Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Thị trường hàng hóa nguyên liệu trong nước tháng 1 - 2/2019
Cập nhật: 28-2-2019

VÀNG

Giá vàng ít biến động trong tháng 1 và có xu hướng tăng nhẹ trong tháng 2/2019.


Ngay sau kỳ nghỉ Tết Dương lịch 2019, giá vàng đã bắt nhịp với đà tăng của giá vàng thế giới. Trong 3 ngày của tuần sau kỳ nghỉ lễ, giá vàng dao động trong khoảng từ 36,38 – 36,60 triệu đồng/lượng chiều mua vào và 36,60 – 36,83 triệu đồng/lượng chiều bán ra. Tuy nhiên, nhìn chung tại các hệ thống kinh doanh vàng chưa ghi nhận diễn biến sôi động. Lưu lượng tham gia thị trường theo chiều mua vàng vào vẫn chiếm tỷ lệ ưu thế, chiếm khoảng 70% trên tổng lượng khách tham gia giao dịch.   

Ở các tuần sau đó, giá vàng diễn biến lắng lại sau chuỗi ngày tịnh tiến tăng dần. Giá vàng lên xuống trong biên độ nhỏ, dao động ở khoảng từ 36,50 – 36,78 triệu đồng/lượng (chiều mua vào) và 36,56 – 36,80 triệu đồng/lượng (chiều bán ra). Theo đánh giá của Doji, giá vàng thế giới biến động khó lường. Diễn biến khó đoán của giá kim loại quý trong thời gian này khiến các nhà đầu tư tạm thời chưa có những động thái rõ ràng khi tham gia thị trường. 

Vào tuần cuối cùng trước ngày nghỉ Tết Âm lịch, giá vàng trong nước song hành với đà tăng của giá vàng thế giới, kim loại quý trong nước duy trì và xoay quanh ngưỡng giá cao nhất trong hơn nửa năm qua. Mức giá xoay quanh mức 36,63 – 36,78 triệu đồng/lượng (chiều mua vào) và 36,85 – 37,00 triệu đồng/lượng (chiều bán ra). Mức chênh lệch giá giữa hai thị trường trong nước và quốc tế còn khoảng 250 nghìn đồng/lượng (chưa bao gồm phí, thuế). Với diễn biến theo đà tăng chiếm chủ đạo, nhiều nhà đầu tư trong các phiên tiếp tục có động thái tham gia thị trường đan xen ở cả hai chiều mua và bán, theo đó, lượng khách theo chiều mua vẫn chiếm tỷ lệ ưu thế.

Bước sang tháng 2, ngay sau kỳ nghỉ Tết nguyên đán, giá vàng trong nước luôn nằm trong xu hướng “nóng” lên từng ngày khi cận kề với ngày lễ “Thần tài” mùng 10 Âm lịch. Theo Doji, nhu cầu mua vàng cầu may vào dịp Thần Tài đầu năm mới vẫn đứng ở mức cao khiến số lượng khách tham gia giao dịch trong những ngày đầu năm mới tăng gấp nhiều lần so với ngày thường. Mức giá cao nhất của tháng là vào sáng ngày 14/2 (tức 10/2 Âm lịch) khi giá mua vào được các hệ thống kinh doanh vàng niêm yết ở mức khoảng 36,75 triệu đồng/lượng và giá bán ra xấp xỉ 37,4 triệu đồng/lượng. Tuy nhiên, bước sang ngày 15/2, giá vàng lại có xu hướng giảm mạnh bất chấp sự đi lên của giá vàng thế giới. Vào lúc 8h30 ngày 15/2, giá vàng SJC của công ty VBĐQ Sài Gòn được doanh nghiệp niêm yết mức 36,63 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,87 triệu đồng/lượng (bán ra), tăng 130 ngàn đồng chiều mua vào và giảm 150 ngàn đồng chiều bán ra so với cuối giờ chiều ngày 14/2. 

Tới ngày 22/2, các nhà đầu tư trong nước mãn nhãn khi chứng kiến đà tăng mạnh nhất của giá vàng trong gần 1 năm qua. Giá mua vào đã có thời điểm vượt 37 triệu đồng/lượng (vào sáng 20/2) và giá bán ra đạt mức xấp xỉ 37,3 triệu đồng/lượng. Với diễn biến tăng giá, thị trường vàng trong nước ghi nhận không khí giao dịch sôi động ở cả chiều mua và chiều bán. 

Ngày 27/2, giá vàng bán ra chỉ còn sát mức 37 triệu đồng/lượng. Theo Doji, giá vàng miếng giao động quanh ngưỡng 37 triệu đồng/ lượng - mức giá được đánh giá phù hợp cho nhiều phân khúc đầu tư. Với diễn biến liên quan đến thông tin kinh tế chính trị từ thị trường thế giới, nhiều nhà phân tích cho rằng trong ngắn hạn kim quý vàng sẽ có nhiều đợt sóng biến động mạnh. Thời điểm hiện tại nhiều nhà đầu tư đang nắm giữ vàng hoặc đang có xu hướng mua vàng vào đều thiên về xu hướng nắm bắt thêm các kênh thông tin để chờ cơ hội, trong khi những nhà đầu tư nhỏ lẻ trong phiên theo nhu cầu bán vàng ra chiếm ưu thế.

ĐÔ LA

Tỷ giá trung tâm liên tục tăng cao nhưng giá mua bán USD tại ngân hàng lại ổn định trong hai tháng đầu năm 2019


Thời điểm hai tháng đầu năm đồng thời cũng là những tháng giáp Tết nguyên đán, nhu cầu về xuất nhập khẩu hàng hóa luôn tăng cao. Chính vì lẽ đó, tỷ giá USD luôn nằm trong trạng thái “nóng’ hơn nhiều các tháng trước đó. Trong tháng 1 và 2 của năm 2019, tỷ giá trung tâm dù đã được nhà điều hành dùng nhiều biện pháp để bình ổn, nhưng vẫn giữ xu hướng tăng là chủ đạo. 

Trong tháng 1, dưới sức ép tăng giá của đồng bạc xanh trên thị trường tài chính thế giới, tỷ giá trung tâm đã liên tục bật tăng. Mức thấp nhất của tỷ giá trong tháng này là 22.825 đồng/USD và mức cao nhất là 22.880 đồng/USD. Như vậy trong vòng một tháng, tỷ giá đã có bước nhảy vọt tới 55 đồng. 

Tại các Ngân hàng thương mại, trước sự tăng giá của tỷ giá trung tâm, giao dịch USD nhìn chung ít biến động. Mức giao dịch nằm trong biên độ từ 23.150 – 23.250 đồng/USD. 

Giá USD chợ đen nằm trong khoảng 23.150 – 23.240 (mua) và 23.215 – 23.270 (bán).

Tiếp tục xu hướng tăng từ những tháng trước, ngay sau Tết nguyên đán, tỷ giá trung tâm của NHNN liên tục tăng cao. Mức thấp nhất tuần sau Tết (10/2) là 22.895 đồng/USD. Mức cao nhất là vào ngày cuối cùng của tuần 15/2, khi tỷ giá trung tâm được NHNN công bố là 22.915 đồng/USD. Diễn biến này là do trên thị trường thế giới, đồng đô la tiếp tục ở mức cao bất chấp Mỹ công bố 1 số chỉ số kinh tế thất vọng. Những tín hiệu tích cực Mỹ-Trung đang hỗ trợ đồng bạc xanh. Tại các NHTM, giá giao dịch đồng đô la tương đối ổn định. Vào sáng 15/2, đa số các ngân hàng thương mại giữ tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ không đổi so với cuối giờ phiên liền trước, phổ biến ở mức 23.150 đồng (mua) và 23.240 đồng (bán). Giá USD trên thị trường chợ đen đứng ở mức: 23.210 - 23.240 đồng/USD.

Tuần đến ngày 22/2, dù còn đứng ở mức cao, tỷ giá trung tâm có chiều hướng giảm nhẹ qua các phiên, dao động trong khoảng từ 22.903 – 22.913 đồng/USD. Diễn biến này của tỷ giá thuận chiều theo đồng USD trên thị trường thế giới tiếp tục xu hướng suy yếu do giới đầu tư lo ngại nền kinh tế Mỹ sẽ suy yếu cho dù quán tính tích cực hiện vẫn còn. Tại các NHTM, nhìn chung giá giao dịch đồng đô la ổn định. Tới đầu giờ sáng 22/2, đa số các ngân hàng thương mại giữ tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ không đổi so với cuối giờ phiên liền trước, phổ biến ở mức 23.155 đồng (mua) và 23.255 đồng (bán). Giá USD trên thị trường chợ đen đứng ở mức: 23.190 - 23.210 đồng/USD.

Vào ngày 27/2, tỷ giá ngoại tệ diễn biến theo xu hướng đồng USD trên thị trường thế giới tiếp tục giảm sâu sau khi chính quyền ông Donald Trump có những tuyên bố hài lòng trong cuộc đàm phán với Trung Quốc với mức công bố là 22.908 đồng. Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch NHNN hiện mua vào ở mức 23.200 đồng (không đổi) và bán ra ở mức 23.547 đồng (giảm 1 đồng). Giá giao dịch đô la tại các NHTM phổ biến là 23.150 đồng (mua) và 23.250 đồng (bán). Giá USD trên thị trường chợ đen đứng ở mức: 23.200 - 23.220 đồng/USD.

Tính từ đầu năm 2018, tỷ giá đồng đô la Mỹ trong hệ thống ngân hàng tăng 465-475 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra.

THÉP XÂY DỰNG

Giá thép trong nước tăng lần thứ 4 kể từ đầu năm 2019



Bước sang đầu năm 2019, tại thị trường nội địa giá thép có xu hướng tăng do giá thép tại Trung Quốc giữ xu hướng phục hồi và giá vật liệu thô tăng mạnh.Theo đó, khoảng từ đầu tháng 1/2019, một số doanh nghiệp thép lớn của Trung Quốc cũng thông báo tăng giá bán thép giao trong tháng 3.

Tại thị trường trong nước, kể từ cuối tháng 12/2018 , theo thông báo của Công ty CP Gang thép Thái Nguyên, giá bán thép (chưa thuế VAT) tăng 150.000 đồng/tấn so với 11 ngày trước đó. Giá thép trơn khoảng 12,5 triệu đồng/tấn, trong khi các loại thép khác vẫn dao động trong khoảng 12,5 - 12,85 triệu đồng/tấn.

Công ty sản xuất thép Australia SSE (SSE Steel) cho biết, bắt đầu từ hôm 19/2 sẽ tăng giá bán thép cây D10 thêm 100.000 đồng/tấn. Đối với thép cây và thép cuộn, SSE Steel tăng giá bán thêm lần lượt 250.000 đồng/tấn và 300.000 đồng/tấn vào ngày 15/2. Đến ngày 18/2, công ty tiếp tục tăng giá bán thép cây và thép cuộn thêm 200.000 đồng/tấn. Lý giải cho việc tăng giá thành phẩm, SSE Steel cho biết do giá phôi thép và giá các nguyên liệu đầu vào khác trên thị trường tăng.

Tương tự, chỉ chưa đầy 1 tháng, Công ty CP Sản xuất thép Việt Đức cũng liên tiếp tăng giá bán thép hai lần. Thép Việt Đức báo giá thép cuộn rút dây SAE1008, CB240 tăng 300.000 đồng/tấn (chưa bao gồm 10% VAT) từ ngày 13/2. Đến hôm 19-2, một nguồn tin thân cận cho biết công ty tiếp tục tăng giá thép cây D10 thêm 100.000 đồng/tấn.

Công ty CP Gang thép Thái Nguyên (Tisco) ngày 18/2 cũng nâng giá thép thành phẩm. Trong đó, thép thanh vằn D10 tăng 200.000 đồng/tấn, thép cuộn, D12 và D14 trở lên tăng 150.000 đồng/tấn. Giá các sản phẩm thép xây dựng dự án các loại cũng tăng 150.000 đồng/tấn. Đây là lần tăng giá thứ 4 của công ty kể từ cuối tháng 12 năm ngoái. Trong vòng chưa đầy 2 tháng, giá thép trơn tăng 600.000 đồng/tấn từ 12,5 triệu đồng/tấn lên 13,1 triệu đồng/tấn (chưa VAT) trong khi thép vằn tăng từ 12,85 triệu đồng/tấn lên 13,45 triệu đồng/tấn (chưa VAT).

Đối với thép Hòa Phát, thép Việt Ý, giá các loại thép thành phẩm cũng tăng mạnh so với khoảng một tháng trước. Đến ngày 14/2, giá thép cuộn, thép cây đồng loạt tăng 400 đồng/cây (đã bao gồm 10% VAT). Riêng thép D12 tăng mạnh 800 đồng/cây.

Dự báo về xu hướng thị trường thép trong năm 2019, ông Nguyễn Ðình Phúc, Tổng giám đốc VNSteel cho rằng, có thể khó khăn hơn so với năm 2018. Tình trạng cung vượt cầu sẽ mở rộng sang hầu hết cơ cấu các sản phẩm lĩnh vực sản xuất thép bao gồm phôi thép, thép xây dựng, thép cán nguộn, tôn mạ và tiếp tục giá tăng cạnh tranh về giá tới đây sẽ là yếu tố chính trên thị trường. Với các yếu tố không mấy lạc quan này, dù không muốn song Tổng công Thép cũng phải thẳng thắn nhìn nhận khả năng khó khăn và tiếp tục sụt giảm trong hoạt động sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất thép dài và thép dẹt trong năm nay. 

Bên cạnh đó, thị trường thế giới có xu hướng ngày càng gia tăng chính sách bảo hộ, căng thẳng thương mại Mỹ - Trung diễn biến phức tạp, giá nguyên liệu tiếp tục bất ổn với xu hướng giảm cũng ảnh hưởng tới tình hình sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất thép nói chung.

Theo đánh giá của Bộ Công thương, xu hướng bảo hộ thương mại và hàng rào phi thuế quan ngày càng gia tăng sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến ngành thép. Việc áp các mức thuế chống bán phá giá từ các thị trường nhập khẩu thép lớn như Mỹ, Canada, EU, Indonesia, Thái Lan, Ấn Ðộ sẽ khiến cho xuất khẩu thép của Việt Nam tiếp tục khó khăn.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp thép cũng đang lo ngại trước diễn biến lãi suất, tỷ giá tiếp tục xu hướng tăng khiến chi phí sản xuất của doanh nghiệp tăng cao. Khả năng một số đơn vị mất cân đối tài chính có thể bị siết tín dụng đối với các doanh nghiệp cán nguội và tôn mạ khó khăn sẽ tác động tới toàn ngành thép.

Năm 2019 được nhận định là thời điểm ngành thép xuất hiện sự phân hóa rõ nét giữa các doanh nghiệp (DN), theo đó cơ hội cũng như thách thức có thể sẽ xuất hiện riêng biệt thay vì toàn ngành như giai đoạn trước.

XI MĂNG

Tháng 1: Xuất khẩu xi măng đạt khoảng 2,87 triệu tấn



Bước sang tháng đầu năm 2019, theo thống kê của Tổng cục Hải quan, lượng xuất khẩu xi măng trong tháng 1/2019 đạt 2,87 triệu tấn, trị giá hơn 123 triệu USD, tăng 24,9% so với cùng kỳ năm trước. 

Philippines, Trung Quốc, Bangladesh vẫn là 3 thị trường chủ lực xuất khẩu xi măng của Việt Nam với 2,1 triệu tấn, chiếm thị phần hơn 75% tổng sản lượng xuất khẩu xi măng và clinker cả nước. Cụ thể, trong tháng 1/2019 lượng xi măng xuất khẩu sang Philippines đạt hơn 778.000 tấn, trị giá hơn 38,9 triệu USD; Bangladesh hơn 770.000 tấn, trị giá 29,8 triệu USD, đây cũng là nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất của nước ta sang thị trường này.

Lượng xi măng xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc hơn 623.000 tấn, trị giá gần 24 triệu USD. Ngoài ra, xi măng Việt Nam còn xuất khẩu sang một số thị trường trong khu vực như Đài Loan với 185.000 tấn, trị giá 7,5 triệu USD; Malaysia hơn 89.000 tấn với kim ngạch đạt 3,4 triệu USD, Campuchia hơn 33.000 tấn…

Trước những nhận định về thị trường xi măng năm 2019, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Vật liệu xây dựng Việt Nam Thái Duy Sâm cho biết, trong năm 2019 Bộ Xây dựng dự kiến sẽ điều chỉnh giảm sản lượng xuất khẩu xi măng so với năm 2018. Cụ thể, năm 2018 tổng sản lượng xuất khẩu xi măng của Việt Nam đạt 31,2 triệu tấn, nhưng trong năm 2019 dự kiến chỉ còn khoảng 25 triệu tấn. Tuy nhiên, nhu cầu thị trường trong nước sẽ tăng thêm khoảng 7 - 8% (từ 64 triệu tấn năm 2018 lên 70 triệu tấn năm 2019) nên nhu cầu tiêu thụ vẫn sẽ giữ mức ổn định.

Liên quan đến thị trường xuất khẩu, vào thời điểm cuối tháng 2/2019, theo thông tin từ Thương vụ Việt Nam tại Philippines, Bộ Thương mại và Công nghiệp Philippines (DTI) đã thông báo áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời đối với sản phẩm xi măng nhập khẩu vào Philippines.

Theo đó, sau quá trình điều tra, DTI kết luận lượng nhập khẩu xi măng đã gia tăng đột biến, là nguyên nhân gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước trong thời kỳ điều tra. Do vậy, để bảo vệ ngành sản xuất nội địa cũng như thúc đẩy ngành sản xuất nội địa tiếp tục phát triển, DTI quyết định áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời 8,40Php/túi40kg, tương đương 210 pê sô/tấn, quy đổi ra khoảng 4 USD/tấn. Theo DTI, lượng thuế tự vệ này được xác định trên cơ sở cân bằng lợi ích của tất cả các bên liên quan, đặc biệt là đảm bảo lượng cung vẫn duy trì ổn định và giá bán không tăng.

Biện pháp tự vệ tạm thời này có hiệu lực trong 200 ngày dưới hình thức tiền ký quỹ đối với xi măng nhập khẩu.

Trong vụ việc này, sản phẩm bị điều tra là xi măng có mã HS: 2523.2990 và 2523.9000. Thời kỳ điều tra để xem xét lượng tăng nhập khẩu, thiệt hại là từ 2013 – 2017.

Cơ quan điều tra cho rằng trong giai đoạn 2013 – 2017, lượng xi măng nhập khẩu đã gia tăng đáng kể trong giai đoạn 2014 – 2017, cụ thể: tổng lượng xi măng nhập khẩu đã tăng 70% trong năm 2014; 4,390% năm 2015; 549% năm 2016, 72% năm 2017.

XĂNG DẦU

Giá xăng dầu có 1 lần giảm và 2 lần giữ nguyên kể từ đầu năm 2019


Kể từ ngày 1/1/2019 đến hết ngày 27/2/2019, giá xăng dầu trong nước đã trải qua 3 kỳ điều chỉnh giá với một lần giảm và 2 lần giữ nguyên giá. Để góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô,  giảm chi phí đầu vào của doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh và hỗ trợ đời sống sinh hoạt của người dân, đặc biệt thời gian trước và sau Tết Nguyên đán giá cả một số mặt hàng thiết yếu vẫn ở mức cao tác động đến một số chỉ số kinh tế vĩ mô trong Quý I/2019, Liên Bộ Công Thương - Tài chính đã quyết định điều chỉnh mức chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu để giữ ổn định giá bán xăng dầu trong nước.

Như vậy, giá bán các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường không cao hơn mức giá: Xăng E5RON92: không cao hơn 16.272 đồng/lít; Xăng RON95: không cao hơn 17.603 đồng/lít; Dầu diesel 0.05S: không cao hơn 14.909đồng/lít; Dầu hỏa: không cao hơn 14.185đồng/lít; Dầu mazut 180CST 3.5S: không cao hơn 13.275 đồng/kg.

Liên Bộ Công Thương – Tài chính cũng cho biết, theo Nghị quyết số 579/2018/UBTVQH14 ngày 26/9 /2018 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Biểu thuế bảo vệ môi trường có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2019. Như vậy, từ ngày 01/01/ 2019, thuế bảo vệ môi trường đối với xăng (trừ etanol) là 4.000 đồng/lít, dầu diesel là 2.000 đồng/lít, dầu hỏa là 1.000 đồng/lít, dầu mazut là 2.000 đồng/lít.

Tại kỳ điều chỉnh lần 2 vào 15h chiều ngày 16/1, sau khi thực hiện trích lập và chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu giá các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường được giữ ổn định như kỳ 1/2019. 

Như vậy, giá bán các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường như sau: Xăng E5RON92: không cao hơn 16.272 đồng/lít; Xăng RON95-III: không cao hơn 17.603 đồng/lít; Dầu diesel 0.05S: không cao hơn 14.909 đồng/lít; Dầu hỏa: không cao hơn 14.185 đồng/lít; Dầu mazut 180CST 3.5S: không cao hơn 13.275 đồng/kg.

Trong đợt điều chỉnh giá xăng dầu lần này Liên Bộ giữ nguyên mức trích lập Quỹ Bình ổn giá xăng dầu đối với xăng E5RON92. Đối với xăng RON95, mức trích lập là 300 đồng/lít; dầu diesel 300 đồng/lít, dầu hỏa 300 đồng/lít và dầu mazut là 300 đồng/kg.

Mức chi Quỹ bình ổn giá xăng dầu đối với xăng E5RON92 là 1.462 đồng/lít, xăng RON95 645 đồng/lít, dầu diesel 430 đồng/lít, dầu hỏa 295 đồng/lít vá dầy mazut là 583 đồng/kg.

Tại kỳ điều chỉnh lần thứ 3 (15/2), nhằm bình ổn thị trường sau Tết Nguyên đán, cơ quan điều hành quyết định giữ nguyên giá bán lẻ xăng dầu, bằng cách tăng chi Quỹ bình ổn. Như vậy, từ đầu năm đến nay, giá xăng liên tục được giữ nguyên mặc dù giá thế giới có xu hướng tăng.

Theo đó, giữ nguyên mức trích lập Quỹ bình ổn giá xăng dầu đối với các mặt hàng xăng dầu như hiện hành. Đồng thời tăng chi sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu: Xăng E5 RON92 là 1.932 đồng/lít (kỳ trước chi sử dụng 1.673 đồng/lít); xăng RON95 là 1.171 đồng/lít (kỳ trước chi sử dụng 825 đồng/lít); dầu diesel là 1.354 đồng/lít (kỳ trước chi sử dụng 1.003 đồng/lít); dầu hỏa là 1.078 đồng/lít (kỳ trước chi sử dụng 652 đồng/lít); dầu mazut là 1.699 đồng/kg (kỳ trước chi sử dụng 1.196 đồng/kg).

Như vậy, giá các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường tiếp tục được giữ ổn định. Cụ thể, xăng E5 RON92 là không cao hơn 16.272 đồng/lít; xăng RON95-III là không cao hơn 17.603 đồng/lít; dầu diesel 0.05S là không cao hơn 14.909 đồng/lít; dầu hỏa là không cao hơn 14.185 đồng/lít; dầu mazut 180CST 3.5S là không cao hơn 13.275 đồng/kg.

GAS

Giá gas tăng 16.000 đ/bình trong 2 tháng đầu năm


Vào chiều ngày 31/12/2018, các đơn vị đầu mối kinh doanh, phân phối mặt hàng gas tại Tp. Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phía Nam đã công bố giá gas trong tháng 1/2019 với mức tăng 333 đồng/kg (đã bao gồm VAT), tương đương 4.000/bình 12kg. 

Theo các đơn vị kinh doanh mặt hàng này, nguyên nhân giá gas trong tháng 1/2019 tăng so với tháng 12/2018 là do phí bảo hiểm mua hàng tăng giá và giá gas thế giới bình quân tháng 1/2019 vừa công bố ở mức 425 USD/tấn, chỉ giảm nhẹ 5 USD/tấn so với tháng trước. 

Cùng ngày, Chi hội gas miền Nam cũng thông báo, từ ngày 1/1/2019, giá gas bán lẻ tối đa đến tay người tiêu dùng của một số thương hiệu như Petrovietnam, Sp gas, Petrolimex, gas Dầu khí… có mức phổ biến là 320.000 đồng/bình 12kg (tương đương hoặc tăng khoảng 4.000/bình 12kg so với tháng 12). 

Cũng vào ngày cuối cùng của tháng 1, các đơn vị đầu mối kinh doanh, phân phối mặt hàng gas tại Tp. Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phía Nam đã công bố giá gas tháng 2/2019. Theo đó, giá gas sẽ tăng 1.000 đồng/kg (đã bao gồm VAT), tương đương 12.000/bình 12kg. 

Nguyên nhân giá gas trong tháng 2/2019 tăng so với tháng 1/2019 được các đơn vị kinh doanh cho biết, do giá gas thế giới bình quân tháng 2/2019 vừa công bố ở mức 455 USD/tấn, tăng 30 USD/tấn so với tháng 1/2019. Đồng thời, giá gas tăng cũng một phần do chi phí sản xuất, đầu tư tăng thêm. 

Tương tự, Chi hội gas miền Nam cũng thông báo, từ ngày 1/2/2019, giá gas bán lẻ tối đa đến tay người tiêu dùng của một số thương hiệu, gồm Petrovietnam, Sp gas, Petrolimex, gas Dầu khí… có mức phổ biến khoảng 332.000 đồng/bình 12kg. 

Theo đó, các tổng công ty, doanh nghiệp đã triển khai cập nhật thông tin và thông báo điều chỉnh giá gas đến các chi nhánh cửa hàng, đại lý bán lẻ trên địa bàn, để đảm bảo tuân thủ quy luật thị trường và quyền lợi của người tiêu dùng. 

Như vậy tổng cộng 2 tháng đầu năm, giá gas đã tăng 16.000 đ/bình 12kg.

Ô TÔ

Xe nhập khẩu về ồ ạt, xe lắp ráp nguy cơ bị “lép vế”


Những tháng đầu năm 2019, nhu cầu mua xe đi Tết đã không còn, thị trường bắt đầu đi vào hoạt động theo đúng quỹ đạo, mức tiêu thụ xe trong tháng Tết đã giảm như thường lệ. Có thể thấy người mua đã dần “bình tĩnh” để cân nhắc, lựa chọn với kỳ vọng thị trường ô tô Việt Nam năm 2019, khi không còn vướng “rào cản” Nghị định 116, sẽ “bon nhanh”.

Trao đổi với phóng viên Báo Hải quan, lãnh đạo một liên doanh xe Mỹ nhận định: Khi nguồn cung xe nhập khẩu không còn vướng, thị trường ô tô Việt Nam sẽ có sự bứt phá mạnh mẽ trong năm 2019.

Còn theo số liệu mới nhất từ Tổng cục Hải quan, 15 ngày đầu tháng 2, cả nước chi gần 107 triệu USD nhập 4.554 ô tô nguyên chiếc, tăng gần 33 lần về lượng, hơn 10 lần về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Bình quân ô tô nhập khẩu trong 15 ngày đầu tháng 2 trị giá khoảng 23.500 USD/xe (chưa tính các khoản thuế), trong khi năm ngoái là hơn 74.000 USD/xe.

Còn tính từ đầu năm 2019 đến ngày 15/2, cả nước đã nhập khẩu 16.208 ô tô nguyên chiếc các loại với tổng kim ngạch gần 381 triệu USD vượt hàng chục lần so với cùng kỳ 2018.

Trước đó, theo báo cáo bán hàng của VAMA (Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam), trong tháng 1/2019, toàn thị trường ô tô đạt 33.484 chiếc, giảm 2% so với tháng 12/2018 (34.234 chiếc) và tăng 27% so với tháng 1/2018.

Tuy nhiên, trong tháng đầu tiên của năm 2019, lượng xe nhập khẩu về tăng mạnh thì xe trong nước lại giảm sản lượng. Cụ thể, so với tháng trước, sản lượng tiêu thụ của xe lắp ráp trong nước là 18.799 chiếc, giảm tới 12%. Trong khi đó, số lượng xe nhập khẩu nguyên chiếc trong tháng 1 là 14.685 chiếc, tăng 14%.

Như vậy, trong tháng 1, lượng xe nhập khẩu đã bằng 78% lượng xe trong nước tiêu thụ được.

Nếu so với tháng 1/2018 thì doanh số bán hàng của xe lắp ráp trong nước tháng 1/2019 giảm 10% trong khi xe nhập khẩu tăng 166%.

Trong những dòng xe lắp ráp trong nước, Toyota vẫn dẫn đầu với doanh số bán đạt 7.599 xe, Hyundai Thành Công (là doanh nghiệp không thuộc VAMA) xếp thứ 2 với 6.807 xe, tiếp theo là Thaco Mazda (thuộc Trường Hải – THACO) đạt 5.153 xe. Ở các vị trí tiếp theo, Honda tạo bất ngờ khi vươn lên xếp thứ 4 với 4.348 xe, vượt qua THACO KIA (3.463 xe) và Ford (3.401 xe).

Về thị trường xe nhập khẩu, Thái Lan và Indonesia vẫn là 2 thị trường đóng góp lượng xe về Việt Nam lớn nhất với khoảng 10.000 chiếc các loại, trong đó Indonesia có hơn 2.700 chiếc chủ yếu xe dưới 9 chỗ ngồi, còn Thái Lan có hơn 7.300 chiếc, đa phần là xe dưới 9 chỗ ngồi và một phần là xe bán tải.

Xét về mức giá, xe xuất xứ Indonesia nhập về Việt Nam có giá rẻ, trung bình nhất hơn 327 triệu đồng/chiếc. Xe Thái Lan cũng có mức giá trung bình thấp thứ 2 với 479 triệu đồng/chiếc.

Giá trung bình xe con nhập về Việt Nam thời điểm tháng 1/2019 là 491 triệu đồng/chiếc, thấp hơn nhiều so với mức giá trung bình 900 triệu đồng/chiếc tháng 1/2018 và cao hơn mức giá trung bình 423 triệu đồng/chiếc hồi tháng 12/2018.

Mức giá trung bình nhập xe thấp cho thấy, lượng xe nhập về Việt Nam ngay từ đầu năm đã tập trung vào phân khúc thấp và trung bình.

Với mức giá trung bình nhập xe thấp như vậy, hứa hẹn thị trường xe ô tô trong thời gian tới sẽ có một cuộc đua về giá vô cùng khốc liệt giữa xe nhập khẩu và xe lắp ráp.

Mặc dù chưa có bất cứ dự báo nào về thị trường ô tô trong năm 2019 từ VAMA nhưng giới kinh doanh xe tin rằng, sức mua của thị trường sẽ tiếp tục đà hồi phục, bằng việc cạnh tranh về mẫu xe, giá bán và chính sách bán hàng, các doanh nghiệp sẽ đẩy mạnh lượng tiêu thụ xe trong năm nay.

THỦY SẢN 

Thủy sản hướng đến kim ngạch xuất khẩu 10,5 tỷ USD trong năm 2019



Năm 2019, cá tra là một trong những ngành được hưởng lợi nhiều nhất nhờ nhu cầu gia tăng tại Trung Quốc và các rào cản thương mại tại Mỹ. Năm 2018, vượt qua những khó khăn, xuất khẩu cá tra đạt mức kỷ lục 2,26 tỷ USD.

Bên cạnh đó, khi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) được ký kết và thực thi, thuế nhập khẩu cá tra vào Liên minh châu Âu (EU) sẽ giảm từ mức 5,5% về 0% trong 3 năm (với cá tra thô); từ mức 7% về 0% trong 7 năm (với cá tra chế biến). Điều này tạo cơ hội lớn để doanh nghiệp xuất khẩu cá tra đẩy mạnh sản lượng và giá trị mặt hàng này. 

Trên bình diện giá cả, mặt hàng cá tra trong tháng đầu năm 2019 có xu hướng hạ nhiệt hơn với thời điểm cuối năm 2018. Theo Tổng Cục Thống kê, giá cá tra nguyên liệu trong tháng 1 tuy có giảm nhẹ nhưng vẫn ở mức cao, dao động từ 29.000 - 33.000 đồng/kg. Với mức giá này người nuôi có lãi từ 5.000 - 9.000 đồng/kg. Sản lượng cá tra tháng 1 ước tính đạt 82.100 tấn, tăng 7,5% so với cùng kì năm trước.

Đối với thị trường tôm, nhu cầu tiêu thụ mặt hàng này tại thị trường nội địa phục vụ Tết Nguyên đán tăng làm giá tôm tăng nhẹ so với tháng trước. Trong tháng 1/2019, người nuôi tôm thẻ chân trắng tại Bến Tre đã vui mừng vì giá tăng từ 20 - 30% so với 2 tháng trước. cụ thể, tôm loại 100 con/kg có giá từ 100.000 đồng/kg, tôm loại 70 con/kg có giá từ 105.000 - 110.00 đồng/kg, tôm loại 50 con/kg có giá từ 120.000 - 130.000 đồng/kg. Với mức giá tăng cao, nhiều hộ nông dân Bến Tre cải tạo ao để tái nuôi sau khoảng thời gian tôm rớt giá gây lỗ nặng.

Về sản lượng, sản lượng tôm sú tháng 1 ước tính đạt 13.300 tấn, tăng 0,8% so với cùng kì năm trước. Sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 17.500 tấn, tăng 8%.

Tổng Cục Thống kê cho biết, sản lượng thủy sản tháng 1 ước tính đạt 498.000 tấn, tăng 4,3% so với cùng kì năm trước. Trong đó, sản lượng cá đạt 379.400 tấn, tăng 4,9%; tôm đạt 43.800 tấn, tăng 1,4%; thủy sản khác đạt 74.800 tấn, tăng 3%.

Sản lượng thủy sản khai thác tháng 1 ước tính đạt 265.800 tấn, tăng 5% so với cùng kì năm trước.

Kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 700 triệu USD, tăng 5,2% so với cùng kì năm ngoái.

Năm 2019, ngành Thủy sản đặt mục tiêu: Tốc độ tăng giá trị sản xuất thủy sản tăng 4,69% so với năm 2018. Tổng sản lượng thủy sản đạt 8.081 nghìn tấn, tăng 4,2% so với ước thực hiện năm 2018, trong đó: sản lượng khai thác thủy sản 3.603 nghìn tấn, tăng 2,6%, sản lượng nuôi trồng thủy sản 4.386 nghìn tấn, tăng 5,6% (cá tra đạt 1.512 nghìn tấn, tăng 6,6%, Tôm các loại 864 nghìn tấn, tăng 7,4%). Kim ngạch xuất khẩu thủy sản phấn đấu đạt 10,5 tỷ USD.

Để rộng cửa cho thủy sản xuất khẩu, một trong những điểm nghẽn các DN quan tâm khắc phục ngay trong đầu năm 2019 đó là việc tháo gỡ "thẻ vàng" hải sản xuất khẩu.

Theo ông Trương Đình Hòe, Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), hiện vẫn chưa có thông tin chính xác thời điểm Đoàn thanh tra của Ủy ban châu Âu (EC) sẽ sang Việt Nam xem xét vấn đề khắc phục "thẻ vàng" hải sản.

Theo kế hoạch đầu năm 2019, Đoàn thanh tra của EC sẽ quay lại Việt Nam để kiểm tra, đánh giá tình hình, kết quả thực hiện các khuyến nghị của EC về chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo (IUU). Tuy nhiên, kế hoạch này đã bị dời lại. Đây là lần thứ 3 EC có các cuộc kiểm tra xoay quanh IUU. 

Ngoài việc khắc phục "thẻ vàng" để đẩy mạnh xuất khẩu, ngành thủy sản Vệt Nam còn phải đối mặt với một số khó khăn về rào cản kỹ thuật. Hiện nay, vấn đề công nhận tương đương cho ngành cá tra Việt Nam trong chương trình thanh tra cá da trơn của Mỹ, Cục Thanh tra an toàn thực phẩm (FSIS) thuộc Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) đã đề xuất với Văn phòng đăng ký liên bang Mỹ công nhận tương đương cho cá tra Việt Nam. Theo đó, Văn phòng đăng ký Liên bang Mỹ cũng đã đăng dự thảo lấy ý kiến về đề xuất nêu trên của FSIS. Đề xuất được đăng công khai và lấy ý kiến rộng rãi trong 30 ngày, tính từ giữa tháng 9/2018. Tuy nhiên, đến nay phía Mỹ vẫn chưa đưa ra phán quyết cuối cùng. Việt Nam vẫn đang chờ phía Mỹ công nhận tương đương. Với việc phía Mỹ chưa đưa ra quyết định cuối cùng bằng văn bản trong việc công nhận tương đương cho ngành cá tra Việt Nam nói riêng và cá da trơn nói chung, dù đã quá thời hạn quy định cũng đồng nghĩa việc loại thủy sản này của Việt Nam XK vào Mỹ còn đang bỏ ngỏ.

Tương tự, Chương trình Giám sát nhập khẩu thủy sản (SIMP) của Mỹ áp dụng cho 13 loại thủy hải sản đi vào thị trường này từ đầu năm 2018 cũng đang khiến cho việc thu mua nguyên liệu đáp ứng được các yêu cầu xuất xứ trở nên khó khăn hơn với các nhà chế biến Việt Nam. "Những thách thức như vậy cũng chính là dịp để chúng ta nhìn lại toàn ngành, để tổ chức sắp xếp lại các khâu đánh bắt, bảo quản, vận chuyển…", đại diện VASEP nhận định.

Ông Trần Văn Lĩnh, Chủ tịch HĐQT Công ty Thủy sản Thương mại Thuận Phước cho rằng, kế hoạch tăng kim ngạch mặt hàng tôm từ mức 3,6 tỷ USD năm 2018 lên 4,2 tỷ USD trong năm 2019 đang gặp không ít áp lực. Bên cạnh lượng tồn kho không nhỏ tại các thị trường chính do mùa đông khắc nghiệt vừa qua và sự lớn mạnh của các đối thủ nuôi trồng thủy sản như Ấn Độ, Trung Quốc, ngành nuôi trồng thủy sản Việt Nam còn đang loay hoay đi tìm lời giải cho bài toán giá thành sản xuất để đủ sức cạnh tranh khi xuất khẩu…

LÚA GẠO

Bấp bênh thị trường lúa gạo hai tháng đầu năm 2019



Sang đầu năm 2019, bức tranh lúa gạo không còn khởi sắc như cùng kỳ năm trước. Theo báo cáo của Bộ NN-PTNT, xuất khẩu gạo của Việt Nam tháng 1/2019 sụt giảm cả về giá cả, khối lượng và giá trị. Cụ thể, lượng gạo xuất khẩu chỉ đạt 373 nghìn tấn (giảm 24,2% so với cùng kỳ), giá trị ước đạt 167 triệu USD (giảm 30% so với cùng kỳ).

Bộ NN-PTNT cũng cho biết, từ cuối 2018, giá lúa tươi (IR50404) tại ruộng có dấu hiệu sụt giảm, xuống còn 4.200-4.400 đồng/kg; thóc hạt dài (OM 504) giảm còn 4.500 đồng/kg vào đầu tháng 2/2019.

Nguyên nhân được cho là một số thị trường vẫn còn lượng gạo dư của 2018 nên đầu năm chưa có nhu cầu nhập khẩu. Sau Tết Kỷ Hợi 2019, các doanh nghiệp đã giao hàng vào tháng 12/2018 chưa chủ động giao theo phiếu, hệ thống thương lái chưa vào cuộc mạnh mẽ. Bên cạnh đó, thị trường lớn nhất là Trung Quốc giảm, các thị trường khác chưa có nhiều khởi sắc. Các thị trường quốc tế đang tiếp tục có sự cạnh tranh gia tăng về chất lượng, chủng loại và yêu cầu kiểm tra chất lượng hàng xuất khẩu.

Thực tế, những ngày này, người nông dân ở ĐBSCL như ngồi trên đống lửa vì vào vụ thu hoạch mà giá lúa lại lao dốc. Thậm chí, tại Đồng Tháp và An Giang giá lúa còn giảm theo ngày.

Một nông dân ở xã Lạc Quới (huyện Tri Tôn, An Giang) cho hay, giá lúa IR50404 ông bán cho thương lái chỉ 4.550 đồng/kg, giảm 500 đồng/kg so với vụ đông xuân năm ngoái, trừ hết chi phí, chỉ còn lời 300.000-400.000 đồng/công (1.000m2).

Mới đây, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo cuộc họp quan trọng bàn về các giải pháp trước mắt và lâu dài, trong đó trước mắt giao Bộ Tài chính thu mua đưa vào dự trữ quốc gia năm 2019 với lượng 200.000 tấn gạo và 80.000 tấn lúa. Đồng thời, một số doanh nghiệp Trung Quốc đã trao đổi, thống nhất với các đối tác của Việt Nam về nhu cầu nhập khẩu gạo của Việt Nam (biên bản ghi nhớ đã được ký kết giữa Tổng Công ty Lương thực Miền Nam (Vinafood 2) và Thung lũng Thực phẩm Nông nghiệp Công nghệ cao quốc gia Sơn Đông - Trung Quốc (FVC). Hai bên sẽ thực hiện ngay bản ghi nhớ này trong nửa đầu năm 2019. Những sự vào cuộc tích cực, chủ động của các cấp bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp góp phần làm giảm áp lực thị trường, giá lúa gạo tại ĐBSCL có những diễn biến chuyển động tích cực. Giá lúa tươi tăng 200 đồng/kg, giá gạo nguyên liệu tăng 165 đồng/kg.

CÀ PHÊ

Giá cà phê tháng 1 phục hồi


Giá cà phê tại thị trường trong nước tháng 1 tăng theo giá cà phê toàn cầu. Ngày 28/1, giá cà phê robusta tăng 0,6 - 2,2% so với ngày 28/12/2018, theo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương).

Giá cà phê có mức thấp nhất là 32.800 đồng/kg tại huyện Di Linh, Lâm Đồng, cao nhất là 33.700 đồng/kg tại huyện Cư M’gar tỉnh Đắk Lắk. Tại các kho quanh khu vực TP HCM, giá cà phê robusta loại R1 ở mức 34.300 đồng/kg, tăng 0,6%.

Tại sàn giao dịch London, ngày 28/1 giá cà phê robusta giao kỳ hạn tháng 3 tăng 1,7% so với ngày 28/12/2018, lên mức 1.534 USD/tấn.

Cục Xuất Nhập khẩu cho hay, giá cà phê toàn cầu tháng 1 tăng do hoạt động mua vào tăng mạnh trong khi nguồn cung tại khu vực Trung Mỹ khan hiếm. Thị trường lo ngại sản lượng cà phê trong niên vụ 2018 tại Brazil và Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng do thời tiết không thuận lợi.

Cũng theo ước tính của Cục Xuất nhập khẩu, xuất khẩu cà phê của Việt Nam tháng 1 đạt 175.000 tấn, trị giá 305 triệu USD, tăng 13,7% về lượng và tăng 10,6% về trị giá so với tháng 12/2018.

Tháng 1, giá xuất khẩu cà phê trung bình ở mức 1.743 USD/tấn, giảm 2,7% so với tháng 12/2018 và giảm 10,7% so với tháng 1/2018. Năm 2018, lượng xuất khẩu các chủng loại cà phê đều tăng mạnh so với năm 2017.

Cà phê robusta vẫn có tỉ trọng áp đảo khi chiếm 85,3% tổng lượng cà phê xuất khẩu, tăng so với 80% của năm 2017, đạt hơn 1,6 triệu tấn, trị giá 2,7 tỉ USD, tăng 27,8% về lượng và tăng 5,9% về trị giá so với năm 2017.

Bước sang tháng 2/2019, giá cà phê có xu hướng giảm nhẹ hơn so với tháng 1. Cụ thể, mở cửa phiên giao dịch ngày 27/2, giá cà phê tại huyện Bảo Lộc (Lâm Đồng) ở mức 32.500 đồng/kg, giá cà phê tại Di Linh, Lâm Hà thấp đang có giá 32.400 đồng/kg. Trong khi đó giá cà phê tại huyện Cư M'gar (ĐắkLắk), Ea H'leo (ĐắkLắk) dao động trong khoảng 33.400 – 33.500 đồng/kg. Tại huyện Buôn Hồ giá cà phê ở mức 33.100 đồng/kg.

Tại thị trường thế giới, giá cà phê Robusta trên sàn ICE Europe – London đang giảm. Giá cà phê robusta kỳ hạn tại London với giá hợp đồng giao tháng 3/2019 giảm 9 USD (mức giảm 0,59%) lên mức 1522 USD/tấn. Trong khi tại New York, giá cà phê arabica tháng 3/2019 giảm 2,85 USD (mức giảm 2,86%) đứng ở mức 93,55 cent/lb.

Thời gian qua, xuất khẩu cà phê của Việt Nam đã và đang chịu tác động trực tiếp từ thị trường cà phê thế giới. Dự báo, trong 6 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu cà phê của Việt Nam sẽ tiếp tục gặp khó khăn. Nguyên nhân do giá cà phê toàn cầu ở mức thấp và lượng cà phê xuất khẩu có khả năng thấp hơn cùng kỳ năm 2018 do sản lượng giảm. Về cơ bản, bức tranh của thị trường cà phê thế giới có thể sẽ khá ảm đạm trong nửa đầu năm.

HẠT TIÊU

Năm 2019, sản lượng hạt tiêu sẽ đạt khoảng 200.000 tấn


Trong 20 ngày đầu tháng 1/2019, thị trường hạt tiêu toàn cầu vẫn chịu sức ép giảm giá do nguồn cung được bổ sung từ vụ mùa mới. Giá hạt tiêu đen và hạt tiêu trắng giảm so với ngày 10/01/2019.

Tại Brazil, sau khi duy trì ổn định ở mức giá 2.400 USD/tấn trong gần 3 tháng vừa qua, ngày 9/1/2019 giá hạt tiêu đen giảm xuống còn 2.250 USD/tấn.

Tại cảng TP HCM, ngày 18/1/2019 giá hạt tiêu đen xuất khẩu loại 500g/l và 550g/l ổn định ở mức 2.425 USD/tấn và 2.675 USD/tấn ,giảm 4,0% và 3,6% so với ngày 18/12/2018. Giá hạt tiêu trắng xuất khẩu giữ ổn định so với ngày 10/1/2019, ở mức 3.825 USD/tấn, nhưng giảm 2,5% so với ngày 18/12/2018.

Tại các vùng thu hoạch, vào thời điểm cuối tháng 1/2019, giá tiêu tại Đắk Lắk (Ea H'leo), Đắk Nông (Gia Nghĩa), Bình Phước đều đi ngang ở mức 46.000 đồng/kg. Giá tiêu tại Gia Lai, Đồng Nai cũng đứng ở mức thấp nhất là 45.000 đồng/kg.

Theo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), giá hạt tiêu tại khu vực Tây Nguyên và miền Nam sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán vẫn đang ổn định ở mức 46.000 đồng/kg - mức giá thấp nhất trong vòng gần 10 năm trở lại đây.

Trong tháng đầu tiên của năm 2019, xuất khẩu hạt tiêu đạt 15.000 tấn, trị giá 46 triệu USD, tăng 19,5% về lượng và tăng 13,5% về trị giá so với tháng 12/2018. Cũng trong tháng này, giá xuất khẩu bình quân hạt tiêu đạt mức 3.067 USD/tấn, giảm 5,0% so với tháng 12/2018 và giảm 23,5% so với tháng 1/2018.

Để nâng cao giá trị mặt hàng hồ tiêu xuất khẩu, doanh nghiệp và người sản xuất thời gian tới vẫn phải thay đổi theo hướng nâng cao chất lượng và an toàn thực phẩm, đáp ứng yêu cầu của các thị trường khó tính như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản ...

Bên cạnh đó hiện nay chất lượng tiêu giống vẫn còn là bài toán lớn mà ngành cần giải quyết. 

Về mặt chế biến, Cục Xuất nhập khẩu cho rằng ngành hạt tiêu cần nghiên cứu để gia tăng giá trị sản phẩm bằng cách chế biến chuyên sâu như hương liệu, sản phẩm có dược tính, thực phẩm chức năng.

Sản lượng tiêu của Việt Nam năm 2019 được kỳ vọng sẽ đạt 175 nghìn tấn tiêu đen và 25 nghìn tấn tiêu trắng, tổng sản lượng tiêu sẽ đạt khoảng 200 nghìn tấn. So với năm trước, sản lượng hồ tiêu của Việt Nam được dự báo giảm nhẹ, do giảm diện tích sản xuất hồ tiêu tại 1 số khu vực.

HẠT ĐIỀU

Xuất khẩu điều giảm cả về lượng lẫn trị giá trong tháng 1/2019


Bộ Công thương dẫn số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan cho biết, xuất khẩu hạt điều tháng 1/2019 đạt 32,7 nghìn tấn, trị giá 266,3 triệu USD, giảm 3,7% về lượng và giảm 3,2% về trị giá so với tháng 12/2018, tăng 7,2% về lượng, nhưng giảm 14,9% về trị giá so với tháng 1/2018.

Giá xuất khẩu bình quân hạt điều tháng 1/2019 đạt mức 8.137 USD/tấn, tăng 0,6% so với tháng 12/2018, nhưng giảm mạnh 20,6% so với tháng 1/2018. Trong đó, giá xuất khẩu bình quân hạt điều sang thị trường Hoa Kỳ đạt mức 8.118 USD/tấn, giảm nhẹ 0,1% so với tháng 12/2018 và giảm 22,1% so với tháng 1/2018.

Đáng chú ý, giá xuất khẩu bình quân hạt điều sang thị trường Hà Lan tháng 1/2019 tăng 10,7% so với tháng 12/2018, đạt mức 8.835 USD/tấn, so với tháng 1/2018 giảm tới 21%. Giá xuất khẩu bình quân hạt điều sang hai thị trường Ý và Philippin tăng mạnh với mức tăng lần lượt 17,4% và 36,2% so với tháng 12/2018.

Được biết, tính hết tháng 1/2019, Mỹ là thị trường xuất khẩu hạt điều lớn nhất của Việt Nam, đạt 10.822 tấn với trị giá 87,85 triệu USD, tăng 20,4% về lượng và tăng 20,3% về trị giá so với tháng 12/2018, so với tháng 1/2018 tăng 17,1% về lượng, nhưng giảm 8,7% về trị giá. 

Trung Quốc là thị trường xuất khẩu hạt điều lớn thứ 2 của Việt Nam trong tháng 1/2019, đạt 4.997 tấn với trị giá 41,45 triệu USD, giảm mạnh 30,9% về lượng và giảm 31,8% về trị giá so với tháng 12/2018, so với cùng kỳ năm 2018 giảm 17,5% về lượng và giảm 30,8% về trị giá. 

Trên thị trường thế giới, tháng 1/2019, giá hạt điều biến động trong biên độ hẹp do đang vào vụ thu hoạch tại nhiều quốc gia như Brasil, Indonesia, Bénin, Mozambique, Kenya, trong khi nhu cầu không tăng.

Tại Việt Nam, nhu cầu hạt điều nguyên liệu giảm do bước vào kỳ nghỉ Tết Nguyên đán 2019, nhiều lò tách vỏ hạt điều thô đã nghỉ sản xuất, giá hạt điều tại Việt Nam hiện ở mức 350.000 đồng một kg, trong khi hạt điều rang muối có giá 360.000 đồng một kg.

CAO SU

Xuất khẩu cao su tháng 2/2019 giảm tháng thứ hai liên tiếp


Nối tiếp đà sụt giảm kể từ tháng cuối năm 2018, tháng 1/2019 xuất khẩu cao su của cả nước giảm cả lượng và trị giá, giảm lần lượt 9,1% và 5,1% tương ứng với 157,1 nghìn tấn, trị giá 199,78 triệu USD – đây là tháng giảm thứ ba liên tiếp kể từ tháng 11/2018.

Theo Cục XNK (Bộ Công Thương), ước tính tháng 2/2019 lượng cao su xuất khẩu đạt 51 nghìn tấn, trị giá 76 triệu USD, giảm 61,8% về lượng và 61% trị giá so với tháng 1/2019 - đây là tháng giảm thứ hai liên tiếp kể từ đầu năm 2019, nhưng tăng 18,2% về lượng và 2,9% trị giá so với tháng 2/2018. Tính chung 2 tháng đầu năm 2019, ước đạt 186 nghìn tấn, trị giá 274 triệu USD, tăng 16,6% về lượng và 1,4% trị giá so với cùng kỳ năm trước.

Với vị trí và khoảng cách địa lý, Trung Quốc đại lục là thị trường xuất khẩu chủ lực cao su của Việt Nam trong tháng 1/2019, chiếm 66,2% thị phần, đạt 104 nghìn tấn, trị giá 131,6 triệu USD, tăng 38,81% về lượng và 20,95% trị giá, tuy nhiên giá xuất bình quân chỉ đạt 1.264,52 USD/tấn, giảm 12,87% so với tháng 1/2018. Nếu so sánh với tháng 12/2018, xuất khẩu cao su sang thị trường Trung Quốc giảm 13,08% về lượng và 8,7% trị giá, trong khi giá xuất bình quân tăng 5,05%.

Thị trường đứng thứ hai là Ấn Độ đạt 13,5 nghìn tấn, trị giá 17,7 triệu USD, tăng 24,63% về lượng và 6,62% trị giá so với tháng 1/2018, giá xuất bình quân 1316 USD/tấn, giảm 14,45%. So với tháng 12/2018 đều tăng cả lượng và trị giá, tăng tương ứng 16,47%, 17,7% và giá xuất bình quân tăng 1,06%.

(TTGCVT /T.Hiền tổng hợp) 

 

 

Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (024) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (024) 39762593 
Email:ttgcvattu1989@gmail.com