Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Thị trường hàng hóa nguyên liệu trong nước tháng 12/2018
Cập nhật: 1-1-2019

VÀNG

Giá vàng không có sự bật tăng nào trong tháng 12


Những ngày cuối cùng của năm 2018 gần khép lại và giá vàng gần như không có nhiều dấu ấn đáng kể, khi ít có diễn biến tăng giảm nào gây bất ngờ trên thị trường. Giá cả hầu như nằm trong trạng thái bình lặng và dường như trong năm 2018, vàng không phải lựa chọn tối ưu của các nhà đầu tư. Tất cả đều nghe ngóng mọi diễn biến của thị trường vàng và chỉ chờ quyết định để tham gia thị trường. Nhưng trái lại, vàng vẫn “thờ ơ” trước điều đó.

Trong tuần đầu tháng 12, thị trường kim quý trong nước giao dịch khá phẳng lặng trước diễn biến leo dốc rồi đổ đèo của thị trường vàng thế giới. Giá vàng có xu hướng giảm nhẹ, dao động trong khoảng 36,26 – 36,34 triệu đồng/lượng (chiều mua vào) và 36,44 – 36,52 triệu đồng/lượng (chiều bán ra). Theo Doji, nhu cầu giao dịch mỏng kết hợp việc nghe ngóng chờ đợi thêm xu hướng từ thị trường thế giới đã khiến cho các nhà đầu tư chưa mặn mà. Kết thúc tuần vào sáng 7/12, giá vàng SJC của công ty VBĐQ Sài Gòn đứng ở mức 36,26 – 36,44 triệu đồng/lượng và là mức thấp nhất tuần này. 

Bước sang tuần thứ 2, giá vàng hầu như không biến động.Trong 5 phiên của tuần, giá vàng chỉ nằm trong khoảng từ  36,23 – 36,36 triệu đồng/lượng (chiều mua vào) và 36,41 – 36,52 triệu đồng/lượng (chiều bán ra). Theo khảo sát của Doji, phần lớn nhà đầu tư tiếp cận thị trường theo hướng bán vàng ra chiếm khoảng 70% lượng khách tham gia giao dịch. Kết thúc tuần, vào sáng 14/12 giá vàng nằm ở vùng thấp nhất tuần (36,23 – 36,41 triệu đồng/lượng). Với mức giá này, vàng trong nước đang cao hơn giá thế giới khoảng 2 triệu đồng mỗi lượng.

Trung tuần tháng 12, vàng có xu hướng giảm giá nhẹ khi chỉ nằm trong khoảng từ 36,21 – 36,28 triệu đồng/lượng chiều mua vào; 36,30 – 36,48 triệu đồng/lượng chiều bán ra. Tuy nhiên, trước diễn biến tăng giá của vàng thế giới đã khiến cho lực cầu gia tăng trong nhiều phiên và tạo hiệu ứng tâm lý khá tốt đối với nhà đầu tư tìm kiếm cơ hội mua vào. Theo khảo sát của Doji, số lượng khách theo chiều mua vào chiếm ưu thế tới 65% trên tổng số lượng khách tham gia giao dịch tại hệ thống.

Tuần cuối cùng của tháng 12, giá vàng trong nước phản ứng khá chậm với đà tăng của giá vàng thế giới khi chủ yếu đứng ở mức 36,22 triệu đồng/lượng (chiều mua vào) và 36,42 triệu đồng/lượng (chiều bán ra). Đây là giai đoạn cận cuối năm, là thời điểm nghỉ lễ Noel và nghỉ Tết dương lịch các nhà đầu tư quốc tế, do vậy các giao dịch trong phiên phát sinh nhỏ giọt chủ yếu với tâm lý thăm dò. Trong ngắn hạn, nhiều chuyên gia đánh giá rằng, kim loại quý sẽ được hưởng lợi bởi những bất ổn chính trị của Mỹ và các chuỗi vấn đề liên quan. Do vậy, các nhà đầu tư cần nắm bắt xu thế một cách chính xác để có thể đưa ra những quyết định đầu tư hiệu quả nhất.

ĐÔ LA

Tỷ giá trung tâm đứng ở mức cao và liên tục biến động

Tỷ giá trung tâm đã được nhà điều hành điều chỉnh tăng liên tiếp kể từ trung tuần tháng 11. Bước sang tuần đầu tiên của tháng 12, tỷ giá trung tâm tiếp đà tăng nóng, khi trong 5 phiên, giá dao động trong khoảng từ 22.755 – 22.764 đồng/USD. Theo giới chuyên gia, nguyên nhân là do thời điểm cuối năm nhu cầu về ngoại tệ trong nước lớn khi nhiều doanh nghiệp đã đến hạn phải thanh toán tiền nhập khẩu hàng hóa cho các đối tác cũng như trả nợ các khoản vay ngoại tệ. Bên cạnh đó, đồng USD được dự báo tiếp tục tăng giá trong khoảng thời gian từ nay đến cuối năm 2018 khi chiến tranh thương mại Mỹ - Trung còn khá căng thẳng và Trung Quốc có xu hướng dùng công cụ chính sách tiền tệ để giảm tác động tiêu cực của chiến tranh thương mại.  

Tại các NHTM, tỷ giá cũng có xu hướng biến động. Lúc 8 giờ 20 phút sáng 7/12, tại Vietcombank giá USD được niêm yết ở mức 23.280 - 23.370 VND/USD (mua vào - bán ra), tăng 10 đồng ở cả chiều mua và bán so với cùng thời điểm sáng 6/12. Tại Techcombank, giá đồng bạc xanh được niêm yết ở mức 23.250 - 23.360 VND/USD (mua vào - bán ra), tăng 10 đồng ở chiều mua và bán so với hôm trước đó.  

Trong tuần thứ 2, do diễn biến đồng USD trên thị trường thế giới trong ngắn hạn vẫn đang trụ ở mức cao, tỷ giá trung tâm của NHNN tiếp tục biến động. Trong tuần, có 2 phiên được NHNN công bố ở mức 22.775  đồng/USD. Mức cao nhất tuần thuộc về ngày thứ Sáu (14/12) khi tỷ giá được niêm yết ở 22.778 đồng/USD. Tại các NHTM, giá giao dịch đồng đô la không có nhiều biến động. Đầu giờ sáng 14/12, một số ngân hàng thương mại giữ tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ không đổi so với cuối phiên liền trước, phổ biến ở mức 23.240 đồng (mua) và 23.330 đồng (bán). Giá USD trên thị trường chợ đen thời điểm trên đứng ở mức: 23.320 - 23.340 đồng/USD.

Tỷ giá trung tâm tuần từ 17-21/12/2018 có tới 3 phiên được NHNN công bố ở mức 22.785 đồng/USD. Mức thấp nhất của tỷ giá trung tâm trong tuần này là 22.778 đồng/USD. Tại các NHTM, giá USD biến động nhẹ. Đầu giờ sáng 21/12, một số ngân hàng thương mại tăng tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ thêm 5 đồng so với cuối phiên liền trước, phổ biến ở mức 23.280 đồng (mua) và 23.370 đồng (bán). Giá USD trên thị trường chợ đen thời điểm sáng 21/12 đứng ở mức: 23.360 - 23.380 đồng/USD.

Bước sang tuần cuối cùng, đà tăng của tỷ giá trung tâm vẫn chưa dừng lại. Chốt đến sáng 26/12, tỷ giá trung tâm đạt mức cao nhất tháng là 22.792 đồng/USD. Trước xu hướng tăng liên tục của tỷ giá trung tâm, giá mua bán USD tại các ngân hàng cũng tăng theo. Mức giá phổ biến là 23.235 đồng (mua) và 23.325 đồng (bán). Như vậy, tính từ đầu năm, tỷ giá đồng đô la Mỹ trong hệ thống ngân hàng tăng 520-535 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra.

THÉP XÂY DỰNG

Sắt thép trong nước không biến động tháng cuối năm

Theo Cục Quản lý giá, Bộ Tài chính, trong tháng cuối của năm 2018, thị trường sắt thép giá cả ổn định, góp phần bình ổn giá cả thị trường nói chung.

Từ cuối tháng 10 đến hết tháng 11/2018, do giá nguyên liệu đầu vào giảm nên một số nhà máy điều chỉnh giảm khoảng từ 55-700 đồng/kg tùy từng chủng loại và nhà sản xuất thép.

Giá bán tại các nhà sản xuất thép trong tháng 11 ở mức khoảng từ 11.300 – 13.600 đồng/kg (giá giao tại nhà máy, chưa bao gồm 10% thuế VAT, chiết khấu bán hàng).

Nửa đầu tháng 12, giá bán lẻ thép xây dựng tại thị trường trong nước cơ bản ổn định như tháng 11. Giá bán lẻ phổ biến tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung dao động ở mức 12.900 – 14.600 đồng/kg. Tại các tỉnh miền Nam, giá thép dao động ở mức 13.000 – 15.500 đồng/kg.

Trong báo cáo mới đây của Hiệp hội Thép Việt Nam (VNSteel) trong tháng 11/2018 sản xuất các sản phẩm thép đạt 2.124.578 tấn, giảm 4,2%   so với tháng trước, nhưng tăng 15,7% so với cùng kỳ 2017, trong đó sản xuất ở tất cả các sản phẩm thép thành phẩm đều tăng so với cùng kỳ 2017 ngoại trừ thép xây dựng giảm 4,1%.

Bán hàng các sản phẩm thép đạt 1.858.929 tấn, giảm 3,42% so với tháng trước, nhưng tăng 7,3% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, xuất khẩu thép đạt 429.115 tấn, tăng 19,8% so với 11 tháng 2017.

Như vậy, trong 11 tháng đầu năm 2018 , Sản xuất đạt 22.181.200 tấn, tăng 16,2% so với cùng kỳ 2017; Bán hàng đạt 19.935.284 tấn, tăng 23,6% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, xuất khẩu đạt 4.342.853 tấn, tăng 29,1% so với cùng kỳ 2017.Tuy nhiên, nếu loại trừ tăng trưởng của HRC thì sản xuất & bán hàng thép thành phẩm các loại chỉ tăng lần lượt 7% và 12%.

Về tình hình xuất nhập khẩu các sản phẩm thép: Tính đến hết 31/10/2018, nhập khẩu sắt thép thành phẩm và bán thành phẩm các loại đạt hơn 17,129 triệu tấn, với tổng kim ngạch nhập khẩu đạt gần 11,2 tỷ USD, tăng lần lượt 0,6% về lượng và 2% về giá trị nhập khẩu. Trong 10 tháng đầu năm 2018, nhập khẩu thép thành phẩm từ Trung Quốc  ~ 5,3 triệu tấn, giảm 13% về lượng, nhưng tăng 10% về trị giá so với cùng kỳ 2017; Tỷ trọng thép nhập khẩu từ quốc gia này chiếm ~ 46,4% tổng lượng thép thành phẩm nhập khẩu.

Theo ông Nguyễn Văn Sưa - Phó chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam đánh giá, thị trường thép đang khá phức tạp vì giá cả nguyên liệu cho sản xuất thép đang thay đổi theo chiều hướng tăng mà việc tăng giá sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường thép Việt Nam vì nhiều nguyên liệu như quặng sắt, sắt thép đều được nhập khẩu nên bất kỳ động thái thay đối giá thế giới đều ảnh hưởng tới Việt Nam. Do vậy, các doanh nghiệp Việt Nam phải có sự điều chỉnh phù hợp để cân đối lợi nhuận.  

Ông Sưa chia sẻ về việc liên quan đến việc Mỹ vừa tuyên bố sẽ đánh thuế cao đối với thép và nhôm nhập khẩu vào Mỹ từ một số nước trong đó có Việt Nam, có thể sẽ có những tác động nhất định đến giá thép. Tuy nhiên đối với thị trường trong nước thì tác động không lớn vì sản lượng thép xuất khẩu qua thị trường Mỹ không nhiều. Trong trường hợp, Mỹ không thay đổi quyết định về việc áp thuế đối với thép nhập khẩu từ Việt Nam thì sẽ chỉ làm giảm tính cạnh tranh và có ảnh hưởng nhất định đối với các doanh nghiệp xuất khẩu mặt hàng này qua thị trường Hoa Kỳ.  

Đại diện Hiệp hội Thép cũng cho rằng, xét trên tổng thể thì Việt Nam không có biến động mạnh về ngành thép vì thị trường tiêu thụ lớn nhất của thép Việt Nam (chiếm khoảng 60%) là Asian, Hoa Kỳ chỉ chiếm khoảng 11,1%. Đặc biệt, trong hai năm trở lại đây, lượng thép xuất khẩu thép vào Mỹ cũng đang có xu hướng giảm, năm 2016 xuất khẩu thép sang Mỹ gần 1 triệu tấn nhưng đến 2017 giảm xuống chỉ còn 500 ngàn tấn (tổng xuất khẩu thép cả nước năm 2017 đạt 4,7 triệu tấn). Do vậy, trong ngắn hạn, nếu mất thị trường Mỹ thì về cơ bản các doanh nghiệp thép của Việt Nam cũng sẽ không gặp khó khăn nhiều vì thị trường nội địa và nội khối ASEAN vẫn mang lại dư địa tăng trưởng khả quan.

XI MĂNG

Giá xi măng cuối tháng 12/2018 tăng

Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) nhận định giá bán xi măng tại một số doanh nghiệp sản xuất vào cuối tháng 12/2018 sẽ tăng do nhu cầu xây dựng của người dân tăng cao.

Báo cáo của Tổng công ty công nghiệp xi măng Việt Nam, ước lượng tiêu thụ của toàn ngành xi măng trong 15 ngày đầu tháng 12 đạt khoảng 2,8 triệu tấn, ổn định so với cùng kỳ tháng 11. Trong đó, lượng xuất khẩu xi măng khoảng 1,2 triệu tấn, trị giá 57,5 triệu USD.

Theo hồ sơ kê khai giá tại một số công ty xi măng thuộc tổng công ty xi măng Việt Nam, giá bán trung bình của một số chủng loại xi măng ổn định so với đầu tháng 11. Giá xi măng bao PCB30 dao động từ 1,24 – 1,31 triệu đồng/tấn, giá xi măng bao PCB40 từ 1,03 – 1,51 triệu đồng/tấn, tăng khoảng 30.000 đồng so với đầu tháng 10.

Giá bán xi măng cuối tháng 12 có xu hướng tăng. Đây cũng là thời điểm nhu cầu xây dựng của người dân tăng cao cùng với chi phí đầu vào như điện, than, dầu cũng có sự thay đổi nên các doanh nghiệp sản xuất có thể điều chỉnh giá bán.

Trong 11 tháng, tổng kim ngạch xuất khẩu xi măng đạt 1,12 tỉ USD, tăng 85% so với cùng kì năm trước, trong đó, sản lượng xuất khẩu sang Trung Quốc đạt hơn 8,7 triệu tấn với kim ngạch đạt 321 triệu USD.

Theo báo cáo của Tổng cục Hải quan, tính riêng tháng 11, lượng xi măng xuất khẩu đạt 2,7 triệu tấn, trị giá hơn 117,5 triệu USD giảm 3,1% về lượng và giảm 2,9% về trị giá so với tháng trước.

Lũy kế 11 tháng, tổng lượng xi măng xuất khẩu đạt hơn 29 triệu tấn, kim ngạch đạt 1,12 tỉ USD, tăng 66% về lượng và tăng 85% về trị giá so với cùng kì năm trước.

Trung Quốc, Bangladesh, Philippines vẫn là 3 thị trường xuất khẩu xi măng chủ lực của Việt Nam với hơn 20 triệu tấn, chiếm gần 72% tổng lượng xi măng xuất khẩu.

Trong đó, lượng clanhke và xi măng xuất khẩu sang Trung Quốc trong tháng 11 đạt 1,1 triệu tấn trị giá 44,5 triệu USD. Lũy kế 11 tháng, tổng lượng xuất khẩu sang thị trường này đạt 8,7 triệu tấn, trị giá hơn 321 triệu USD.

Lượng xi măng xuất khẩu sang Bangladesh trong tháng 11 đạt 160 ngàn tấn, trị giá 5,8 triệu USD, lũy kế 11 tháng đạt 6,1 triệu tấn trị giá 206 triệu USD. Đây cũng là nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất của nước ta sang thị trường này.

Tại thị trường Philippines, lượng xi măng xuất khẩu trong tháng 11 đạt 467 ngàn tấn, trị giá 25 triệu USD. Lũy kế 11 tháng, hơn 6 triệu tấn với trị giá hơn 282 triệu USD.

Ngoài ra còn một số thị trường như Đài Loan cũng nhập khẩu một số lượng lớn xi măng của Việt Nam với hơn 1,4 triệu tấn trị giá hơn 50 triệu USD trong 11 tháng qua.

Xuất khẩu xi măng, clanhke đã chứng kiến mức tăng phi mã kể từ 2017 đến nay. Trong năm 2017, lượng xuất khẩu xi măng đạt 21 triệu tấn và đến nay, tổng lượng xi măng xuất khẩu đã vượt xa kế hoạch xuất khẩu từ 18-19 triệu tấn của cả năm 2018 khoảng 10 triệu tấn.

Giá bán trung bình của xi măng Việt Nam thay đổi theo từng quốc gia đối tác. Các nước Đông Nam Á đang nhập khẩu xi măng với giá cao nhất. Cụ thể, Campuchia đang nhập khẩu xi măng từ Việt Nam với 51,6 USD/tấn và Philippines phải trả 46,4 USD cho mỗi tấn nhập khẩu. Trung Quốc, với sức mạnh đàm phán, chỉ dành 36,3 USD nhập khẩu một tấn xi măng từ Việt Nam.

Số liệu từ Tổng cục Hải quan Việt Nam cho thấy, lượng tiêu thụ tại thị trường Campuchia không lớn, nhưng giá xi măng lại tương đối cao hơn (51,6USD/tấn) ở thị trường Trung Quốc (49,5USD/tấn). Dự báo thị trường Campuchia cũng sẽ tăng lượng nhập khẩu xi măng Việt Nam do hiện nay nhiều nhà máy sản xuất xi măng ở Trung Quốc phải đóng cửa để hạn chế́ ô nhiễm môi trường.

Trên cơ sở dự kiến sản lượng xi măng tiêu thụ năm 2018, Bộ Xây dựng tính toán nhu cầu tiêu thụ xi măng toàn ngành năm 2019 khoảng 98-99 triệu tấn, tăng 6 - 8% so với năm 2018; trong đó tiêu thụ nội địa khoảng 69 - 70 triệu tấn, xuất khẩu khoảng 29 - 30 triệu tấn.

XĂNG DẦU

Giá xăng dầu đồng loạt giảm ở cả hai kỳ điều chỉnh trong tháng 12

Tại kỳ điều chỉnh giá lần thứ nhất vào 15h00 chiều ngày 6/12, Liên bộ Công thương – Tài chính đã quyết định tiếp tục giảm giá tất cả các mặt hàng xăng dầu.

Liên bộ cũng yêu cầu các doanh nghiệp giữ nguyên mức trích lập như hiện hành với các mặt hàng xăng E5 RON92 và RON 95. Mức trích lập Quỹ Bình ổn giá xăng dầu với dầu diesel là 800 đồng/lít và dầu hỏa là 800 đồng/lít trong khi mức trích quỹ với dầu mazut là 800 đồng/kg.

Sau khi thực hiện trích lập và chi sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu, giá các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường như sau: Xăng E5 RON 92: giảm 1.446 đồng/lít; Xăng RON 95-III: giảm 1.513 đồng/lít; Dầu diesel 0.05S: giảm 1.379 đồng/lít; Dầu hỏa: giảm 990 đồng/lít; Dầu mazut 180CST 3.5S: giảm 784 đồng/kg

Như vậy, giá bán các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường không cao hơn mức giá như sau: Xăng E5 RON 92 không cao hơn 17.181 đồng/lít; Xăng RON 95-III không cao hơn 18.459 đồng/lít; Dầu diesel 0.05S: không cao hơn 16.258 đồng/lít; Dầu hỏa: không cao hơn 15.252 đồng/lít; Dầu mazut 180CST 3.5S: không cao hơn 14.402 đồng/kg.

Trong kỳ điều hành này, Bộ Tài chính cũng quyết định tính giá etanol E100 đưa vào tính giá cơ sở mặt hàng xăng E5 RON92 ở mức 14.778 đồng/lít (chưa có thuế GTGT).

Như vậy, đây là kỳ điều chỉnh giảm thứ 4 liên tiếp và cũng là lần giảm mạnh nhất của giá xăng dầu từ đầu năm 2018 đến nay.

Tại kỳ điều chỉnh lần 2 ngày 21/12, Liên Bộ Tài chính - Công Thương cũng đã tiếp tục công bố giảm giá các mặt hàng xăng dầu ở mức 200-400 đồng/lít...Cụ thể như sau: Xăng E5RON92 giảm 394 đồng/lít; Xăng RON95: giảm 318 đồng/lít; Dầu diesel giảm 257 đồng/lít; Dầu hỏa giảm 249 đồng/lít; Dầu mazut giảm 394 đồng/kg.  

Như vậy, giá bán các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường không cao hơn mức giá: Xăng E5RON92 không cao hơn 16.787 đồng/lít; Xăng RON95 không cao hơn 18.141 đồng/lít; Dầu diesel không cao hơn 16.001 đồng/lít; Dầu hỏa không cao hơn 15.003 đồng/lít; Dầu mazut không cao hơn 14.008 đồng/kg.

Theo dữ liệu của Bộ Công Thương, bình quân giá thành phẩm xăng dầu thế giới trong 15 ngày trước ngày 21/12 là 58,868 USD/thùng xăng RON92 dùng để pha chế xăng E5RON92; 60,949 USD/thùng xăng RON95; 70,057 USD/thùng dầu diesel 0.05S; 72,046 USD/thùng dầu hỏa; 368,532 USD/tấn dầu mazut 180CST 3.5S.

Giá etanol E100 đưa vào tính giá cơ sở mặt hàng xăng E5 RON92 theo Công văn số 1444/BTC-QLG ngày 21 tháng 12 năm 2018 của Bộ Tài chính về điều hành kinh doanh xăng dầu là 14.778 đồng/lít (chưa có thuế GTGT).

Như vậy, giá xăng đã có tổng cộng có 5 lần điều chỉnh giảm liên tiếp kể từ hôm 22/10.  

GAS

Giá gas tháng 12 giảm 2.750 đồng/kg

Theo công bố của các đơn vị đầu mối kinh doanh, phân phối mặt hàng gas tại Tp. Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phía Nam, giá gas tháng 12/2018 giảm 2.750 đồng/kg (đã bao gồm VAT), tương đương 33.000 đồng/bình 12kg

Nguyên nhân giá gas giảm so với tháng 11/2018 là do giá gas thế giới bình quân tháng 12/2018 vừa công bố ở mức 430 USD/tấn, giảm 102,5 USD/tấn so với tháng 11/2018.

Tương tự, Chi hội gas miền Nam cũng thông báo, từ ngày 1/12/2018, giá gas bán lẻ tối đa đến tay người tiêu dùng của một số thương hiệu, gồm Petrovietnam, Sp gas, Petrolimex, gas Dầu khí… cũng giảm dao động ở mức 316.000 - 320.000 đồng/bình 12kg.

Hồi tháng 11/2018, giá gas đã giảm 3.333 đồng một kg, tương đương mức giảm 40.000 đồng mỗi bình 12 kg. Trước đó, trong các tháng 8, 9, 10, giá gas đội lên tổng cộng 4.583 đồng mỗi kg đã bao gồm VAT, khiến mỗi bình gas loại 12 kg tăng thêm 45.000 đồng trong giai đoạn này.

Ô TÔ

Thị trường ô tô sôi động trong tháng cuối năm

Cùng thời điểm này vào năm ngoái, thị trường ôtô trở nên cực kỳ sôi động trước tình trạng các hãng xe đua nhau giảm giá, khuyến mại. Nguyên nhân được chỉ ra ngoài “cuộc đua” nhìn nhau phát giá thì phần lớn đến từ tâm lý muốn kích cầu người tiêu dùng do ảnh hưởng bởi “giờ G”-xe nhập khẩu từ ASEAN miễn thuế 0% từ 1/1/2018.

Nhiều mẫu xe có giá giảm từ vài chục cho tới cả trăm triệu đồng nhằm chốt doanh số trước thời điểm 1/1/2018, vốn được đồn đoán xe nhập giá giảm vài chục phần trăm nhờ thuế 0%. Đơn cử như Toyota Vios giảm đến 58 triệu đồng, Ford Fiesta giảm từ 43 - 48 triệu đồng, Nissan Sunny giảm 50 triệu đồng, và gây giật mình là mẫu bán tải Isuzu D-Max 4x4 giảm tới 210 triệu đồng xuống còn 500 triệu đồng.

Tuy nhiên, trong tháng cuối năm 2018 này, biến động về chính sách kinh doanh nhập khẩu ôtô tạm ổn định, sau 11 tháng Nghị định 116 đi vào thực tiễn. Hầu hết các hãng đã tìm ra cách để đưa xe về Việt Nam, cho dù một số nước như Nhật Bản, Mỹ, Đức không có loại giấy tương tự giấy chứng nhận chất lượng kiểu loại cho xe xuất khẩu sang Việt Nam. Lần lượt Ford Explorer, Toyota Land Cruiser Prado, Mercedes-Benz S-Class/Maybach… đã cập cảng để đến tay người tiêu dùng.

Trong tháng 12 này, xu hướng bao trùm của thị trường ôtô Việt Nam là việc các hãng loại bỏ dần những mẫu xe có doanh số ít và không mang lại hiệu quả kinh doanh, với những cái tên đáng chú ý như Jaguar F-type, Land Rover Discovery HSE Lux/diesel, Lexus GS 200t/350, Lexus GX460.

Ngoài ra, do đây là cao điểm mùa bán hàng cuối năm, khi mà người dân bắt đầu “mở ví” để sắm một chiếc xe chuẩn bị đón Tết Nguyên đán, vì thế hầu hết các hãng tiếp tục duy trì mức giá công bố của các mẫu xe hiện có trong danh mục sản phẩm của mình, tập trung cho việc bán hàng và các chương trình khuyến mại, tặng thiết bị để lôi kéo khách hàng.

Mới đây, theo thống kê từ Hiệp hội các Nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), doanh số bán hàng của toàn thị trường ô tô Việt Nam trong tháng 11/2018 đạt 30.540 chiếc, tăng 6% so với tháng 10/2018, tăng 23% so với cùng kỳ năm ngoái.

Trong đó, số lượng xe du lịch đạt 21.718 chiếc (tăng 2% so với tháng trước), số lượng xe thương mại là 8.386 chiếc (tăng 18%) và số lượng xe chuyên dụng là 436 chiếc (tăng 15%).

Xét tổng doanh số bán hàng của toàn thị trường qua 11 tháng năm 2018, các thành viên VAMA đã bán ra tổng cộng 253.956 xe ô tô các loại, tăng trưởng khoảng 4% so với cùng kỳ năm ngoái. Thị trường xe trong nước tiếp tục được dẫn dắt bởi các mẫu xe du lịch khi phân khúc này bán ra tới 172.515 chiếc kể từ đầu năm. Trái ngược với sự tăng trưởng của xe du lịch thì xe thương mại sụt giảm nhẹ khi chỉ bán ra 74.810 chiếc.

Thị trường ô tô trong nước đã có liên tiếp 4 tháng tăng trưởng mạnh mẽ kể từ tháng 8/2018. Mẫu xe phân khúc A Toyota Wigo sau một tháng gây sốt đã giảm mạnh doanh số trong tháng này, chỉ còn 857 chiếc và rơi khỏi top 10 xe bán chạy. Trong khi đó, hai dòng xe Honda CR-V và Mazda CX-5 quay trở lại danh sách bán chạy của tháng 11.

Theo các chuyên gia kinh tế, Việt Nam đang trong giai đoạn dân số 'vàng', với sự gia tăng nhanh chóng của tầng lớp trung lưu - những khách hàng tiềm năng lớn của dòng xe cá nhân được dự báo sẽ tăng trưởng nhanh trong thời gian từ nay đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035. Dự báo, tăng trưởng tiêu thụ xe của Việt Nam sẽ tăng trưởng ở mức 22,6%/năm trong giai đoạn 2018 - 2025 và đạt khoảng 18,5%/năm trong giai đoạn 2025 - 2035.

Như vậy, khép lại tháng cuối cùng của năm 2018, có thể thấy tâm lý "giải khát" có thể là một lý giải chính đáng cho sự cháy hàng, đắt khách của thị trường ô tô Việt Nam một năm qua, khi thuế nhập khẩu từ ASEAN dù về 0%, giá không giảm và khuyến mãi cũng không đua nhau "khủng" như trước.

THỦY SẢN 

Doanh nghiệp gom đủ hàng, giá cá tra hạ nhiệt

Tại hội nghị tổng kết ngành thủy sản năm 2018, chiều 24/12/2018, ông Phùng Đức Tiến, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho biết, sản lượng thủy sản năm 2018 đạt con số cao nhất từ trước đến nay, với 7,74 triệu tấn, tăng 7,2% so với năm trước. Trong đó, sản lượng khai thác đạt 3,59 triệu tấn (tăng 6,0%); sản lượng nuôi trồng đạt 4,15 triệu tấn (tăng 8,3%).

Ước tính năm 2018, tổng giá trị sản xuất thủy sản đạt khoảng 228.139,8 tỷ đồng, tăng 7,7% so với năm 2017; kim ngạch xuất khẩu thiết lập mốc kỷ lục 9 tỷ USD, tăng 8,4% so với năm trước. Ngành cá tra đã chứng kiến sự tăng trưởng vượt bậc với kim ngạch xuất khẩu 2,26 tỷ USD, tăng 26,4% so với năm 2007. 

Riêng về ngành hàng cá tra nguyên liệu, Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn cho biết giá cá tra nguyên liệu tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) từ cuối tháng 11 và tháng 12/2018 có dấu hiệu giảm nhiệt sau khi liên tục giữ ở mức kỷ lục trong hơn một tháng trước đó. Tính đến cuối tháng 11, giá cá tra thịt trắng nguyên liệu loại I (700 - 900g/con) đạt 32.000 - 33.000 đồng/kg so với cách đây một tháng là 35.000 - 36.000 đồng/kg.  

Giá cá tra giảm do nguồn cung cải thiện cùng với nhu cầu nguyên liệu của các doanh nghiệp chững lại bởi nhiều doanh nghiệp đã gom đủ hàng giao cho dịp Giáng Sinh và cuối năm nên hạ giá thu mua. Ở mức giá hiện tại, người nuôi vẫn đảm bảo có lãi và thị trường sẽ diễn biến thuận lợi cho người nuôi đến hết năm, Bộ Nông nghiệp nhận định.  

Giá cá giống hiện nay cũng giảm nhiều so với tháng trước do các công ty và hộ nuôi hầu như đã nhập đủ lượng giống nên nhu cầu giảm. Giá mẫu giống 30 con/kg đang ở mức 45.000 - 50.000 đồng/kg. Tuy nhiên, giá cá giống sắp tới có thể giảm mạnh về mức 40.000 - 45.000 đồng/kg.  

Bộ Nông nghiệp cho biết tình hình nuôi cá tra gặp nhiều thuận lợi, giá cá tra nguyên liệu vẫn đang ở mức cao, nhiều hộ tăng lượng thức ăn để thúc cá đạt cân nặng thu hoạch kịp đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp chế biến dịp cuối năm.  

Xuất khẩu cá tra tháng 11 tăng 7,1% so với tháng trước và đạt 241 triệu USD. Tính chung 11 tháng, xuất khẩu mặt hàng này mang về hơn 2,05 tỷ USD, tăng 27,4% so với cùng kỳ năm ngoái.  

Giá tôm chững lại ở mức thấp  

Thị trường tôm nguyên liệu trong tháng 11 và tháng 12 có xu hướng giảm giá nhẹ đối với tôm sú ướp đá và nhích giá nhẹ với tôm thẻ chân trắng. Hiện nay, người dân chủ yếu thu hoạch tôm sú, tôm thẻ còn ít, theo Bộ Nông nghiệp.  

Tại Bạc Liêu, giá tôm sú ướp đá nguyên liệu cỡ 20,30,40 con/kg giảm 10.000 - 30.000 đ/kg xuống lần lượt 210.000 đ/kg, 155.000 đ/kg và 135.000 đ/kg.  

Ngược lại, giá tôm thẻ ướp đá nhích nhẹ 2.000 - 3.000 đ/kg cho các cỡ từ 60 - 100 con/kg (cỡ 60 con/kg là 117.000 - 120.000 đ/kg; cỡ 70 con/kg là 102.000 - 105.000 đ/kg, cỡ 100 con/kg là 90.000 - 92.000 đ/kg).  

Bộ Nông nghiệp cũng cho biết giá tôm nguyên liệu đến cuối năm không có biến động mạnh do phần lớn các doanh nghiệp đã gom đủ hàng cho các phiếu giao trong tháng 12, trong khi các hợp đồng cho năm 2018 vẫn chưa được ký kết nhiều.  

Về tình hình sản xuất trong nước, sản lượng tôm nước lợ cả nước 11 tháng năm 2018 ước đạt 670.500 tấn, tăng 7,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng tôm sú ước đạt 282.800 tấn, sản lượng tôm thẻ ước đạt 387.700 tấn.

Trên bình diện xuất khẩu, so với cùng kì năm 2017, xuất khẩu tôm trong tháng 11 tiếp tục giảm trên 19% xuống 290 triệu USD. Tổng kim ngạch xuất khẩu tôm từ đầu năm đến hết tháng 11 đạt gần 3,3 tỉ USD, giảm 7% so với cùng kì năm ngoái. VASEP dự báo xuất khẩu tôm hết năm nay đạt khoảng 3,6 tỉ USD, giảm 5% so với năm 2017.

LÚA GẠO

Thị trường gạo tháng cuối năm đang có tín hiệu tích cực

Do những yếu tố khách quan được coi là thuận lợi về thị trường cũng như giá cả, tháng cuối năm, gạo xuất khẩu của Việt Nam sẽ tiếp tục gặp những thuận lợi. Theo dự báo của Cục chế biến và phát triển thị trường, cả năm 2018, gạo xuất khẩu sẽ giữ vững đà tăng trưởng, kỳ vọng có thể đạt 6,15 triệu tấn với kim ngạch đạt 3,15 tỷ USD, tăng 5,7% về lượng và 19,6% về trị giá so với năm 2017.

Theo thông tin từ Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản, riêng trong tháng 11/2018, giá lúa gạo đã có diễn biến tăng tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) do nhu cầu tiêu thụ cải thiện trong bối cảnh nguồn cung hạn hẹp. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũng cho biết, khối lượng gạo xuất khẩu tháng 11 năm 2018 ước đạt 496 nghìn tấn với giá trị đạt 241 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu gạo 11 tháng đầu năm 2018 ước đạt 5,7 triệu tấn và 2,9 tỷ USD, tăng 5,6% về khối lượng và tăng 17,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017.

Thời gian qua, Trung Quốc vẫn tiếp tục đứng vị trí thứ nhất về thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam với 24,1% thị phần. Các thị trường có giá trị xuất khẩu gạo tăng mạnh là Indonesia, Irắc, Hồng Kông, Philippin và Malaysia. Giá gạo xuất khẩu bình quân 10 tháng đầu năm 2018 đạt 504 USD/tấn, tăng 12,3% so với cùng kỳ năm 2017.

Về loại gạo xuất khẩu, cũng trong thời gian qua, giá trị xuất khẩu gạo trắng chiếm 51% tổng kim ngạch; gạo Jasmine và gạo thơm chiếm 32%; gạo nếp chiếm 12% và gạo Japonica, gạo giống Nhật chiếm 5%. Thị trường xuất khẩu gạo Jasmine và gạo thơm lớn nhất của Việt Nam là Trung Quốc (25%), Ghana (23%) và Bờ Biển Ngà(14%). Với gạo nếp, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất, chiếm tới 82% tổng kim ngạch xuất khẩu gạo nếp của Việt Nam, trị giá 272 triệu USD. Về gạo Japonica và gạo giống Nhật, hai thị trường xuất khẩu chủ yếu là Papua New Guinea (57%) và Trung Quốc (13%).

Tháng 11 năm 2018, giá lúa gạo diễn biến tăng nhẹ tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long do nhu cầu tiêu thụ cải thiện trong bối cảnh nguồn cung hạn hẹp. Theo hệ thống cung cấp giá địa phương, tại An Giang, lúa IR50404 tăng 200 đ/kg, tăng từ 5.500 đ/kg lên 5.700 đ/kg; lúa chất lượng cao OM 5451 ổn định ở mức 5.700 đ/kg, gạo tẻ IR50404 ở mức 10.000 đ/kg; gạo chất lượng cao tăng 500 đ/kg lên mức 13.000 đ/kg; gạo thơm đặc sản jasmine ở mức 14.000 đ/kg. Tại Vĩnh Long, lúa IR50404 tăng 100 đ/kg lên mức 5.400 đ/kg; lúa khô IR50404 ở mức 5.900 đ/kg; gạo IR50404 tăng 2.000 đ/kg lên mức 12.000 đ/kg; gạo jasmine tăng 2.000 đ/kg lên mức 14.000 đ/kg.

CÀ PHÊ

Giá tiếp đà giảm từ đầu tháng 12, dự báo khó khởi sắc trong thời gian tới

Bộ Công thương cho biết, tháng 11/2018, giá cà phê Robusta nhân xô trong nước giảm so với tháng 10/2018. Vào cuối tháng 11, giá cà phê Robusta giảm từ 2,5 - 5,2% so với ngày 31/10/2018. Tại thời điểm này, giá cà phê tại thị trường trong nước có mức thấp nhất là 34.400 đồng/kg tại huyện Di Linh, Lâm Đồng; mức cao nhất là 35.300 đồng/kg tại huyện Đắk Hà tỉnh Kon Tum. Tại các kho quanh khu vực Thành phố Hồ Chí Minh,  cà phê Robusta loại R1 có mức giá 36.300 đồng/kg, giảm 5,2%.

Theo ước tính, xuất khẩu cà phê của Việt Nam tháng 11/2018 đạt 140 nghìn tấn, trị giá 264 triệu USD, tăng 1,4% về lượng và tăng 5,1% về trị giá so với tháng 10/2018, so với cùng kỳ năm 2017 tăng mạnh 33,7% về lượng và tăng 17,3% về trị giá. Lũy kế 11 tháng năm 2018, xuất khẩu cà phê của nước ta đạt 1,725 triệu tấn, trị giá 3,265 tỷ USD, tăng 23% về lượng và tăng 2,9% về trị giá so với 11 tháng năm 2017.

Về giá xuất khẩu bình quân cà phê trong tháng 11/2018, ước tính đạt mức 1,88 USD/kg, tăng 3,7% so với tháng 10/2018, nhưng giảm 12,3% so với tháng  11/2017. Lũy kế 11 tháng năm 2018, giá xuất khẩu bình quân cà phê của Việt Nam đạt mức 1,7 USD/kg, giảm 16,4% so với 11 tháng năm 2017.     

Giá cà phê những ngày đầu tháng 12 nối tiếp đà giảm từ tháng 11 do chịu áp lực cung lớn. Dự báo giá cà phê thời gian tới khó khởi sắc do sản lượng vụ cà phê Conilon robusta mới năm nay của Brazil.

Tại  thị trường trong nước, giao dịch cà phê khá trầm lắng do người trồng đang tập trung vào thu hoạch vụ mùa mới.

10 ngày đầu tháng 12, giá cà phê robusta nhân xô trong nước giảm theo giá thế giới. Ngày 10/12, cà phê robusta nhân xô có mức thấp nhất là 33.100 đ/kg tại các huyện Bảo Lộc, Lâm Hà (tỉnh Lâm Đồng), mức cao nhất là 34.000 đ/kg tại huyện Cư M’gar tỉnh Đắk Lắk.

Tại các kho quanh khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 10/12 cà phê robusta loại R1 có mức giá 35.000 đ/kg, giảm 3,3% so với ngày 30/11.

Cục Xuất nhập khẩu nhận định nhìn chung, thị trường cà phê toàn cầu vẫn chịu sức ép giảm giá do áp lực vụ mùa mới ở một số nước sản xuất lớn như Việt Nam, Brazil. Theo đó, Brazil dự kiến xuất khẩu 4 - 5 triệu bao cà phê robusta vụ mới. Trong khi đó, theo báo cáo tháng 12 của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), sản lượng cà phê của Việt Nam trong vụ mùa 2018 - 2019 tăng khoảng 2% lên 30,4 triệu bao; xuất khẩu khoảng 25,5 triệu bao, tăng so với mức 25,2 triệu bao trong dự báo trước đó.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn dự báo giá cà phê thời gian tới khó khởi sắc do sản lượng vụ cà phê Conilon robusta mới năm nay của Brazil, sau khi đáp ứng đủ nhu cầu trong nước được cho là dư thừa khoảng 4 - 5 triệu bao xuất khẩu, đang chảy mạnh về sàn London để đăng kí bán đấu giá.

HẠT TIÊU

Giá tiêu dự báo khó phục hồi do nguồn cung dồi dào 

 

Tại cảng thành phố Hồ Chí Minh, ngày 10/12 giá hạt tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l và 550 g/l giảm lần lượt 5,6% và 3,5% so với ngày 30/11 xuống còn 2.525 USD/tấn và 2.775 USD/ tấn. Giá hạt tiêu trắng xuất khẩu giảm 1,3% so với cuối tháng 11, xuống còn 3.925 USD/ tấn, giảm 2,5% so với ngày 9/11.

10 ngày đầu tháng 12, giá hạt tiêu tại thị trường trong nước giảm do nguồn cung dồi dào, diễn biến trên thị trường toàn cầu không mấy khả quan.

So với ngày 30/11, giá hạt tiêu trong nước giảm 3,5 - 5,5%. Ngày 10/12, giá hạt tiêu ở thị trường nội địa có mức thấp nhất là 52.000 đồng/kg tại tỉnh Gia Lai và Đồng Nai; mức cao nhất là 55.000 đồng/kg tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Giá hạt tiêu trắng đầu tháng 12 đạt 87.000 đồng/kg, ổn định so với cuối tháng 11, nhưng thấp hơn nhiều so với mức 117.000 đồng/kg cùng kỳ năm 2017.

Cục Xuất nhập khẩu nhận định thị trường hạt tiêu toàn cầu đầu tháng 12 vẫn chịu sức ép giảm giá do dư cung. Cục dự báo thời gian tới giá hạt tiêu toàn cầu khó có thể phục hồi do nguồn cung dồi dào. Hiện hạt tiêu Việt Nam đang chuẩn bị bước vào vụ thu hoạch sớm tại tỉnh Đắk Nông, với sản lượng năm 2019 được dự báo đạt khoảng 250.000 tấn.

Giá hạt tiêu toàn cầu liên tục giảm và ở mức thấp. Các cơ quan quản lí khuyến cáo ngành hạt tiêu không nên tăng diện tích mà tập trung vào thâm canh theo hướng bền vững trên những vùng trồng có điều kiện phù hợp. Bên cạnh đó, ngành cũng cần tập trung phát triển, từng bước tiến tới xây dựng thương hiệu và chỉ dẫn địa lí, hướng đến các thị trường cao cấp có giá trị gia tăng cao.

HẠT ĐIỀU

"Chợ" điều cuối năm trầm lắng

Theo Vinacas, trong khoảng 1 tháng qua, hầu hết các nhà xuất khẩu và nhập khẩu điều đã ký đủ hợp đồng cho những tháng đầu năm 2019. Các hoạt động giao dịch đang chuẩn bị cho sự yên tĩnh của mùa lễ tết truyền thống ở khắp nơi.

Cụ thể, từ đầu tháng 12, giá điều nhân tiếp tục sụt giảm. Giá cả có sự khác biệt lớn giữa 2 khu vực thị trường chính là Âu - Mỹ và Trung Quốc. Tại thị trường Âu - Mỹ, mã hàng tiêu chuẩn W320 đang được giao dịch hiện nay ở mức 3,5 - 3,6 USD/lb cho thời gian giao hàng từ tháng 3 đến tháng 6.2019. Một số ít giao dịch cho thời gian giao hàng nhanh có giá cao hơn ở mức 3,65 - 3,7 USD.

Thị trường trầm lắng và chậm chạp, không có nhiều giao dịch thành công cho thấy lượng điều dự trữ cho mùa tiêu thụ Đông - Xuân đã có đủ. Nhu cầu mua thêm cho giao hàng nhanh không nhiều; không có giao dịch thành công cho mua xa. Diễn biến trên cũng cho thấy có tâm lý dè dặt của người mua khi đang chờ đợi và kỳ vọng vào chính vụ thu hoạch rộ. Lúc đó giá nhân sẽ còn tụt xuống thấp hơn mức hiện tại.

Đa số khách hàng Âu - Mỹ nhận định rằng giá cho mùa vụ mới từ tháng 3 đến tháng 4.2019 sẽ dao động chút ít ở mức 3,4 USD. Một số ít khác thì tỏ ra bi quan hơn, nhưng không thấp hơn mức 3,40 USD.

Theo ông Vũ Thái Sơn, Giám đốc Công ty chế biến điều xuất khẩu Long Sơn, hạt điều của Việt Nam sẽ không còn lợi thế cạnh tranh như trước. Việc này cũng ảnh hưởng lớn đến sức mua và tiêu thụ nhân điều Việt Nam tại Trung Quốc. Theo Vinacas, giá điều loại W320 giao ngay cho Trung Quốc hiện ở mức 8,8 - 9,3 USD/kg FOB tùy nhà cung cấp. Giá điều rang muối còn vỏ lụa trong tầm 8,8 - 9 USD.

Vinacas đưa ra dự báo, giá điều nhân sẽ còn tiếp tục trầm lắng cho đến tháng 3 – 4.2019 khi các nhà rang chiên bắt đầu hợp đồng mua hàng cho năm 2019.

Như vậy năm 2018 kết thúc với nhiều tín hiệu không mấy khả quan, khi ngành chế biến và xuất khẩu hạt điều vẫn trong tình trạng bị ép giá và sẽ còn tiếp tục đối mặt với hàng loạt khó khăn, thách thức trong năm 2019 về nguồn cung nguyên liệu và thị trường xuất khẩu.

Theo Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ NNPTNT), với số lượng từ đầu năm đến hết tháng 11.2018, ước đạt 342 nghìn tấn và với kim ngạch 3,1 tỉ USD, xuất khẩu điều tăng 5,9% về lượng nhưng lại giảm 3,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017.

Trong năm 2018, 3 thị trường lớn của Việt Nam là Hoa Kỳ, Hà Lan và Trung Quốc vẫn được duy trì với thị phần lần lượt là 37,5%, 12,3% và 11,6% trong tổng giá trị  XK. Tuy nhiên, giá XK hạt điều đã giảm 5% so với cùng kỳ năm trước.

Điều đáng nói là, do nguồn nguyên liệu thiếu, nên điều nguyên liệu chủ yếu được nhập khẩu (NK). Năm 2018, dù lượng NK điều thô đã giảm hơn 8% cả về lượng cũng như giá trị so với cùng kỳ năm 2017, song Việt Nam cũng NK tới gần 1,2 triệu tấn nguyên liệu với giá trị tương ứng lên tới gần 2,3 tỉ USD.

Trao đổi về vấn đề này, Bộ trưởng Bộ NNPTNT Nguyễn Xuân Cường cũng thừa nhận: Điểm bất cập là có vùng nguyên liệu, nhưng chúng ta phải NK tới 70% nguyên liệu cho ngành điều và đây là cây trồng duy nhất mà Việt Nam phải nhập nguyên liệu. Nếu không giải quyết được vấn đề này, lợi nhuận từ ngành điều sẽ không tương xứng.

Theo Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas), 2018 là một năm không mấy khả quan với ngành điều. Nhưng dự báo 2019 cũng không phải là một năm suôn sẻ với ngành này khi Chính phủ Tanzania tiếp tục cấm XK điều thô niên vụ 2018/2019. Hiện Chính phủ đang đàm phán liên doanh với 8 Cty trong nước và ngoài nước tham gia chế biến điều nhân tại Tanzania.  

Còn theo Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản, các quốc gia sản xuất điều thô ở châu Phi hiện cũng đang chuẩn bị lập kế hoạch chế biến sâu, nâng cao giá trị hạt điều. Tanzania và châu Phi hiện đều là những nguồn cung điều thô lớn trên thị trường quốc tế. Chính sách thay đổi của các thị trường này chắc chắn sẽ tác động nhất định tới ngành chế biến, XK hạt điều Việt Nam. Do vậy, một số chuyên gia khuyến cáo, các DN cần liên kết chặt chẽ với nông dân để chủ động nguồn nguyên liệu thô chất lượng phục vụ chế biến và XK. Nhìn chung, bên cạnh cơ hội, năm 2019 vẫn là một thử thách rất lớn cho các nhà máy chế biến và kinh doanh điều.

Thời gian tới, giá điều thô có xu hướng đi xuống sâu khi vào vụ. Về điều nhân, giá sẽ tiếp tục trầm lắng cho đến tháng 3-4.2019 khi các nhà rang chiên bất đầu hợp đồng mua hàng cho năm 2019. Năm 2018 đã chứng minh, các nhà rang chiên và tiêu thụ Âu Mỹ đã áp dụng chiến thuật không mua xa như các năm trước.

CAO SU

Giá cao su xuất khẩu vẫn ở mức thấp


Từ đầu năm đến tháng 12/2018, giá xuất khẩu cao su trung bình ở mức 1.344,5 USD/tấn, thấp hơn 18,1% so với mức giá xuất khẩu trung bình cùng kỳ năm 2017.

 Bộ Công thương cho biết, trong 10 ngày giữa tháng 12/2018, giá mủ cao su nguyên liệu tại Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh không có nhiều biến động, giá vẫn ở mức thấp. Công ty cao su Phú Riềng báo giá thu mua mủ tạp và mủ nước vẫn ổn định so với 10 ngày trước đó, hiện giao dịch ở mức 232 đ/độ TSC đối với mủ tạp và 242 đ/độ TSC đối với mủ nước.

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, trong 15 ngày đầu tháng 12/2018, lượng cao su xuất khẩu đạt 84,56 nghìn tấn, trị giá 102,87 triệu USD, giảm 8,3% về lượng và giảm 9,7% về trị giá so với 15 ngày trước đó, giảm 1,6% về lượng và giảm 17,1% về trị giá so với 15 ngày đầu tháng 12/2017. Tính từ đầu năm đến hết ngày 15/12/2018, lượng cao su xuất khẩu đạt 1,47 triệu tấn, trị giá 1,98 tỷ USD, tăng 13,7% về lượng, nhưng giảm 6,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

Giá xuất khẩu cao su trung bình 15 ngày đầu tháng 12/2018 ở mức 1.216,6 USD/tấn, giảm 1,5% so với mức giá xuất khẩu trung bình 15 ngày trước đó và giảm 15,8% so với mức giá xuất khẩu trung bình 15 ngày đầu tháng 12/2017. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/12/2018, giá xuất khẩu cao su trung bình ở mức 1.344,5 USD/tấn, thấp hơn 18,1% so với mức giá xuất khẩu trung bình cùng kỳ năm 2017.

 (TTGCVT /T.Hiền tổng hợp) 

 

 

Các tin khác
Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (024) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (024) 39762593 
Email:ttgcvattu1989@gmail.com