi cá tra trên địa bàn huyện Châu Thành cho biết, hơn 1 tháng nay, các đại lý thu mua cá tra phục vụ nhu cầu xuất khẩu chỉ tập trung thu mua cá tra size 1,4 - 1,5kg hoặc size 600 - 700gram.

Điều này khiến lượng cá nguyên liệu có kích cỡ còn lại gặp khó khăn về đầu ra. Cùng với đó, các hộ nuôi cá thể gặp khó về việc tìm kiếm đầu ra vì phần lớn phụ thuộc vào đại lý thu mua. 

Về tình hình xuất khẩu, Bộ Công thương cho biết, trên thực tế, trong 10 doanh nghiệp xuất khẩu cá tra lớn nhất sang Hoa Kỳ (chiếm thị phần khoảng 80% xuất khẩu sang Hoa Kỳ), có 2 doanh nghiệp xuất khẩu lớn và nhiều nhất là Vĩnh Hoàn và Biển Đông đều không thuộc phạm vi rà soát của POR14 và được hưởng mức thuế suất của các đợt rà soát trước đó là 0%, do đó, hiện tại, kết luận của POR14 không có tác động nhiều đến hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam, tuy nhiên, dưới tác động của xung đột thương mại Hoa Kỳ - Trung Quốc, xuất khẩu cá tra sang thị trường Hoa Kỳ có thể bị ảnh hưởng. 

Trái ngược với những khó khăn tại thị trường Hoa Kỳ, tại thị trường Trung Quốc lại có khả năng khởi sắc khi Trung Quốc đã xác nhận 33 mặt hàng thủy sản của Việt Nam được phép nhập khẩu miễn thuế vào nước này.Các mặt hàng này đều thuộc sản phẩm thế mạnh của Việt Nam như tôm hùm, tôm sú, tôm biển, cá tuyết, nghêu, cá tra đông lạnh, cá nục gai, cá ngừ đại dương, cá basa, bạch tuộc....

VASEP thông tin thêm, hiện có hơn 150 doanh nghiệp Việt Nam tham gia xuất khẩu thủy sản sang thị trường Trung Quốc. Trong đó có khoảng 45 doanh nghiệp xuất khẩu cá tra, cá basa, gần 50 doanh nghiệp xuất khẩu tôm và một số doanh nghiệp hải sản.

Với việc Trung Quốc nới lỏng chính sách nhập khẩu, thủy, hải sản Việt Nam đang rộng đường tiến vào thị trường đông dân nhất thế giới. Trung Quốc được đánh giá là một trong những thị trường quan trọng và có tiềm năng tiêu thụ thủy sản lớn, với giá trị nhập khẩu thủy sản Việt Nam lên đến trên 1 tỉ USD/năm.

Nguồn cung tôm sẽ tăng mạnh, có dấu hiệu giá giảm

Dự báo, từ tháng 6/2019 mức cung tôm sẽ tăng mạnh, nhất là do các nước vào vụ thu hoạch như Việt Nam, Thái Lan, Trung Quốc. Giá tôm có thể giảm 10.000-15.000 đ/kg so với giá tuần cuối tháng 5/2019, cụ thể vào thời điểm vào vụ cao điểm tôm cỡ 40 con/kg giá 115.000 đ/kg, tôm 70 con còn 85.000 đ/kg.

Do từ đầu năm đến nay thời tiết khá thuận lợi, tình hình thị trường cung ứng tôm trong năm 2019 từ các nước nuôi tôm có sản lượng lớn như Ấn Độ, Ecuador, Indonesia, Thái Lan đều tăng hơn năm 2018. Trong khi mấy năm gần đây tôm cỡ lớn từ Ấn Độ quá nhiều, xu hướng thị trường thiếu tôm cỡ nhỏ từ 70-100 con. Mỗi năm nhu cầu thị trường tăng trưởng tự nhiên 3-4%, nhu cầu sẽ tăng nếu giá giảm.

Theo Tổng cục Thủy sản, qua 5 tháng đầu năm 2019 diện tích thả nuôi tôm cả nước đạt trên 634.200 ha, bằng 100,5% so cùng kỳ năm 2018 (trong đó tôm sú trên 581.800 ha, tôm chân trắng hơn 52.300 ha). Sản lượng thu hoạch đạt 211.800 tấn, bằng 102,3% so cùng kỳ năm 2018 (trong đó tôm sú hơn 121.800 tấn, tôm thẻ hơn chân trắng 89.900 tấn).

Khuyến cáo của các doanh nghiệp xuất khẩu tôm, muốn tăng sức cạnh tranh cho tôm Việt Nam, người nuôi tôm cần hướng tới nuôi tôm sạch đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế thị trường yêu cầu như ASC, BAP…để dễ thâm nhập vào các hệ thống phân phối thủy sản cao cấp, có giá tiêu thụ tốt.

LÚA GẠO

Xuất khẩu gạo 5 tháng đầu năm mang về 1,21 tỷ USD 

Trong tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông lâm thuỷ sản (NLTS) của tháng 5, nông sản chính ước đạt 1,67 tỷ USD, lâm sản chính ước đạt 959 triệu USD, thuỷ sản ước đạt 728 triệu USD, sản phẩm chăn nuôi ước đạt 58 triệu USD.

Riêng về xuất khẩu gạo, khối lượng gạo xuất khẩu tháng 5/2019 ước đạt 739 nghìn tấn với giá trị đạt 314 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu gạo 5 tháng năm 2019 ước đạt 2,83 triệu tấn và 1,21 tỷ USD, giảm 4% về khối lượng và giảm 20,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018. Philippines đứng vị trí thứ nhất về thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2019 với 35,9% thị phần. Trên thị trường thế giới, giá gạo diễn biến giảm trong tháng qua. Trong đó, giá gạo Ấn Độ chạm mức thấp 7 tháng do nhu cầu yếu, gạo Thái Lan không đổi ở mức 400 USD/tấn do nhu cầu tiêu thụ ở mức thấp và thị trường được dự đoán sẽ không có giao dịch lớn trong ngắn hạn.

Tại thị trường trong nước, giá lúa, gạo tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) ổn định trong tháng qua.Theo hệ thống cung cấp giá tại địa phương, tại An Giang, lúa tươi IR50404 duy trì ở mức 4.800 đ/kg; lúa OM 4218 ở mức 4.800 đ/kg; lúa OM 5451 ở mức 5.200 đ/kg; gạo IR50404 ở mức 9.500 – 10.500 đ/kg; gạo chất lượng cao ở mức 13.000 đ/kg; gạo thơm đặc sản jasmine ở mức 13.500 đ/kg.Tại Vĩnh Long, lúa ướt IR50404 ở mức 4.600 đ/kg; lúa khô IR50404 giữ ở mức 5.300 đ/kg; gạo IR50404 ở mức 12.000 đ/kg; gạo jasmine ở mức 14.000 đ/kg.Tại Bạc Liêu, lúa RVT đang thu hoạch có giá 6.000 - 6.500 đ/kg.

Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ NN&PTNT) dự báo, giá lúa gạo trong nước có thể giảm trong tháng tới do thu hoạch vụ hè thu khiến nguồn cung gia tăng.

Một thông tin đáng chú ý trong tháng qua đó là việc kim ngạch xuất khẩu gạo giảm mạnh chưa phải là điều đáng lo nhất. Quan ngại nhất là Trung Quốc đã tụt xuống vị trí thứ 7 trong danh sách các thị trường nhập khẩu gạo Việt Nam. Nhiều năm liền từ 2011-2017, Trung Quốc luôn là thị trường nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam khi chiếm đến khoảng 35-40% kim ngạch xuất khẩu toàn ngành.

Trong 5 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu gạo sang Trung Quốc giảm tới 95,14% về lượng và 95,48% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái, khiến giá trị xuất khẩu gạo sang thị trường này chưa đạt 30 triệu USD, quá nhỏ so với tổng kim ngạch xuất khẩu gạo 1,12 tỷ USD trong thời gian này.

Theo Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản, từ tháng 6/2018 đến nay Trung Quốc đánh thuế nhập khẩu gạo Việt Nam lên mức 50%, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến xuất khẩu mặt hàng này.

Điều đáng nói, trong số 156 doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Việt Nam, từ cuối năm ngoái đến nay, Trung Quốc chỉ cấp giấy phép cho 22 doanh nghiệp xuất khẩu gạo vào nước này. Để có "giấy thông hành" đưa gạo vào Trung Quốc, tất cả các lô gạo phải được cơ quan chức năng của Trung Quốc kiểm tra chất lượng, từ vùng trồng, nhà máy sản xuất cho đến kho bãi và công tác khử trùng, trước khi gạo được xuất khẩu.

Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản nhận định, thị trường xuất khẩu gạo Việt Nam năm nay đang đối mặt với nhiều khó khăn khi các quốc gia thu mua lớn có xu hướng giảm nhu cầu, tiến tới tự chủ nguồn lương thực, trong khi các nước xuất khẩu gạo tăng cường xuất ra thị trường. Do đó, các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu gạo cần phải cơ cấu lại các sản phẩm xuất khẩu, tiếp tục đầu tư tìm kiếm, mở rộng, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu.

Cùng với những tháo gỡ về chính sách, thị trường từ phía Nhà nước và các bộ, ngành, các doanh nghiệp cần liên kết với nông dân để hình thành chuỗi sản xuất khép kín, giảm giá thành và tăng sức cạnh tranh so với các đối thủ.

CÀ PHÊ

Giá cà phê tăng trở lại sau khi xuống dưới mức 30 nghìn đồng/kg 

Từ đầu tháng 4/2019, giá cà phê trong nước biến động giảm liên tục cùng xu hướng với thị trường thế giới. So với tháng 3/2019, giá cà phê vối nhân xô các tỉnh Tây Nguyên giảm 800 - 900 đồng/kg xuống còn 30.600 - 31.500 đồng/kg.

Trong tuần đầu tiên của tháng 5, giá cà phê nhân xô tại các tỉnh Tây Nguyên đã giảm xuống mức 29.100 - 29.900 đồng/kg. Đây là mức giá cà phê thấp kỷ lục trong vòng 10 năm qua. Trong khi, vào năm 2011, thị trường cà phê trong nước đánh dấu bởi mốc giá kỷ lục 50.000 đồng/kg robusta nhân xô, và từ đó đến nay ngày càng rời xa mốc này.

Theo Cục Xuất nhập khẩu, trên địa bàn tỉnh Tây Nguyên đang tồn một lượng lớn cà phê trong dân và ở các đại lý. Phần lớn người trồng cà phê chọn hình thức "ký gửi" tại đại lý sau khi thu hoạch, đợi khi được giá mới chốt bán.

Giá cà phê liên tục giảm trong thời gian qua khiến nông dân và các đại lý vẫn giữ hàng chờ giá. Bên cạnh đó, yếu tố thời tiết không thuận lợi đã ảnh hưởng đến quá trình canh tác, chi phí cho sản xuất tăng, trong khi giá lại ở mức thấp khiến người dân và doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn.

Trong 10 ngày giữa tháng 5, giá cà phê trong nước giảm theo xu hướng giá thế giới. Ngày 20/5, giá cà phê Robusta nhân xô tại thị trường trong nước giảm từ 0,7-2,3% so với ngày 10/5 và giảm từ 2,6-3,8% so với ngày 20/4.

Giá cà phê Robusta nhân xô ở mức thấp nhất là 29.700 đồng/kg tại các huyện Di Linh và Lâm Hà tỉnh Lâm Đồng; mức cao nhất là 30.400 đồng/kg tại các huyện Cư M'gar tỉnh Đắk Lắk và huyện la Grai tỉnh Gia Lai. Tại các kho quanh khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, cà phê Robusta loại R1 giảm 0,6% so với ngày 10/5 và giảm 2,2% so với ngày 20/4, xuống mức 31.700 đồng/kg.

Tuy nhiên, giá cà phê có xu hướng khởi sắc trở lại vào tuần cuối tháng.Vào sáng 30/5, giá cà phê tăng ở hầu hết tỉnh khu vực Tây Nguyên, với mức tăng phổ biến là 800 đồng/kg, lên mức 32.000 - 32.700 đồng/kg. Trong đó, giá cà phê cao nhất tại Đắk Lắk và thấp nhất tại Lâm Đồng.

Về tình hình xuất khẩu, theo dữ liệu báo cáo sơ bộ của Hải quan Việt Nam, xuất khẩu cà phê nửa đầu tháng 5 đạt 63.977 tấn (tương đương 1.066.283 bao), xấp xỉ mức dự kiến của giới thương nhân xuất khẩu. Giá bình quân xuất khẩu đạt mức 1.628 USD/tấn.

HẠT TIÊU

Giá hạt tiêu hầu như đi ngang trong tháng 5


Bộ Công thương cho biết, trong tháng 5/2019, giá hạt tiêu tại thị trường trong nước ổn định hoặc giảm nhẹ so với tháng 4/2019, tùy từng địa phương. Mức giá dao động từ 43.000 – 45.000 đ/kg. Cụ thể, giá tiêu tại Châu Đức (Bà Rịa - Vũng Tàu) sáng 30/5 đang có mức giá cao nhất 45.000 đồng/kg. Giá tiêu tại Đắk Lắk (Ea H'leo), Đắk Nông (Gia Nghĩa) đang có mức 44.000 đồng/kg. Giá tiêu tại Đồng Nai có giá 43.000 đồng/kg. Giá tiêu tại Gia Lai (Chư Sê) giá sẽ duy trì ở mức 43.000 đồng/kg. Bình Phước giá tiêu ở mức 44.000 đồng/kg.

Do người dân chưa xuất bán được hết lượng hồ tiêu còn tồn đọng tại kho và hiện tại do nguồn cung khá lớn bởi thị trường thế giới nên không có tình trạng khan hiếm. Nhận định giá hồ tiêu sẽ tiếp tục giữ mức ổn định thời gian tới.

Còn theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, xuất khẩu hạt tiêu trong 15 ngày đầu tháng 5/2019 đạt 17,3 nghìn tấn, trị giá 42,3 triệu USD, tăng 0,4% về lượng, nhưng giảm 2,2% về trị giá so với 15 ngày đầu tháng 4/2019, tăng 61,1% về lượng và tăng 21,4% về trị giá so với 15 ngày đầu tháng 5/2018.

Lũy kế từ đầu năm đến hết ngày 15/5/2019, xuất khẩu hạt tiêu đạt 125,2 nghìn tấn, trị giá 325,38 triệu USD, tăng 28,5% về lượng, nhưng giảm 4,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

CAO SU

Giá mủ cao su trong nước tăng cao theo thế giới


Bộ Công thương cho biết, trong 10 ngày giữa tháng 5/2019, giá mủ cao su nguyên liệu tại Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh tăng theo xu hướng tăng của thị trường thế giới.

Ngày 21/5/2019, tại Đắk Lắk giá thu mua mủ nước tại vườn và tại nhà máy tăng 5 đ/độ TSC so với 10 ngày trước đó, hiện giao dịch ở mức 285 đ/độ TSC và 290 đ/độ TSC. Tính đến ngày 17/5/2019, Công ty TNHH MTV cao su Lộc Ninh 2 lần trong tháng điều chỉnh tăng giá thu mua mủ cao su.

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, trong 15 ngày đầu tháng 5/2019, lượng cao su xuất khẩu đạt 31,71 nghìn tấn, trị giá 45,9 triệu USD, giảm 16,3% về lượng và giảm 16,6% về trị giá so với 15 ngày trước đó; giảm 31,4% về lượng và giảm 30,7% về trị giá so với 15 ngày đầu tháng 5/2018.

Tính từ đầu năm đến hết ngày 15/5/2019, lượng cao su xuất khẩu đạt 446,31 nghìn tấn, trị giá 602,16 triệu USD, tăng 17,6% về lượng và tăng 8,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Giá xuất khẩu cao su trung bình 15 ngày đầu tháng 5/2019 ở mức 1.448 USD/tấn, giảm 0,4% so với mức giá xuất khẩu trung bình 15 ngày trước đó, nhưng tăng 1,1% so với cùng kỳ năm 2018.

(TTGCVT /T.Hiền tổng hợp) 

 

Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (024) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (024) 39762593 
Email:ttgcvattu1989@gmail.com