Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Thị trường hàng hóa nguyên liệu trong nước tháng 4/2019
Cập nhật: 29-4-2019

VÀNG

Giá “đuối sức” nên không có sự bật tăng nào về giá trong tháng 4


Đầu giờ sáng 26/4 – thời điểm kết thúc tuần cuối tháng 4, tại thị trường Hà Nội, giá vàng SJC đang được Công ty TNHH MTV Vàng bạc đá quý Sài Gòn – SJC niêm yết dao động ở ngưỡng 36,210-36,400 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra). So với phiên giao dịch trước, mức giá theo chiều mua vào -bán ra tăng lần lượt 30.000 và 50.000 đồng/lượng. Tại TP.HCM, vàng SJC niêm yết ở mức giá là 36,210 - 37,380 triệu đồng/lượng (mua vào- bán ra). So với phiên giao dịch trước đó, mức giá mua vào – bán ra tăng 30.000 đồng/lượng so với phiên trước.

Trước đó 3 tuần, giá vàng trong nước hầu như “lặng im” hoặc chỉ chuyển động chậm rãi trước những biến động của thị trường vàng thế giới. Trong tuần đầu tiên, giá vàng xoay quanh mức 36,33 – 36,37 và 36,52 – 36,54 triệu đồng/lượng. Tuần thứ 2, giá dao động ở khoảng từ 36,34 – 36,45 và 36,51 – 36,62 triệu đồng/lượng (giá mua vào – bán ra). Riêng trung tuần tháng 4, giá vàng trong nước đuối sức và ghi nhận mức sụt giảm điểm mạnh nhất trong 4 tháng qua do sự tác động giảm điểm của giá vàng thế giới. Mức giá mua vào chỉ nằm trong khoảng từ 36,16 – 36,33 triệu đồng/lượng và giá bán ở mức 36,33 – 36,50 triệu đồng/lượng.

Mức chênh lệch giữa giá vàng trong nước và vàng thế giới trong tháng 4/2019 nằm ở khoảng từ 700 đến trên 1 triệu đồng mỗi lượng chưa tính thuế phí. 

Với diễn biến này, giá vàng chưa khiến nhà đầu tư chú trọng. Lượng khách tham gia qua nhiều phiên trong tháng thiên về xu hướng mua vào với mức độ thăm dò và với số lượng nhỏ lẻ là chủ yếu. Hiện việc theo dõi các thông tin từ thị trường quốc tế và lựa chọn đúng thời điểm tham gia thị trường vẫn là yếu tố quan trọng quyết định giao dịch thành công của khách hàng.

ĐÔ LA

Tỷ giá trung tâm thiết lập đỉnh mới cao nhất từ đầu năm, USD ngân hàng đồng loạt bật tăng mạnh

Tuần đầu tháng 4/2019, theo diễn biến đồng USD trên thị trường thế giới tăng mạnh do giới đầu tư đặt cược vào những kết quả tốt đẹp của cuộc đàm phán thương mại Mỹ-Trung, vào sáng 5/4 –ngày cuối cùng của tuần, tỷ giá trung tâm đã bật tăng mạnh với mức được công bố là 22.988 đồng/USD. Các phiên còn lại trong tuần, tỷ giá tăng giảm đan xen. Mức thấp nhất tuần là 22.976 đồng/USD (sáng ¼). Tại các NHTM, giá giao dịch USD biến động nhẹ. Tới đầu giờ sáng 5/4, đa số các ngân hàng thương mại tăng tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ 5 đồng so với cuối giờ phiên liền trước, phổ biến ở mức 23.150 đồng (mua) và 23.250 đồng (bán). Tính từ đầu năm 2018, tỷ giá đồng đô la Mỹ trong hệ thống ngân hàng tăng 465-475 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra. Giá USD trên thị trường chợ đen đứng ở mức: 23.190 - 23.210 đồng/USD.

Bước sang tuần thứ 2, tỷ giá trung tâm đã có một tuần tăng giảm xen kẽ. Mức thấp nhất tuần là 22.988 đồng/USD (sáng 8/4). Mức cao nhất tuần là 22.996 đồng/USD (sáng 12/4).Tại các NHTM, giá giao dịch USD không biến động nhiều. Tới đầu giờ sáng 12/4, đa số các ngân hàng thương mại giữ tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ không đổi so với cuối giờ phiên liền trước, phổ biến ở mức 23.150 đồng (mua) và 23.250 đồng (bán). Tính từ đầu năm 2018, tỷ giá đồng đô la Mỹ trong hệ thống ngân hàng tăng 465-475 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra.

Sau khi Trung Quốc công bố những thông tin bất ngờ về sức khỏe nền kinh tế và những tín hiệu tích cực từ cuộc đàm phán với Mỹ, tỷ giá trung tâm tuần thứ 3 của NHNN cũng liên tục trồi sụt theo diễn biến của thế giới. Mức thấp nhất tuần là 22.988 đồng/USD (18-4). Mức cao nhất tuần là 22.998 ( ngày cuối tuần 19-4), tỷ giá ngoại tệ tăng mạnh trở lại theo xu  hướng tăng đồng USD trên thị trường thế giới sau khi chính quyền Donald Trump ghi thêm một dấu ấn kinh tế. Trong khi đó euro và bảng Anh giảm vì triển vọng xấu. Tại các NHTM, giá giao dịch đồng bạc xanh biến động nhẹ. Tới đầu giờ sáng 19-4, đa số các NHTM niêm yết giá USD phổ biến ở mức 23.160 đồng (mua) và 23.260 đồng (bán). 

Vào tuần cuối cùng tháng 4, tỷ giá trung tâm đã thiết lập mốc cao nhất từ đầu năm khi vào sáng 26/4, NHNN công bố tỷ giá trung tâm ở mức 23.028 đồng/USD. Với mức tăng cao này, giá giao dịch đồng bạc xanh tại các NHTM bật tăng mạnh. Theo khảo sát của thoibaonganhang.vn, sáng 26/4, tỷ giá mua bán với mức phổ biến tăng từ 10 đến 20 đồng. Giá bán cao nhất ở mức 23.338 đồng/USD.

Trong một báo cáo phát hành ngày 23/4, chứng khoán Bảo Việt BVSC cho rằng nhiều khả năng tỷ giá trung tâm sẽ vẫn được NHNN tiếp tục điều chỉnh tăng nhẹ trong thời gian tới nhằm tạo "khoảng đệm" cho tỷ giá giao dịch chính thức trong trường hợp có biến động bất ngờ. Trong khi đó, tỷ giá của ngân hàng thương mại được dự báo sẽ vẫn đi ngang, dao động trong biên độ hẹp do nguồn cung ngoại tệ từ vốn FDI và FII vẫn ở mức tốt.  

THÉP XÂY DỰNG

Giá thép tiếp tục tăng trong tháng 4/2019

Sau biến động tăng giá điện, giá xăng dầu tháng 3 và 4 này, nhiều mặt hàng, dịch vụ đã bắt đầu phản ứng tăng giá. Trên thị trường giá nguyên vật liệu xây dựng như: sắt, thép, xi măng, giá nhân công xây dựng cũng theo đà tăng lên.

Khảo sát tại các cửa hàng vật liệu xây dựng trên địa bàn thành phố Hà Nội, thép tấm có giá 14.300 đồng/kg, thép V 15.100 đồng/kg, thép hộp kẽm vuông 17.000 - 18.000 đồng/kg (tăng 1.000 - 1.200 đồng/kg), sắt phi 6, 8 có giá 15.500 - 15.700 đồng/kg,...

Mức tăng giá sắt thép xây dựng được điều chỉnh tăng từ 100.000 - 200.000 đồng/tấn. Theo đó, từ đầu tháng 4/2019, Cty Sản xuất thép Australia SSE (SSE Steel) tăng giá bán thép cây D10 thêm 100.000 đồng/tấn, đối với thép cây và thép cuộn tăng thêm 200.000 đồng/tấn; Cty CP Gang thép Thái Nguyên (Tisco) cũng nâng giá thép thành phẩm, trong đó thép thanh vằn D10 tăng 200.000 đồng/tấn, thép cuộn, D12 và D14 trở lên tăng 150.000 đồng/tấn; Giá các sản phẩm thép xây dựng dự án các loại cũng tăng 150.000 đồng/tấn.

Mặc dù giá thép tăng cao, nhưng lượng tiêu thụ trên thị trường vẫn khá tốt. Nguyên nhân là do các đơn vị tiêu thụ, doanh nghiệp thương mại có sự chuẩn bị cho mùa xây dựng tháng 4, 5 là cao điểm mùa xây dựng, mua vào dự trữ khá lớn. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đang quan tâm hơn đến các dự án đầu tư công thúc đẩy thị trường xây dựng. Đây cũng có thể là những lý do thúc đẩy khiến thị trường trở nên sôi động hơn. Theo báo cáo của Hiệp hội Thép Việt Nam, tháng 3/2019, sản lượng sắt, thép thô đạt 1.684.000 tấn, tăng 56% so với cùng kỳ năm 2018; sản lượng thép cán ước đạt 506,7 nghìn tấn, tăng 13,5%; sản lượng thép thanh, thép góc ước đạt 522,9 nghìn tấn, tăng 0,6%. 

Về tình hình xuất khẩu, theo tính toán từ số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong quý 1/2019 cả nước xuất khẩu 1,77 triệu tấn sắt thép, thu về 1,13 tỷ USD, tăng 23,5% về khối lượng và tăng 8,8% về kim ngạch so với quý 1/2018.

Riêng tháng 3/2019 đạt 554.718 tấn, tương đương 366,3 triệu USD, tăng 20,9% về lượng và tăng 25,9% về kim ngạch so với tháng 2/2019. So với cùng tháng năm 2018 cũng tăng 6,9% về lượng nhưng giảm 6% về kim ngạch.

Giá xuất khẩu sắt thép trong tháng 3 tăng 4,1% so với tháng 2/2019 nhưng giảm 12,1% so với tháng 3/2018, đạt 660,3 USD/tấn. Tính giá trung bình cả quý 1/2019 sụt giảm 11,9% so với cùng kỳ, đạt 640,4 USD/tấn.

Sắt thép của Việt Nam xuất khẩu chủ yếu sang khối các nước Đông Nam Á; trong đó thị trường lớn nhất là Campuchia đạt mức tăng trưởng rất mạnh, tăng 58,7% về lượng và tăng 47,6% về kim ngạch so với cùng kỳ, đạt 447.785 tấn, tương đương 265,19 triệu USD, chiếm 25,3% trong tổng lượng sắt thép xuất khẩu của cả nước và chiếm 23,4% trong tổng kim ngạch. Giá xuất khẩu sang thị trường này giảm 6,4%, đạt 592,2 USD/tấn.

Lượng sắt thép xuất khẩu sang Indonesia – thị trường lớn thứ 2 mặc dù tăng 10,7% về lượng, nhưng giá lại giảm 14% và kim ngạch cũng giảm 4,8% so với cùng kỳ, đạt 220.974 tấn, tương đương 147,34 triệu USD, chiếm gần 13% trong tổng lượng và tổng kim ngạch xuất khẩu sắt thép của cả nước.

Xuất khẩu sắt thép sang thị trường Mỹ cũng giảm 33,3% về lượng, giảm 2% về giá và giảm 34,6% kim ngạch, đạt 145,129 tấn, tương đương 117,09 triệu USD, giá 806,8 USD/tấn, chiếm 8,2% trong tổng lượng và chiếm 10,3% trong tổng kim ngạch.

Về nhập khẩu, theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, nhập khẩu sắt thép sau khi sụt giảm mạnh trong tháng 2/2019 thì sang tháng 3 tăng rất mạnh 56,4% về lượng và tăng 62% về kim ngạch so với tháng 2, đạt 1,35 triệu tấn, tương đương 896,91 triệu USD; so với cùng tháng năm trước cũng tăng 29,3% về lượng và tăng 20,4% về kim ngạch.

Giá nhập trong tháng 3/2019 đạt 663,5 USD/tấn, tăng 3,6% so với tháng 2/2019 nhưng giảm 6,9% so với tháng 3/2018.

Công dồn cả quý 1/2019 lượng sắt thép nhập khẩu về Việt Nam đạt 3,37 triệu tấn, trị giá 2,26 tỷ USD, tăng 8,1% về lượng và tăng 3,6% về kim ngạch so với quý 1/2018. Giá sắt thép nhập khẩu trung bình quý 1 đạt 671 USD/tấn, giảm 4,2%.

Xét về thị trường nhập khẩu, Trung Quốc vẫn là thị trường lớn nhất cung cấp sắt thép cho Việt Nam, với 1,38 triệu tấn, trị giá 866,5 triệu USD, chiếm 40,9% trong tổng lượng và chiếm 38,3% trong tổng kim ngạch nhập khẩu sắt thép của cả nước, tăng 22,7% về lượng, tăng 4,4% về kim ngạch so với cùng kỳ. Giá nhập khẩu giảm 14,9%, đạt trung bình 628,7 USD/tấn.

Vào đầu tháng 4, xuất khẩu thép Việt Nam nhận được tin vui khi Tòa án thương mại quốc tế Canada (CITT) đã công bố báo cáo cuối cùng trong vụ việc điều tra áp dụng biện pháp tự vệ chính thức đối với một số sản phẩm thép. Theo đó, nhiều loại thép của Việt Nam, trong đó có thép Hòa Phát xuất khẩu vào thị trường Canada sẽ không phải chịu thuế tự vệ.

Cụ thể, CITT cho biết sẽ loại trừ các sản phẩm nhập khẩu như thép dây không gỉ, thép thanh, thép cuộn xây dựng, thép tấm loại cứng của Việt Nam, Hàn Quốc, Panama, Peru, Colombia, và Honduras. Việt Nam là nước đang phát triển thuộc danh sách các nước được hưởng thuế quan ưu đãi phổ cập và lượng xuất khẩu của Việt Nam là không đáng kể (dưới 3% tổng lượng nhập khẩu hàng hóa bị điều tra), do đó Việt Nam được loại trừ khỏi biện pháp tự vệ.

Hơn nữa, tổng lượng nhập khẩu hàng hoá bị điều tra từ các nước nêu trên không vượt quá 9% tổng lượng nhập khẩu hàng hoá bị điều tra vào Canada.

Nhận định về tăng trưởng của ngành thép trong năm nay, Bộ Công Thương cho biết, ngành thép có triển vọng tăng trưởng tốt, đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung của nền kinh tế. Năm 2019, Dự án thép Formosa Hà Tĩnh sẽ vận hành 2 lò cao hết công suất; thép Hòa Phát Dung Quất dự kiến cũng được đưa vào vận hành … Do đó, dự kiến mức tăng trưởng của ngành thép trong năm nay cao hơn khoảng 10% so với năm 2018.

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, khó khăn cũng đến với ngành thép do trào lưu bảo hộ thương mại và phụ thuộc vào giá nguyên liệu thế giới. Chưa kể, năm 2019, giá điện tăng cũng khiến ngành thép thêm khó khăn. “Từ ngày 20/3, giá điện tăng từ 1.720,65 đồng lên 1.864,04 đồng/kWh (chưa gồm thuế VAT), chắc chắn sẽ gây tác động với ngành thép do thép là ngành công nghiệp sử dụng nhiều năng lượng, trong đó có điện năng” - ông Nguyễn Văn Sưa – Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam khẳng định.

XI MĂNG

Tiêu thụ trên 35 triệu tấn sản phẩm xi măng trong 4 tháng đầu năm

Dẫn số liệu của Vụ Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng) cho biết, ước tính tiêu thụ sản phẩm xi măng trong tháng 4/2019 đạt khoảng 9,18 triệu tấn, vẫn giữ được sự ổn định và tương đương so với cùng kỳ năm 2018.

Trong đó, ước tiêu thụ sản phẩm xi măng tại thị trường trong nước tháng 4/2019 khoảng 6,48 triệu tấn, tăng 0,43 triệu tấn so với tháng liền kề trước đó và cũng tăng nhẹ so với cùng kỳ năm 2018. Riêng Tổng công ty Công nghiệp xi măng Việt Nam (Vicem) tiêu thụ tháng 4/2019 ước đạt khoảng 2,54 triệu tấn.

Lũy kế trong 4 tháng đầu năm 2019, sản lượng sản phẩm xi măng được tiêu thụ tại thị trường trong nước ước đạt khoảng 21,65 triệu tấn so với kế hoạch tiêu thụ sản phẩm tại thị trường trong nước của cả năm từ 66-67 triệu tấn.

Với thị trường xuất khẩu, sản lượng xuất khẩu sản phẩm xi măng tháng 4/2019 ước đạt khoảng 2,7 triệu tấn. Con số này giảm 0,7 triệu tấn so với tháng liền kề trước đó và giảm 2% so với cùng kỳ năm 2018.

Đáng chú ý, mặc dù sản lượng xuất khẩu sản phẩm xi măng trong tháng 4 đều giảm nhẹ so với tháng trước đó và so với cùng kỳ năm 2018 nhưng nếu tính chung cả 4 tháng đầu năm 2019 con số này ước đạt khoảng 13,80 triệu tấn, tăng 23% so với cùng kỳ năm 2018.

Lũy kế tiêu thụ 4 tháng đầu năm 2019 cả ở thị trường trong nước và xuất khẩu đã đạt khoảng 35,45 triệu tấn sản phẩm, tăng 8% so với cùng kỳ. Trong đó, Vicem tiêu thụ 4 tháng đầu năm khoảng 8,42 triệu tấn.

Hiệp hội Xi măng Việt Nam cho biết thêm, hiện tại Việt Nam đang có 42 dây chuyền sản xuất xi măng công suất nhỏ, và 40 dây chuyền công suất lớn. Con số này phản ánh sự tất yếu của ngành xi măng khi Việt Nam chuyển từ nước phải nhập khẩu xi măng thành nước sản xuất đủ xi măng tiêu thụ nội địa và có một phần xuất khẩu.

Về giá cả, kể từ ngày 20/3, chính trong ngày giá điện tăng, Tập đoàn Xi măng The Vissai đã thông báo tăng giá bán xi măng. Cụ thể, từ 1/4, giá xi măng bao tăng 50.000 đồng/tấn và giá xi măng rời tăng 40.000 đồng/tấn. Hai ngày sau đó, cũng với lý do tương tự, Công ty CP Thương mại và Đầu tư Đồng Lâm thông báo giảm chiết khấu giá bán trên hóa đơn 40.000 đồng/tấn đối với xi măng PCB30, PCB40 bao 50 kg từ ngày 1/4. Theo khảo sát, mức giá kê khai mới tại các máng sản xuất của các công ty xi măng đối với loại PCB 40 bao cao nhất ở mức 1,715 triệu đồng/tấn tại thị trường khu vực phía Nam. Đối với xi măng PCB 30 bao cao nhất ở mức 1,355 triệu đồng/tấn tại khu vực phía Bắc.

Hiện nay, để thực hiện tốt việc bình ổn, cân đối cung cầu và kiềm chế tốc độ tăng giá năm 2019, Bộ Xây dựng đang tập trung xây dựng Chiến lược phát triển công nghiệp xi măng Việt Nam đến năm 2030 và định hướng đến năm 2050. Đồng thời, phối hợp với các Bộ, ngành, Hiệp hội Xi măng Việt Nam triển khai áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để phát huy đạt và vượt công suất thiết kế, giảm chi phí sản xuất để giảm giá thành sản phẩm.

XĂNG DẦU

Giá xăng tăng mạnh xấp xỉ 3 nghìn đồng mỗi lít trong 2 kỳ điều chỉnh trong tháng 4

Cũng như các tháng trước, giá xăng dầu tháng 4/2019 cũng trải qua 2 kỳ điều chỉnh vào các ngày 2 và 17/4. Trước diễn biến bất ổn với xu hướng đi lên của mặt hàng này trên thị trường thế giới, giá xăng dầu trong nước cũng được điều chỉnh tăng theo. Giá xăng E5 trong tháng 4 tăng tới 2.492 đồng/lít, Ron 95 tăng 2.686 đồng/lít. Riêng mặt hàng dầu tăng từ 1.377 – 1.626 đồng/lít tùy loại.

Vào kỳ đầu tiên sáng 2/4, Liên Bộ Công Thương - Tài chính vừa phát đi thông tin mỗi lít xăng E5 RON 92 tăng thêm 1.377 đồng, lên mức 18.588 đồng; xăng RON 95 tăng 1.484 đồng, lên mức 20.033 đồng. Các mặt hàng dầu cũng tăng 1.086 - 1.219 đồng mỗi lít, kg tuỳ loại. 

Quỹ bình ổn giá xăng dầu sau nhiều đợt được xả mạnh, ở kỳ điều hành lần này nhà điều hành đã giảm khá nhiều. Mức xả quỹ bình ổn với xăng E5 RON 92 giảm về 2.042 đồng một lít, xăng RON 95 là 1.304 đồng. Mức chi quỹ với dầu diesel và dầu hoả là 0 đồng. 

Giá xăng dầu thế giới liên tục tăng cao những ngày qua là nguyên nhân khiến giá bán lẻ trong nước buộc phải điều chỉnh. 

Giá etanol E100 đưa vào tính giá cơ sở mặt hàng xăng E5RON92 theo Công văn số 328/BTC-QLG ngày 02 tháng 4 năm 2019 của Bộ Tài chính về điều hành kinh doanh xăng dầu là 14.725 đồng/lít (chưa có thuế GTGT).

Trước đó, các doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xăng dầu cho biết họ đang lỗ 300 - 500 đồng đối với xăng, trong khi giá xăng thế giới đang ở ngưỡng cao.

Với đợt tăng giá này, giá xăng dầu bán lẻ trong nước có lần tăng giá thứ 2 kể từ đầu năm, và 6 đợt giữ nguyên giá bán, xả mạnh Quỹ bình ổn. 

Tại kỳ điều chỉnh lần 2 trong tháng – ngày 17/4, theo văn bản của liên Bộ Công Thương - Tài chính, giá các mặt hàng xăng dầu tiếp tục tăng kể từ 15h chiều cùng ngày. Cụ thể, xăng E5 RON 92 tăng 1.115 đồng mỗi lít; xăng RON 95 thêm 1.202 đồng. Các mặt hàng dầu cũng tăng 291-407 đồng một lít, kg tùy loại. Sau điều chỉnh, giá mỗi lít E5 RON 92 tối đa 19.703 đồng; RON 95 có mặt bằng giá mới 21.235 đồng. Giá dầu hỏa tối đa 16.262 đồng một lít; dầu diesel 17.384 đồng và dầu madut 15.617 đồng một kg.

Ngoài mức trích Quỹ bình ổn giá 300 đồng một lít như quy định, liên Bộ cũng tiếp tục xả Quỹ bình ổn 1.456 đồng với mỗi lít xăng E5 RON 92; 743 đồng với RON 95. Các mức chi quỹ với xăng giảm khoảng 560 đồng một lít so với kỳ điều hành cách đây 15 ngày.

Lý do tăng giá xăng và tiếp tục xả Quỹ bình ổn được giải thích là, bình quân giá thành phẩm xăng dầu thế giới trong 15 ngày qua tăng 2,3-4% một thùng.

Về tình hình nhập khẩu mặt hàng này, theo số liệu thống kê sơ bộ mới nhất của Tổng cục Hải quan, xăng dầu tiếp tục là một trong 10 nhóm hàng nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam. Tuy nhiên, trị giá xăng dầu nhập khẩu tính từ đầu năm đến ngày 15/4/2019 đã giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2018. Cụ thể, tính từ đầu năm đến ngày 15/4/2019 Việt Nam chi 1,51 tỷ USD để nhập khẩu xăng dầu, giảm 0,97 tỷ USD so với cùng kỳ năm ngoái.

Trước đó, tính chung trong quý I/2019, tổng lượng xăng dầu nhập khẩu chỉ đạt 2,08 triệu tấn, tương đương trị giá 1,23 tỷ USD, giảm 40,4% về lượng và giảm mạnh 45% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

GAS

Giá gas tăng vọt 4 tháng đầu năm

Chiều 31/3, các đơn vị đầu mối kinh doanh, phân phối mặt hàng gas tại Tp. Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phía Nam đã công bố giá gas tháng 4/2019 tăng 583 đồng/kg (cả VAT). 

Trước đó, giá gas tháng đầu năm 2019 được điều chỉnh tăng 4.000 đồng mỗi bình 12/kg, tháng 2 tăng 12.000 đồng/bình 12kg, tháng 3 tăng 17.000 đồng/bình 12kg. Như vậy, đây là tháng thứ tư liên tiếp giá gas được điều chỉnh tăng với tổng cộng 40.000 đồng/bình 12kg.

Giá gas bán lẻ tối đa đến tay người tiêu dùng của một số thương hiệu, gồm: Petrovietnam, Petrolimex, Sp gas, gas Dầu khí… dao động ở mức 350.000-360.000 đồng/bình 12 kg.

Nguyên nhân giá gas tháng 4 tiếp tục leo thang được các nhà bán lẻ trong nước giải thích, là do nhà cung cấp thế giới công bố giá nhiên liệu 525 USD một tấn, tăng 20 USD mỗi tấn so với tháng trước.

Hiện giá gas trong nước phụ thuộc vào diễn biến thế giới do nguồn cung nội địa chỉ chủ động được khoảng 60% mức tiêu thụ.

Ô TÔ

Chi hơn 1 tỷ USD nhập khẩu ô tô trong chưa đầy 4 tháng

Nối tiếp đà giảm giá trong tháng 3, nhiều hãng xe tại Việt Nam đã bắt đầu có kế hoạch tung ra chương trình khuyến mại, giảm giá đến hết tháng 4 để thu hút khách hàng.

Tháng 3, thị trường ô tô khá sôi động một phần nhờ vào chính sách giảm giá mạnh của các hãng xe trong nước. Tiếp đà này, ngay từ đầu tháng 4, một số hãng xe như Mitsubishi, Mazda, Nissan,… và cả hãng xe Đức Volkswagen cũng đã có kế hoạch tung khuyến mãi, giảm giá cho nhiều dòng xe. Đa số các hãng lấy lý do nhân kỷ niệm dịp lễ 30/4-1/5.

Cụ thể, Nissan công bố bảng giá xe tháng 4, trong đó giá Terra tiếp tục giảm 30 triệu đồng, chưa kể quà tặng phụ kiện. Cùng với đó, hãng triển khai chương trình khuyến mại dịch vụ hấp dẫn về phí bảo dưỡng và quà tặng cho khách hàng đến hết tháng 4.

Thaco Trường Hải tiếp tục chính sách giảm giá xe đối với các dòng xe Mazda từ tháng 3 đến sang tháng 4. 

“Thị trường xe trong tháng 4 sôi động vì tháng 4 gắn liền với dịp lễ 30/4 và 1/5. Hầu như các năm vào dịp này tất cả các hãng đều có nhiều chương trình khuyến mãi cho khách và nhu cầu mua xe của người tiêu dùng Việt cũng tăng lên đáng kể. Đó là lý do khiến những người bán hàng hy vọng vào thị trường trong tháng này”.

Tính từ đầu năm đến nay, giá ô tô bước vào đợt giảm thứ 3 liên tiếp của các hãng xe tại Việt Nam nhằm kích cầu người tiêu dùng. 

Về tình hình nhập khẩu mặt hàng này, theo Tổng cục Hải quan báo cáo cho thấy chỉ sau gần 4 tháng đầu năm 2019 lượng xe nhập về nước đã tăng rất nhiều so với cùng kỳ năm 2018, đạt kim ngạch vượt 1 tỷ USD.

Chỉ tính riêng nửa đầu tháng 4 đã có 7.101 xe ô tô nguyên chiếc các loại về nước, đạt giá trị 140 triệu USD. Cộng dồn chưa đầy 4 tháng, toàn thị trường đã nhập khẩu gần 47.000 xe ô tô các loại, đạt 1,02 tỷ USD.

Ô tô dưới 9 chỗ có kim ngạch nhập khẩu lớn nhất, đạt hơn 654 triệu USD, vị trí thứ 2 thuộc về ô tô vận tải với 276 triệu USD. Ô tô 9 chỗ đứng cuối với hơn 3,6 triệu USD, trong khi đó lượng xe con nhập khẩu là 33.302 chiếc, chiếm 70% tổng sản lượng. Lượng xe ô tô nhập khẩu cùng kỳ năm 2018 chỉ đạt bằng 1/10 lượng xe nhập cùng thời gian trong năm nay (giá trị kim ngạch của 4.936 xe ô tô các loại là 84 triệu USD).

Trước tình hình nhập khẩu khởi sắc, Tổng cục Hải quan cho biết thêm, tiền thuế thu được trong quý I/2019 tăng 977,68% so với cùng kỳ năm ngoái. Đóng góp công lao lớn cho ngân sách thuế tăng chủ yếu do nguồn thu từ hai mặt hàng ô tô và dầu thô nhập khẩu. Cụ thể, số thuế thu từ hai mặt hàng này đạt 13.665 tỷ đồng, tăng 12.396 tỷ đồng so với cùng kỳ năm 2018 (tăng 977,68%).

Về tình hình tiêu thụ tại thị trường trong nước, chiều ngày 10/4, VAMA công bố doanh số bán hàng của các đơn vị thành viên trong tháng 3/2019 đạt 32.308 xe, tăng 160% so với tháng 2/2019 và tăng 54% so với tháng 3/2018.

Trong tổng doanh số xe tiêu thụ trên có 22.528 xe du lịch, tăng 151%; 8.917 xe thương mại, tăng 170% và 863 xe chuyên dụng, tăng 390% so với tháng trước.

Nếu tính chung toàn thị trường ôtô Việt Nam, trong 3 tháng đầu năm cả nước tiêu thụ được 95.042 xe các loại.

Cũng xét theo xuất xứ xe, trong quý I vừa qua, tổng doanh số bán hàng của xe lắp ráp trong nước đạt 46.253 xe, giảm 8% thì xe nhập khẩu nguyên chiếc tiêu thụ được 31.999 xe và tăng tới 234% so với cùng kỳ năm ngoái.

THỦY SẢN 

Giá cá tra nguyên liệu tăng trở lại

Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam (VASEP) cho biết, sau thời gian giảm xuống mức thấp, giá cá tra nguyên liệu xuất khẩu tới thời điểm giữa tháng 4/2019 tại nhiều địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long đã tăng 500-1.000 đồng một kg so với cách đó hơn 2 tuần.

Tại các tỉnh như Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, giá cá tra nguyên liệu loại 1 (thịt trắng, cỡ 0,8-1kg một con) ở mức 24.000-25.000 đồng một kg.

Theo nhiều doanh nghiệp và hộ nuôi cá tra, với mức giá hiện tại, người nuôi có thể kiếm lời từ 1.000 đồng đến 2.000 đồng một kg cá tra thương phẩm. Giá cá tra nguyên liệu tăng do nhiều đơn vị, doanh nghiệp đẩy mạnh thu mua phục vụ chế biến khi đầu ra xuất khẩu cá tra tiếp tục khởi sắc. Dự báo, giá cá tra nguyên liệu có nhiều khả năng còn tăng trong thời gian tới.

Tuy nhiên, mức giá này vẫn rất thấp so với mức trung bình của năm 2018 khi cá tra nguyên liệu tại đồng bằng sông Cửu Long từng đạt tới mức 32.000 một kg (cá loại  một 700 - 900 gram một con).

Một vấn đề đáng lưu ý đối với ngành hàng cá tra thời gian gần đây đó là xuất khẩu cá tra vào thị trường Mỹ đột ngột giảm mạnh. Theo báo cáo của Hiệp hội chế biến và XK thủy sản Việt Nam (Vasep), tính đến hết tháng 3/2019, tổng giá trị xuất khẩu cá tra đạt 472,2 triệu USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, trong thời gian này, mức tăng trưởng dương này đạt được là nhờ mức tăng tại EU, ASEAN, Mexico và một số thị trường đơn lẻ khác.

Trong tháng 3/2019, giá trị xuất khẩu cá tra sang Trung Quốc - Hồng Kông đạt 39,47 triệu USD, giảm 12,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 3 tháng đầu năm nay, xuất khẩu cá tra sang thị trường này đạt 99,3 triệu USD, giảm 1,8% so với cùng kỳ năm 2018.

Với thị trường Mỹ, 2 tháng (tháng 2 và 3/2019) giá trị xuất khẩu sang thị trường này giảm lần lượt 22,8% và 44,4%. Do đột ngột giảm mạnh nên Mỹ vốn được dự báo trở lại thị trường xuất khẩu hàng đầu của doanh nghiệp cá tra Việt Nam đã tụt xuống vị trí thứ 3 (sau EU) đạt 71,16 triệu USD, giảm 5% so với cùng kỳ năm 2018, chiếm 15,1% tổng giá trị xuất khẩu cá tra trong quý 1/2019.

Ngược lại với Trung Quốc - Hồng Kông và Mỹ, quý đầu năm nay, xuất khẩu cá tra sang EU khả quan. Nhờ đó, EU vượt Mỹ trong 2 tháng xuất khẩu và đạt tổng giá trị xuất khẩu là 71,88 triệu USD, tăng 42,4% so với cùng kỳ. Trong đó, riêng 4 thị trường đơn lẻ lớn nhất trong khối là Hà Lan, Anh, Đức, Bỉ tăng trưởng lần lượt 29,2%; 53%; 66,6% và 86,9% so với 3 tháng đầu năm 2018. VASEP cho rằng đây là mức tăng tích cực trong nhiều năm trở lại đây và là tín hiệu tốt cho các nhà xuất khẩu cá tra Việt Nam sang thị trường này.

Mexico cũng là "điểm đến" thu hút cho doanh nghiệp cá tra trong quý đầu năm nay, tính tới hết tháng 3/2019, giá trị xuất khẩu sang Mexico đạt 34,15 triệu USD, tăng 39,6% so với cùng kỳ năm 2018. 

Dự kiến, trong tháng 4/2019, Mỹ sẽ công bố kết quả cuối cùng mức thuế chống bán phá giá trong POR4 cho sản phẩm cá tra, basa Việt Nam nhập khẩu vào Mỹ. Kết quả này dự báo sẽ có ảnh hưởng không nhỏ tới diễn biến xuất khẩu của cá tra trong thời gian tới. 

Năm 2019, ngành cá tra đặt mục tiêu xuất khẩu đem về 2,4 tỷ USD. 

LÚA GẠO

Trầy trật quý I, liệu quý II xuất khẩu gạo có khởi sắc?

Trong quý đầu năm nay, xuất khẩu gạo khá lao đao khi giảm mạnh về giá trị. Tình hình này có thể được khởi sắc, bởi trong quý II dự báo sẽ có nhiều phiếu mới do giá gạo của Việt Nam đang ở mức giá cạnh tranh với các nước xuất khẩu khác.

Theo Bộ NN&PTNT, khối lượng xuất khẩu gạo 3 tháng đầu năm ước đạt 1,43 triệu tấn và 593 triệu USD, giảm 3,5% về khối lượng và giảm 20,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018.

Giá gạo xuất khẩu bình quân 2 tháng đầu năm chỉ đạt 404 USD/tấn, giảm 17,8% so với cùng kỳ năm 2018. Philippines đứng vị trí thứ nhất về thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam trong 2 tháng đầu năm với 40,2% thị phần.

Tại thị trường nội địa, tính riêng trong tháng 3, giá lúa, gạo tại khu vực ĐBSCL tăng trong bối cảnh chương trình thu mua tạm trữ 200 nghìn tấn gạo, 80 nghìn tấn lúa vụ Đông Xuân đang diễn ra. Hoạt động mua bán lúa những ngày này cũng tất bật hơn. Tuy nhiên, tuần cuối tháng 3 xu hướng tăng giá có phần chững lại mặc dù các doanh nghiệp xuất khẩu vẫn tích cực mua vào.

Tính trong 3 tháng đầu năm, giá lúa diễn biến tăng tại Vĩnh Long và An Giang, chủ yếu tập trung vào vụ Đông Xuân với lúa thường tăng 200 – 300 đ/kg; lúa chất lượng cao tăng 100 – 250 đ/kg. Riêng tại Kiên Giang, so với đầu năm thì thời điểm này giá lúa thấp hơn, khoảng 600-800 đ/kg.

Bộ NN&PTNT đánh giá, mặc dù quý I năm 2019, thị trường lúa gạo có khó khăn nhưng dự báo sang quý II sẽ có nhiều hợp đồng mới do giá gạo của Việt Nam đang ở mức giá cạnh tranh với các nước xuất khẩu khác. Hiện có một số doanh nghiệp đã tiếp cận được thị trường và tiến đến thỏa thuận ký hợp đồng.

Về kim ngạch xuất khẩu nông, lâm thủy sản nói chung, báo cáo của Bộ NN&PTNT nêu rõ: Tổng giá trị xuất khẩu 3 tháng đầu năm đạt 8,8 tỷ USD, giảm 2,9% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính ước đạt 4,2 tỷ USD, giảm 13,4%; giá trị xuất khẩu thuỷ sản ước đạt 1,8 tỷ USD, tăng 0,5%; giá trị xuất khẩu chăn nuôi ước đạt 0,13 tỷ USD, tăng 1,4% và giá trị xuất khẩu các mặt hàng lâm sản chính ước đạt 2,4 tỷ USD, tăng 16,5%.

CÀ PHÊ

Thị trường cà phê tiếp tục ảm đạm, giá rớt mạnh

Sáng ngày 2/4 giá cà phê nhân xô một số tỉnh Tây Nguyên mất đà lao dốc thêm 800 đồng/kg, chạm mức thấp mới 30.800 - 31.700 đồng/kg. Tại cảng Tp.HCM, giá cà phê xuất khẩu loại 2, tỷ lệ đen vỡ 5% giao dịch ở 1.343 USD/tấn (FOB), trừ lùi ở mức 75 USD/tấn.

Thị trường cà phê trong nước có giá cao nhất chốt ở 31.700 đồng/kg tại Đắk Lắk, 31.200 đồng/kg tại Gia Lai và Đắk Nông, thấp nhất ở 30.800 đồng/kg tại Lâm Đồng.

Như vậy, trong nửa cuối tháng 3, giá cà phê đã sụt giảm đến 2.400đ/kg, và kết quả xuất khẩu cà phê trong quý 1/2019 cũng không khả quan, cả khối lượng và kim ngạch xuất khẩu cà phê trong 3 tháng đầu năm nay đều giảm mạnh.

Tính chung quý I/2019, giá cà phê giảm 2,3 – 4% ở khu vực Tây Nguyên. Trong đó, giá cà phê tỉnh Lâm Đồng giảm mạnh nhất xuống còn 31.400 đồng/kg. Giá cà phê tại các kho quanh khu vực TP HCM giảm 2,3% xuống 33.500 đồng/kg.

Đến thời điểm cuối tháng, giá cà phê ngày 26/4 quay đầu giảm mạnh. Với mức giảm 500 đồng/kg, giá cà phê ở một số địa phương đã trở lại dưới mốc 37.000 đồng/kg. Giá giao dịch ở mức 36.300 – 36. 700 đồng/kg. 

Vì giá cà phê đang thấp nên nhiều nông dân vẫn găm hàng. Và khi được giá, người nông dân sẽ bán ra. Do đó sẽ khó có hiện tượng thiếu hụt đầu vào, giá cà phê cũng sẽ không thể bứt phá. Với chi phí đầu tư ngày càng cao, lạm phí, người nông dân trồng cà phê hiện đang ở trong tình trạng khó khăn rất nghiêm trọng.

Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan Việt Nam, tháng 3/2019 xuất khẩu cà phê ước đạt 166 tấn, tương đương 298 triệu USD, tăng 39% cả về lượng và kim ngạch so với tháng 2/2019. Tính chung 3 tháng đầu năm, ước xuất khẩu 483 tấn cà phê, tương đương 840 triệu USD, giảm 15,3% về lượng và giảm 23,8% về kim ngạch so với cùng kỳ.

Giá cà phê xuất khẩu trung bình trong tháng 3/2019 đạt 1.738 USD/tấn, tăng 0,2% so với tháng 2/2019, nhưng giảm 9,7% so với tháng 3/2018. Tính trung bình 3 tháng đầu năm, giá cà phê xuất khẩu đạt 1.739 USD/tấn, giảm 10% so với cùng kỳ.

Các doanh nghiệp cho biết, xuất khẩu cà phê trong 3 tháng đầu năm sụt giảm là do sự kháng giá tại thị trường nội địa hơn là do liên quan đến nguồn cung.

Các nước khối EU là thị trường tiêu thụ nhiều nhất các loại cà phê của Việt Nam trong 2 tháng đầu năm, chiếm trên 44,4% trong tổng lượng và chiếm 42% trong tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê của cả nước, đạt 140.813 tấn, tương đương 231,74 triệu USD, tăng 4,4% về lượng nhưng giảm 7,8% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2018.

Đứng thứ 2 sau EU là thị trường Hoa Kỳ. Năm 2018 nhập khẩu cà phê của nước này đạt 1,582 triệu tấn, trị giá 5,591 tỷ USD, giảm 2,6% về lượng và giảm 9,6% về trị giá so với năm 2017. Giá nhập khẩu bình quân cà phê của Hoa Kỳ năm 2018 đạt mức 3.533 USD/tấn, giảm 7,2% so với năm 2017.

Trong năm 2018, thị phần cà phê Việt Nam trong tổng lượng nhập khẩu Hoa Kỳ chiếm 13,3%, thấp hơn so với 14,4% của năm 2017. Ngược lại, thị phần cà phê Brazil trong tổng lượng nhập khẩu Hoa Kỳ chiếm 23,1%, tăng so với 22,1% thị phần năm 2017; Colombia chiếm 21,3%, tăng so với 21% thị phần năm 2017.

Qua số liệu phân tích trên cho thấy, Hoa Kỳ đang có xu hướng gia tăng nhập khẩu cà phê từ các thị trường, như: Brazil, Guatemala, Mexico và Canada, nhưng giảm nhập khẩu từ Việt Nam. Do vậy, ngành cà phê Việt Nam cần nỗ lực đẩy nhanh tốc độ xuất khẩu sang Hoa Kỳ, đồng thời tìm ra điểm mạnh cần phát huy và hạn chế để khắc phục thì mới có khả năng giữ thị phần tại thị trường tiềm năng lớn này.

HẠT TIÊU

Giá hồ tiêu giữ nguyên giá trong suốt tháng 4

Quý 1/2019, giá tiêu trong nước biến động theo chiều hướng đi xuống với mức giảm từ 6.000 - 6.500 đồng/kg. Giá tiêu tụt dốc do sản lượng quá lớn dẫn đến dư cung. Tuần lễ đầu tháng 4, giá tiêu trên thị trường tiếp tục giảm thêm từ 500 - 1.000 đồng/kg, các doanh nghiệp và thương lái thu mua vào ở mức 43.000 - 46.000 đồng/kg.

Vào tuần cuối cùng tháng 4, giá hồ tiêu vẫn giữ xu hướng đi ngang như 3 tuần trước đó tại hầu hết các địa phương trồng tiêu trọng điểm Tây Nguyên và miền Nam. Giá tiêu trong nước đang dao động từ 43.000 – 45.000 đồng/kg. Cụ thể, giá tiêu tại Châu Đức (Bà Rịa - Vũng Tàu) đang có mức giá cao nhất 45.000 đồng/kg. Giá tiêu tại Đắk Lắk (Ea H'leo), Đắk Nông (Gia Nghĩa) đang có mức 44.000 đồng/kg. Riêng giá tiêu tại Gia Lai (Chư Sê) giá duy trì ở mức 43.000 đồng/kg. Bình Phước giá tiêu ở mức 44.500 đồng/kg.

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, lượng tiêu xuất khẩu tháng 3/2019 ước đạt 36 ngàn tấn, với 81 triệu USD, đưa lượng xuất khẩu tiêu 3 tháng đầu năm 2019 ước đạt 72 ngàn tấn và 182 triệu USD, tăng 19,3% về lượng nhưng giảm 17,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018.

Trước tình trạng giá tiêu trên thị trường xuống thấp, một chuyên gia ngành tiêu cho rằng, chúng ta làm chiến lược đối với ngành hồ tiêu, nếu chỉ quá quan tâm đến giá lên xuống hàng ngày là chưa có cách nhìn toàn diện. Mặc dù giá giảm nhưng khối lượng tiêu xuất khẩu trong quý 1/2019 tăng trên 19%, cho thấy doanh nghiệp đã nắm bắt cơ hội thị trường rất tốt. 

Trong điều kiện giá thấp như hiện nay nếu chúng ta vẫn giữ cho người nông dân trồng tiêu không bị lỗ, và đảm bảo giữ ổn định thị trường trong khi Việt Nam đang nắm giữ thị phần cao (60 - 65%), và trong tương lai giá tiêu có thể sẽ tăng trở lại.

Vì vậy, nên cố gắng duy trì và tiếp tục tranh thủ mở rộng thị trường khi giá tiêu đang xuống thấp và khi các nước xuất khẩu khác cũng đang gặp khó khăn về giá. Là nước đang chiếm giữ phần lớn nguồn cung nếu ta cố gắng giữ giá tiêu cao, thì các nước xuất khẩu khác cũng sẽ có lợi.

Bây giờ đang giữa vụ tiêu và trong điều kiện khó khăn, người nông dân với áp lực cần tiền sẽ phải bán thậm chí lỗ cũng bán. Nhưng trên thực tế mỗi khi Việt Nam dừng xuất khẩu thì giá tiêu lại tăng lên, thậm chí trong tháng 3 có lúc giá tiêu đã đạt mức 47.000 đồng/kg.

Nguyên nhân của việc tăng giá này là do người dân dừng bán ra, bên cạnh đó một số khách hàng cần hợp đồng  bắt buộc phải mua để giao hàng. Vì vậy, vấn đề điều tiết tốt thị trường trong điều kiện giá tiêu đang đi xuống, thị trường đang dư cung như hiện nay là rất quan trọng.

Tuy giá hồ tiêu trên thị trường đang sụt giảm nhưng vẫn có yếu tố tích cực, đó là khối lượng xuất khẩu tiêu trong quý 1 tăng trưởng đến 19,3% so với cùng kỳ. Đây là tín hiệu cho thấy, doanh nghiệp Việt Nam vẫn đang giữ vững thị trường xuất khẩu.

CAO SU

Xuất khẩu cao su Việt Nam tiếp tục tăng mạnh đến nửa đầu tháng 4/2019

Theo Tổng cục Hải quan, xuất khẩu cao su Việt Nam nửa đầu tháng 4/2019 tiếp tục khởi sắc với mức tăng trên 22% về lượng và hơn 20% về giá trị.

Theo thống kê trong 15 ngày đầu tháng 4/2019, xuất khẩu cao su đạt 38,36 nghìn tấn, trị giá 54,46 triệu USD, tăng 22,1% về lượng và tăng 20,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Tính từ đầu năm đến hết ngày 15/4/2019, tổng lượng cao su xuất khẩu đạt 378.800 tấn, trị giá 504,16 triệu USD, tăng 28,7% về lượng và tăng 16,2% về trị giá so với cùng kì năm 2018.

Giá cao su xuất khẩu trung bình 15 ngày đầu tháng 4/2019 ở mức 1.420 USD/tấn, giảm 1,6% so với mức giá xuất khẩu trung bình của 15 ngày đầu tháng 4/2018.

Về thị trường xuất khẩu, trong tháng 3/2019, Trung Quốc là thị trường đứng đầu về tiêu thụ cao su của Việt Nam với khối lượng đạt 65,84 nghìn tấn, trị giá 90,95 triệu USD, tăng 34,6% về lượng và tăng 41,6% về trị giá so với tháng 2/2019; so với cùng kỳ năm 2018 tăng 35,1% về lượng và tăng 27,1% về trị giá, Trung Quốc chiếm 63,6% tổng khối lượng cao su xuất khẩu của Việt Nam.

Lũy kế 3 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu cao su của Việt Nam sang Trung Quốc đạt 219,03 nghìn tấn, trị giá 286,97 triệu USD, tăng 47,6% về lượng và tăng 32,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Giá xuất khẩu cao su của Việt Nam sang Trung Quốc trong 3 tháng đầu năm 2019 đạt bình quân 1.310 USD/tấn, giảm 10,3% so với cùng kỳ năm 2018.

Nhìn chung, trong 3 tháng đầu năm 2019, lượng cao su xuất khẩu sang 3 thị trường lớn nhất đều tăng, trong khi một số thị trường giảm nhập khẩu cao su của Việt Nam so với cùng kỳ năm 2018 như: Đài Loan giảm 8,6%, Malaysia giảm 62,8%, Ý giảm 16%, Nga giảm 25,6%, Pakistan giảm 68,5%, Argentina giảm 24,9%... Đáng chú ý, trong 3 tháng đầu năm 2019, lượng cao su xuất khẩu sang Pháp tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2018, tăng 106,7%, Hà Lan tăng 90,7%, Brasil tăng 91,2%...

Về giá cả, thống kê của TCHQ cũng cho biết, trong 10 ngày giữa tháng 4/2019, giá cao su nguyên liệu tại Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh ổn định ở mức thấp. Tại Đắk Lắk giá thu mua mủ nước tại vườn và nhà máy vẫn ổn định với 10 ngày trước đó, giao dịch lần lượt ở mức 240 đồng/độ TSC và 245 đồng/độ TSC.

(TTGCVT /T.Hiền tổng hợp) 

 

Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (024) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (024) 39762593 
Email:ttgcvattu1989@gmail.com