Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Thị trường hàng hóa nguyên liệu trong nước tháng 11/2018
Cập nhật: 1-12-2018

VÀNG

Giá vàng trong nước giảm mạnh tuần cuối tháng 11/2018


Nhìn lại gần một năm diễn biến giá vàng, có thể thấy chỉ có vài thời điểm giá vàng có xu hướng tăng lên mức trên 37 triệu đồng, còn lại hầu như là ở mức giá trung bình là 36,5 – 36,6 triệu đồng/lượng (giá bán ra). Có thể thấy vàng chưa tìm lại được sức hấp dẫn của mình, nên nhìn chung trong 11 tháng của năm 2018, bao trùm là bầu không khí khá ảm đạm tại các hệ thống kinh doanh vàng. Các nhà đầu tư vẫn đang ngóng chờ mọi sự thay đổi của giá vàng để tham gia thị trường.

Trong tuần đầu tiên, giá vàng thế giới có những thời điểm treo cao rồi lại sụt giảm, nhưng giá vàng trong nước chỉ biến động nhẹ. Giá dao động trong khoảng từ 36,36 – 36,45 triệu đồng/lượng (giá mua vào) và 36,54 – 36,62 triệu đồng/lượng (chiều bán ra). Theo khảo sát của Doji, số lượng giao dịch phát sinh theo chiều bán vàng ra qua nhiều phiên chiếm ưu thế, khoảng 65% trên tổng lượng giao dịch tại hệ thống. Kết thúc tuần, vào sáng 9-11, giá vàng đứng ở mức 36,36 – 36,54 triệu đồng/lượng và là mức giá thấp nhất tuần. Và với giá bán ra như trên, giá vàng trong nước đang cao hơn giá vàng thế giới khoảng 2,5 triệu đồng/lượng.

Bước sang tuần thứ 2, giá vàng trong nước chỉ có một phiên tăng giá mạnh vào ngày cuối cùng của tuần (16/11) khi giá mua vào – bán ra leo lên mức 36,45 – 36,63 triệu đồng/lượng. Các phiên còn lại, giá chỉ nằm trong khoảng trên 36,3 triệu đồng (mua vào) – 36,5 triệu đồng/lượng ( bán ra). Theo Doji, trước áp lực giảm của kim loại quý thế giới trong vài phiên trở lại đây, giá vàng trong nước hạ nhiệt cầm chừng nhưng vẫn cùng mạch giảm điểm của giá vàng quốc tế. Nếu so sánh cùng thời điểm trong tuần trước, mỗi lượng vàng miếng điều chỉnh giảm khoảng 70 nghìn đồng. Đà giảm không đáng kể so với sức giảm của thị trường thế giới khiến thị trường trong nước không ghi nhận nhiều phiên giao dịch thành công. Lượng khách tham gia giao dịch tại DOJI theo chiều bán vàng ra chiếm ưu thế.

Giá vàng SJC vào thời điểm mở cửa sáng 23/11- ngày cuối cùng của tuần thứ 3 neo ở mức 36,41 – 36,57 triệu đồng/lượng và là mức giá thấp nhất tuần. Mức cao nhất là vào phiên đầu tuần khi giá vàng bán ra được niêm yết ở mức 36,70 triệu đồng/lượng. Sự giảm sút của giá vàng trong tuần trái ngược với đà tăng của vàng thế giới.

Tuần cuối cùng của tháng 11/2018, giá vàng trong nước tiếp tục giảm điểm cùng với thị trường vàng thế giới do đồng bạc xanh tăng nhanh so với đồng euro và một số đồng tiền chủ chốt khác. Trong tuần, có ngày vàng sụt giảm xuống mức thấp là 36,30 – 36,48 triệu đồng/lượng (sáng ngày 28-11). Chính vì vậy, tham gia thị trường trong các phiên phần lớn là nhà đầu tư có nhu cầu bán vàng ra.

ĐÔ LA

Mức cao nhất của tỷ giá trung tâm là 22.750, giá USD tại các ngân hàng biến động trái chiều


Càng về thời điểm gần cuối năm, tỷ giá đồng USD có xu hướng tăng cao do ảnh hưởng bởi nhu cầu mua bán USD và xuất nhập khẩu hàng hóa. Trong tháng 11/2018, tỷ giá trung tâm có xu hướng tăng về các ngày cuối tháng, và mức cao nhất tháng là vào ngày 30/11 khi tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ở mức 22.750 đồng/USD. Mức thấp nhất tháng là 22.721 đồng/USD.

Trong hai tuần đầu tiên, tỷ giá trung tâm dao động ở khoảng 22.721 – 22.727 đồng/USD. Tại các NHTM, giá giao dịch USD nằm phổ biến ở mức 23.265 đồng (mua) và 23.360 đồng (bán).

Xu hướng tăng giá của tỷ giá trung tâm bắt đầu từ tuần thứ 3 của tháng 11 khi cả trong 5 phiên, tỷ giá trung tâm liên tục tăng và đứng ở trong khoảng 22.721 – 22.743 đồng/USD. Như vậy, chỉ trong 1 tuần, tỷ giá trung tâm đã tăng 23 đồng. Trên thị trường ngân hàng, xu hướng biến động qua nhiều phiên thể hiện khi các nhà băng tăng, giảm tỷ giá niêm yết trái chiều nhau. Theo đó, vào sáng 23/11, Vietcombank và Sacombank giảm lần lượt 10 đồng và 11 đồng trên cả hai chiều. Trong khi, Vietinbank tăng 5 đồng ở cả hai chiều mua, bán; Agribank tăng 10 đồng ở giá mua và giữ nguyên giá bán. BIDV, Techcombank và Eximbank giữ nguyên tỷ giá niêm yết so với cuối ngày 22/11. Giá USD trên thị trường chợ đen đứng ở mức: 23.405 - 23.425 đồng/USD.

Tuần cuối tháng 11, tỷ giá trung tâm có tới 2 phiên đều được công bố ở mức 22.747 đồng/USD và đạt mức cao nhất tháng khi ngày cuối cùng của tháng được NHNN công bố ở mức 22.750 đồng/USD. Với mức công bố này, một số ngân hàng thương mại vẫn giữ tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ không đổi so với cuối phiên liền trước, phổ biến ở mức 23.275 đồng (mua) và 23.365 đồng (bán). Giá USD trên thị trường chợ đen đứng ở mức: 23.400 - 23.420 đồng/USD.

Tính từ đầu năm, tỷ giá đồng đô la Mỹ trong hệ thống ngân hàng tăng 565-580 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra.

THÉP XÂY DỰNG

Tiêu thụ thép tăng trưởng ổn định đến cuối năm


Thị trường thép Việt Nam trong 10 tháng của năm 2018 vẫn duy trì tích cực với sản lượng tiêu thụ tăng trưởng 28% so với năm ngoái. Trong đó, tiêu thụ nội địa tăng 27% và xuất khẩu tăng 33%.

Để khuyến khích thị trường tiêu thụ, các nhà sản xuất thép xây dựng phía Bắc đã áp dụng các chương trình chiết khấu khiến giá thép trên thị trường giảm và phổ biến từ 100.000 – 150.000 đồng/tấn so với tháng 9, tùy theo từng chủng loại sản phẩm, dao động ở mức 13.100 – 13.200 đồng/kg. Trong khi đó, tại các tỉnh phía Nam giá tương đối ổn định, nằm trong khoảng từ 13.200 – 13.250 đồng/kg

Theo nhận định của Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), sản xuất và bán hàng các sản phẩm thép đều có mức tăng trưởng tốt trong 10 tháng qua. Dự báo, nhu cầu tiêu thụ thép ở các thị trường lớn sẽ tiếp tục vững chắc về cuối năm nếu không có những yếu tố tác động lớn.

Theo báo cáo từ VSA, trong tháng 10/2018, sản xuất các sản phẩm thép đạt hơn 2,2 triệu tấn, tăng 11,36% so với tháng trước đó và tăng 21% so với cùng kỳ 2017; trong đó, sản xuất ở tất cả các sản phẩm thép thành phẩm đều tăng trưởng.

Bán hàng các sản phẩm thép đạt hơn 1,9 triệu tấn, tăng 6,7% so với tháng trước và tăng 31,3% so với cùng kỳ năm 2017; trong đó, xuất khẩu thép đạt hơn 440.000 tấn, tăng 15,3% so với cùng kỳ 2017.

Tính chung trong 10 tháng năm 2018, sản xuất thép thành phẩm các loại đạt hơn 20 triệu tấn, tăng 17,7% so với cùng kỳ năm 2017; bán hàng đạt hơn 18 triệu tấn, tăng 27,7% so với cùng kỳ năm 2017; trong đó, xuất khẩu đạt hơn 3,9 triệu tấn, tăng 31,6% so với cùng kỳ 2017.

Thép xây dựng là một trong những sản phẩm có mức tăng trưởng tốt nhất thời gian qua. Trong tháng 10, sản lượng thép xây dựng sản xuất đạt hơn 921.000 tấn, tăng 10,56% so với tháng 9/2018 và tăng 21,5% so với cùng kỳ 2017. Bán hàng thép xây dựng đạt hơn 896.000 tấn, tăng 11,35% so với tháng 9/2018 và tăng 60,1% so với cùng kỳ năm 2017. Tính chung 10 tháng, sản xuất thép xây dựng đạt hơn 8,3 triệu tấn, tăng 9,8% so với cùng kỳ năm 2017. Bán hàng đạt hơn gần 8,29 triệu tấn, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm trước.

Về tình hình xuất nhập khẩu, theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, lũy kế đến ngày 15/11/2018, lượng sắt thép xuất khẩu đạt 3,98 tỷ USD, cao hơn so với cùng kỳ năm 2017 (2,61 tỷ USD) và là 1 trong 10 nhóm hàng xuất khẩu chủ lực. Tuy nhiên, về nhập khẩu, lượng sắt thép nhập khẩu đến ngày 15/11 đạt 8,76 tỷ USD, cũng cao hơn so với cùng kỳ năm 2017 (7,99 tỷ USD).

Sắt thép có xuất xứ từ Trung Quốc được nhập về Việt Nam nhiều nhất, chiếm 46% trong tổng lượng và tổng kim ngạch nhập khẩu sắt thép của cả nước, đạt 5,32 triệu tấn, trị giá 3,83 tỷ USD, giảm 13% về lượng nhưng tăng 9,9% về kim ngạch so với cùng kỳ. Giá nhập khẩu tăng 26,3%, đạt trung bình 720,8 USD/tấn. Riêng tháng 10/2018 nhập khẩu 520.509 tấn sắt thép từ thị trường này, đạt 377,65 triệu USD, tăng 15,6% về lượng và tăng 13,4% về kim ngạch so với tháng liền kề trước đó.

Theo Bộ Công Thương, trong những tháng qua, ngành thép tiếp tục phải cạnh tranh gay gắt với thép nhập khẩu thâm nhập mạnh vào thị trường Việt Nam.

Đặc biệt là ngành thép phải đối mặt với nhiều vụ điều tra bán phá giá từ các nước nhập khẩu khiến xuất khẩu thép gặp nhiều khó khăn; trong đó, các thị trường quen thuộc trong ASEAN như: Thái Lan, Malaysia cũng đã khởi xướng các vụ kiện điều tra chống bán phá giá đối với một số sản phẩm sắt thép có xuất xứ hoặc nhập khẩu từ Trung Quốc vào Việt Nam. Đây là thực trạng đáng lo ngại đối với ngành thép Việt Nam.

Đặc biệt trong tháng 11/2018, Bộ Công Thương cho biết vẫn quyết định duy trì áp dụng biện pháp tự vệ đối với sản phẩm phôi thép và thép dài nhập khẩu vào Việt Nam từ các quốc gia, vùng lãnh thổ khác nhau. Mức thuế sẽ giảm dần về 0% đến ngày 22/3/2020 nếu Bộ không gia hạn thêm.

XI MĂNG

Tiêu thụ xi măng tiếp tục bứt phá


Theo Vụ Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng), ước tiêu thụ sản phẩm xi măng trong 11 tháng năm 2018 đã “cán đích sâu” so với mục tiêu kế hoạch đề ra khi sản lượng sản phẩm xi măng tiêu thụ trong 11 tháng năm 2018 đạt 94,97 triệu tấn tăng 44% so với cùng kỳ và đạt 112% kế hoạch năm 2018. Trong đó, Tổng Công ty công nghiệp xi măng Việt Nam (Vicem) tiêu thụ 11 tháng đầu năm khoảng 26,74 triệu tấn, tăng 15% so với cùng kỳ năm 2017.

Đáng chú ý, tiêu thụ sản phẩm xi măng tại thị trường nội địa trong 11 tháng năm 2018 đã đạt 66 triệu tấn, đạt mục tiêu kế hoạch của cả năm tiêu thụ từ 65 - 66 triệu tấn sản phẩm. Trong khi đó, thị trường xuất khẩu sản phẩm xi măng đã vượt rất xa so với kế hoạch đề ra khi đã xuất khẩu được 28,97 triệu tấn sản phẩm (Kế hoạch năm 2018 xuất khẩu từ 18-19 triệu tấn sản phẩm) vượt tới 65% so với kế hoạch.

Trong đó, chỉ tính riêng trong tháng 11, tiêu thụ sản phẩm xi măng tại thị trường nội địa ước đạt 6,32 triệu tấn, tăng 8% so với cùng kỳ năm 2017 và tiếp tục tăng 0,23 triệu tấn so với ngay tháng trước đó. Đà tăng trưởng trong khâu tiêu thụ sản phẩm tiếp tục được thể hiện rõ tại thị trường xuất khẩu. Trong tháng 11, xuất khẩu sản phẩm xi măng ước đạt 2,75 triệu tấn tăng tới 60% so với cùng kỳ năm 2017 và tăng 0,09 triệu tấn so với tháng trước đó.

Các chuyên gia trong lĩnh vực vật liệu xây dựng cho rằng đà tăng trưởng ấn tượng này sẽ vẫn còn tiếp tục tại thị trường tiêu thụ nội địa khi thời điểm cuối năm thời tiết rất thuận lợi cho hoạt động xây dựng. Tại thị trường xuất khẩu, sản lượng xuất khẩu sản phẩm xi măng sẽ tiếp tục tăng mạnh do Trung Quốc vẫn đang dừng sản xuất.

Tuy nhiên, không như những ngành hàng khác, khi bán nhiều xi măng, clinker ra khỏi biên giới, đồng nghĩa với việc gia tăng xuất bán tài nguyên, năng lượng. Đây là hướng đi mà nhiều quốc gia đã không lựa chọn trong những năm gần đây. Dù nguyên liệu cho sản xuất xi măng ở trong nước dồi dào, nhưng tài nguyên thiên nhiên là hữu hạn nên tư duy phát triển kinh tế dựa dẫm vào khai thác tài nguyên cần được xem xét kỹ hơn. Theo các chuyên gia, cần phải nhìn lại ngành vật liệu xây dựng, trong đó có xi măng, cần những giải pháp đồng bộ để vẫn phát triển sản xuất nhưng gắn với bảo vệ môi trường. 

Bên cạnh đó, ngành xi măng còn đang phải đối mặt với một thách thức dài hạn đó là nguy cơ dư thừa hàng chục triệu tấn xi măng mỗi năm. V
ới tốc độ phát triển như hiện nay, nếu tính các dự án đang tiến hành đầu tư, dự kiến hoàn thành trong năm nay, tổng công suất thiết kế toàn ngành đã lên đến gần 110 triệu tấn/năm. Chưa kể, các nhà máy xi măng đã đi vào sản xuất hiện nay cũng không ngừng đầu tư cải tiến kỹ thuật, công nghệ, nên năng lực sản xuất thực tế đến năm 2020 có thể lên tới 120 - 130 triệu tấn/năm. Trong khi đó, theo dự báo với tốc độ tăng trưởng như hiện tại thì đến năm 2020 cả nước sẽ dư thừa từ 36 - 47 triệu tấn; còn theo dự báo trong quy hoạch, với khả năng tiêu thụ trong nước năm 2020 là 93 triệu tấn, sẽ dư thừa khoảng 25 - 36 triệu tấn.

XĂNG DẦU

Giá xăng dầu giảm mạnh tới hơn 2 nghìn đồng mỗi lít ở cả hai kỳ điều chỉnh


Tại 2 kỳ điều chỉnh giá vào ngày mùng 6/11 và 21/11, trước diễn biến giá của mặt hàng xăng dầu trên thị trường thế giới, Liên Bộ Công thương – Tài chính đã quyết định giảm giá mạnh với mỗi kỳ điều chỉnh hơn 1.000 đồng/lít.  

Cụ thể, từ 15h chiều ngày 6/11, theo thông báo liên Bộ Công Thương - Tài chính, giá bán lẻ xăng trong nước giảm hơn 1.000 đồng mỗi lít, lần lượt 1.138 đồng với xăng RON 95 và 1.082 đồng với xăng E5 RON 92. Trong khi đó, dầu diesel giảm 67 đồng còn dầu hoả và madut giữ nguyên giá bán.

Sau điều chỉnh, dầu diesel 18.544 đồng một lít. Còn xăng E5 RON 92 có giá mới tối đa 19.600 đồng; xăng RON 95 là 21.065 đồng một lít. Dầu hoả giữ nguyên 17.080 đồng một lít.

Cùng với giảm giá bán, cơ quan điều hành cũng ngừng chi Quỹ bình ổn giá với xăng RON 95 và dầu diesel. Mức trích Quỹ bình ổn gới xăng E5 RON 92 là 700 đồng một lít, dầu hoả 91 đồng và dầu madut 267 đồng một kg. 

Giá etanol E100 đưa vào tính giá cơ sở mặt hàng xăng E5RON92 theo công văn của Bộ Tài chính là 14.737 đồng một lít (chưa có thuế VAT).

Tại kỳ điều chỉnh lần 2 vào chiều ngày 21/11, Liên Bộ Công Thương - Tài chính quyết định giảm đồng loạt các mặt hàng xăng dầu. Cụ thể, xăng E5 RON 92 giảm 973 đồng một lít, xăng RON 95 giảm 1.093 đồng; dầu diesel 907 đồng; dầu hỏa 844 đồng còn dầu madut giảm 508 đồng một kg.

Sau điều chỉnh, giá mỗi lít xăng E5 RON 92 tối đa 18.627 đồng; RON 95 19.972 đồng. Dầu diesel 16.242 đồng; dầu hoả 16.242 đồng và madut tối đa 15.186 đồng một kg.

Như vậy đây là đợt giảm giá mạnh thứ hai liên tiếp trong tháng 11, mỗi lít xăng qua 2 đợt giảm giá đã thấp hơn khoảng 2.000 đồng so với tháng trước.

Cùng động thái giảm giá, liên Bộ Công Thương - Tài chính cũng quyết định ngừng chi sử dụng 300 đồng một lít với xăng, dầu từ Quỹ bình ổn giá. Cùng đó, giữ nguyên mức trích quỹ Bình ổn xăng dầu với xăng E5 RON 92, dầu hoả, madut như kỳ điều hành trước, lần lượt là 700 đồng; 91 đồng và 267 đồng.

Riêng mức xả quỹ với xăng RON 95 là 950 đồng một lít; dầu diesel 500 đồng.

Như vậy, từ đầu năm đến hết tháng 11/2018, giá xăng dầu trong nước trải qua 21 đợt điều chỉnh, trong đó 6 lần tăng giá, 3 lần giảm và 12 lần giữ ổn định.

Với việc giá xăng dầu giảm mạnh ở cả hai kỳ trong tháng, đã khiến cho CPI tháng 11 giảm nhẹ (tác động CPI chung giảm 0,17%).

 GAS

Lần đầu tiên trong năm 2018 gas giảm giá sốc


Công ty Saigon Petro cho biết kể từ ngày 1-11, giá bán gas sẽ giảm 40.000 đồng/bình 12kg. Giá bán lẻ đến người tiêu dùng 349.000 đồng/bình 12kg.

Tương tự công ty gas Pacific Petro, City Petro và ELF Gas cũng giảm 40.000 đồng/bình 12kg, giá bán lẻ đến người tiêu dùng không vượt quá 346.000 đồng/bình 12kg.

Các công ty cho biết do giá gas thế giới tháng 11 công bố là 532,5 USD/tấn giảm 122,5 USD /tấn so với tháng 10. Vì vậy các công ty điều chỉnh giảm theo.

Đây là tháng đầu tiên giá gas giảm mạnh nhất từ đầu năm đến nay. Và đây là lần thứ ba trong năm 2018 giá gas giảm, với tổng mức giảm 73.000 đồng/bình 12kg.

Trước đó, giá gas liên tục tăng cao. Riêng từ đầu tháng 10 vừa qua, giá gas tăng thêm 12.000 đồng/bình 12 kg. 

Ô TÔ

Thị trường ô tô chào đón sự kiện ra mắt 3 dòng xe của Vinfast


Ngày 20/11, thị trường ô tô diễn ra một sự kiện được rất nhiều người quan tâm đó là việc VinFast đã giới thiệu ba dòng ô tô đầu tiên cùng xe máy điện trong chuỗi sản phẩm. Hai mẫu Lux A2.0 và Lux SA2.0 từng xuất hiện tại triển lãm Paris, trong khi xe cỡ nhỏ giá bình dân Fadil lần đầu ra mắt người tiêu dùng Việt Nam. Giới kinh doanh ô tô và các chuyên gia đánh giá chiếc ô tô thương hiệu Việt đến với người Việt không chỉ tác động tích cực đến thị trường ô tô mà còn thúc đẩy ngành công nghiệp này phát triển trong thời gian tới.

Bên cạnh đó, thị trường ô tô còn được chứng kiến một hiện tượng khá “lạ”so với mọi năm. Xu hướng cuối năm, thường thì các thương hiệu, đại lý sẽ tiến hành giảm giá sản phẩm của mình để kích cầu tiêu dùng trong nước. Tuy nhiên, điều này đang xảy ra ngược lại với thị trường ô tô tại Việt Nam. Trong khi một số mẫu xe giảm giá mạnh thì không ít hãng trong tháng 11 này đồng loạt tăng giá sản phẩm. Mức tăng tùy thuộc vào từng mẫu ô tô cũng như từng thương hiệu, ít nhất là vài trăm nghìn đồng, còn nhiều thì và vài chục triệu đồng/sản phẩm.

Đơn cử như mẫu ô tô bán chạy tại thị trường là Kia Morning với doanh số khoảng gần 1.000 xe mỗi tháng, phiên bản cao cấp nhất của Morning là S AT đã tăng giá 3 triệu đồng so với trước đây, khiến giá bán xe tăng từ 390 triệu đồng lên thành 393 triệu đồng. Hay như chiếc MPV Toyota Innova mới của hãng cũng đã được điều chỉnh thêm từ 20 - 40 triệu đồng so với mẫu cũ…

Với diễn biến trên, thị trường xe đã trở nên nhộn nhịp hơn, cả về giá và sản phẩm.

Trong báo cáo bán hàng mới nhất từ Hiệp hội các nhà Sản xuất Ô tô Việt Nam (VAMA), thống kê cho thấy doanh số bán hàng của toàn thị trường tháng 10 đạt 28.899 xe, tăng 21% so với tháng 9/2018 tăng 18% so với tháng 10/2017.

Cụ thể, tháng vừa qua thị trường tiêu thụ 21.288 xe du lịch (tăng 25%); 7.096 xe thương mại (giảm 7%) và 515 xe chuyên dụng (tăng 31%) so với tháng trước. Sản lượng của xe lắp ráp trong nước đạt 17.599 xe, tăng 2% so với tháng trước và số lượng xe nhập khẩu nguyên chiếc là 11.300 xe, tăng 46% so với tháng trước.

Xét tổng doanh số bán hàng của toàn thị trường qua 10 tháng năm 2018 tăng 1% so với cùng kì năm 2017. Trong đó, xe ô tô du lịch tăng 13%; xe thương mại giảm 19% và xe chuyên dụng giảm 44% so với cùng kì năm ngoái. Ngoài ra, tính đến hết tháng 10/2018, doanh số bán hàng của xe lắp ráp trong nước tăng 11% và xe nhập khẩu giảm 22% so với cùng kì năm ngoái.

Về nhập khẩu, theo số liệu của Tổng cục Hải quan, trong 10 tháng đầu năm 2018 có 52.769 ô tô nguyên chiếc nhập khẩu vào Việt Nam, giảm 31,8% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt kim ngạch trên 1,84 tỷ USD. Riêng trong tháng 10/2018 nhập khẩu 12.468 chiếc, tương đương 261,66 triệu USD, tăng 8,4% về số lượng và tăng 8% về kim ngạch  so với tháng 9/2018, và tăng rất mạnh 113,4% về số lượng và 68,6% về kim ngạch so với tháng 10/2017.

Thái Lan là nhà cung cấp lớn nhất các loại ô tô nhập khẩu cho Việt Nam chiếm 69,4% trong tổng lượng ô tô nhập vào Việt Nam và chiếm 61,5% trong tổng kim ngạch, đạt 36.659 chiếc, tương đương 728,22 triệu USD, tăng 26,9% về số lượng và tăng 37,2% về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái. Riêng tháng 10/2018, nhập khẩu 7.063 chiếc, tương đương 134,77 triệu USD, giảm 6,9% về lượng và giảm 13,6% về kim ngạch so với tháng 9/2018, nhưng tăng mạnh 208,3% về số lượng và tăng 191,5% về kim ngạch so với cùng tháng năm 2017.

Hiện tại, với mức ưu đãi thuế nhập khẩu nội khối 0%, ô tô nhập vẫn là lựa chọn hấp dẫn cho những nhà phân phối ô tô tại Việt Nam nhờ không phải đầu tư dây chuyền. Tuy nhiên, ngành công nghiệp ô tô trong nước và việc tăng cường tỷ lệ nội địa hóa vẫn được khuyến khích với những chính sách và đề xuất ưu đãi thuế nhập khẩu linh kiện để các nhà sản xuất có động lực lắp ráp xe. Cuộc cạnh tranh giữa lắp ráp và nhập khẩu ô tô mở ra cơ hội hạ thấp mặt bằng giá xe tại Việt Nam và khi đó người dùng được hưởng lợi.

THỦY SẢN 

Nguồn cung khan hiếm, giá cá tra nguyên liệu tiếp tục tăng


Theo Bộ NN&PTNT, tháng 11/2018, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông lâm thuỷ sản ước đạt 3,6 tỷ USD; trong đó, xuất khẩu nông sản chính đạt 1,62 tỷ USD, lâm sản chính ước đạt 982 triệu USD, sản phẩm chăn nuôi ước đạt 50 triệu USD, thuỷ sản ước đạt 852 triệu USD.

Riêng với xuất khẩu thủy sản, 11 tháng của năm 2018 giá trị xuất khẩu ước đạt 8,1 tỷ USD (tăng 6,8%). Với đà tăng trưởng hiện nay, dự báo tổng xuất khẩu thủy sản của cả nước năm 2018 sẽ đạt 8,9 tỷ USD, tăng 7% so với năm 2017.

Bộ Công thương cho rằng xuất khẩu thủy sản có nhiều cơ hội tăng trưởng tốt trong giai đoạn cuối năm. Lý do là do mức thuế chống bán phá giá với tôm và cá tra gần nhất giảm nhiều so với mức thuế công bố sơ bộ, tạo tâm lý tốt cho doanh nghiệp xuất khẩu. Bên cạnh đó, nhu cầu nhập khẩu trong các tháng cuối năm thường tăng 10 - 20% để phục vụ dịp lễ, tết, đặc biệt tại các thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc.

Đối với ngành hàng chủ lực của thủy sản là cá tra, 10 ngày đầu tháng 11/2018 tại An Giang, giá cá tra nguyên liệu tăng 500 đ/kg so với tuần cuối của tháng 10 và tăng 8.500-9.000 đ/kg so với cùng kỳ năm 2017.

Với mức tăng trên, giá cá tra đã lên mức cao kỷ lục 35.000 - 36.500 đồng/kg. Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu cá tra thiếu nguyên liệu trầm trọng cho chế biến, trễ đơn hàng hoặc buộc phải hủy nhiều đơn hàng. Giá cá nguyên liệu tăng quá nhanh đẩy giá xuất khẩu tăng theo. Tuy nhiên, tại một số thị trường, trong đó có thị trường Mỹ, yếu tố giá cũng đang là một bất lợi khi một số doanh nghiệp e dè mua hàng. Giá cá tra cũng bị cạnh tranh mạnh bởi giá cá rô phi và một số sản phẩm cá thịt trắng khác.

Tuy nhiên, theo đánh giá của nhiều nhà xuất khẩu, năm nay là một năm thành công lớn với ngành hàng cá tra. Mặc dù vậy, việc giá cá tra lên cao trên cả thị trường nội địa và cả thị trường thế giới, lại đang đặt ra nhiều thách thức với cá tra Việt Nam trong những năm tới, nhất là sự cạnh tranh từ các nước khác cũng đang đẩy mạnh nuôi cá tra.  

Những tín hiệu khả quan từ thị trường Mỹ khi kết quả sơ bộ thuế chống bán phá giá giai đoạn POR14 thấp hơn so với POR13 và FSIS Hoa Kỳ đã công nhận và đề xuất công nhận cá tra Việt Nam đủ điều kiện xuất khẩu sang thị trường Mỹ, sẽ tiếp tục tác động tích cực đến xuất khẩu cá tra trong những tháng tiếp theo. Dự báo xuất khẩu cá tra cả năm 2018 sẽ đạt trên 2,2 tỷ USD, tăng 23% so với năm 2017.

Bên cạnh mặt hàng cá tra, xuất khẩu cá ngừ trong tháng 10 tăng khá cao với mức 21% đạt 70 triệu USD, đưa tổng xuất khẩu 10 tháng đầu năm lên 536 triệu USD, tăng 10%. Cũng như các mặt hàng hải sản khác bị tác động bởi thẻ vàng IUU, xuất khẩu cá ngừ dù vẫn giữ tăng trưởng dương, nhưng mức tăng thấp dần qua các tháng và thấp hơn nhiều so với tăng trưởng của năm 2017. Dự báo xuất khẩu cá ngừ cả năm 2018 sẽ đạt khoảng 660 triệu USD, tăng 11%.

Xuất khẩu mực, bạch tuộc tăng 12% đạt 69 triệu USD, và đạt 543 triệu USD tính đến cuối tháng 10. Dự kiến năm 2018, xuất khẩu mặt hàng này sẽ đạt khoảng 650 triệu USD, tăng 4%.

Đặc biệt, xuất khẩu mực, bạch tuộc sang Trung Quốc đã phục hồi sau 4 tháng liên tục sụt giảm. Giá trị xuất khẩu mực, bạch tuộc sang thị trường này trong tháng 10 đạt 3,6 triệu USD, tăng 51% so với tháng 10/2017, nâng tổng giá trị xuất khẩu trong 10 tháng đầu năm lên 39 triệu USD, tăng 11% so với cùng kỳ năm trước. Hiện tại, thuế xuất khẩu mực sống tươi, đông lạnh của Việt Nam sang Trung Quốc là 0%, nên đây sẽ là điều kiện thuận lợi để Việt Nam tăng trưởng xuất khẩu mặt hàng này sang Trung Quốc. Do Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung khiến thuế nhập khẩu áp với sản phẩm mực, bạch tuộc của Mỹ trên thị trường Trung Quốc tăng, tạo cơ hội cho các sản phẩm mực, bạch tuộc cùng loại của Việt Nam trên thị trường Trung Quốc.

Giá tôm sú sẽ tăng trở lại từ nay đến tết dương lịch  

Giá tôm trên thế giới gần đây đã có xu hướng phục hồi kéo giá tôm trong nước tăng lên. Bộ NN&PTNT dự báo, giá tôm trong nước có xu hướng tăng trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp chế biến xuất khẩu của Việt Nam đã ký kết được các đơn hàng lớn phục vụ các dịp lễ quan trọng cuối năm nay.

Tuy nhiên, vào trung tuần tháng 11, theo ghi nhận của phóng viên tại tỉnh Cà Mau, giá tôm sú, tôm thẻ vẫn ở mức trung bình. Cụ thể: Giá tôm sú ở thời điểm trên tại có giá như sau: Cỡ 20 con/kg có giá từ 260.000-265.000 đồng/kg; cỡ 30 con/kg có giá từ 190.000-195.000 đồng/kg; cỡ 40 con/kg có giá từ 140.000-145.000 đồng/kg và cỡ 50-60 con/kg có giá từ 110.000-115.000 đồng/kg.

Tôm thẻ cỡ 20 con/kg có giá 150.000-160.000 đồng/kg. Cỡ 30 con/kg có giá 116.000-135.000 đông/kg, cỡ 40 con/kg có giá khoảng 100.000 đồng/kg.

Trên lĩnh vực xuất khẩu, kể từ tháng 4 đến tháng 10 năm nay, xuất khẩu (XK) tôm Việt Nam chưa có dấu hiệu phục hồi so với cùng kỳ năm 2017. Tháng 10/2018, XK tôm Việt Nam giảm 17,3% so với cùng kỳ năm ngoái đạt hơn 348 triệu USD. Lũy kế 10 tháng đầu năm nay, XK tôm của cả nước đạt 2,97 tỷ USD, giảm 5,8% so với cùng kỳ năm 2017.  

Thông tin từ hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản, XK tôm Việt Nam có xu hướng giảm so với cùng kỳ năm ngoái là do giá tôm giảm, nhu cầu NK thấp từ các thị trường chính. Giá tôm trong nước những tháng đầu năm 2018 bị tác động bởi các yếu tố thị trường thế giới do thời tiết lạnh nhiều, các nước như Mỹ, Canada có bão tuyết nên lượng tôm tiêu thụ giảm đáng kể, hàng tồn kho lớn, kéo theo lượng hàng tồn kho ở Nhật Bản, Hàn Quốc, EU cao… Bên cạnh đó, do giá tôm giảm nên khách hàng thường có tâm lý đợi giá tôm “chạm đáy” mới mua vào.

Tôm chân trắng vẫn chiếm vị trí chủ đạo trong cơ cấu các sản phẩm tôm XK của Việt Nam, chiếm 68,7%, tôm sú chiếm 22,9% và tôm biển 8,3%. Trong 10 tháng đầu năm 2018, giá trị XK tôm chân trắng giảm 1%, trong khi XK tôm sú giảm 7% và tôm biển giảm 32% so với cùng kỳ năm ngoái.

Trong tháng 10 năm nay, XK tôm Việt Nam sang các thị trường lớn đều giảm mạnh như EU (-30,6%), Trung Quốc (-38%), Hàn Quốc (-18,4%), Nhật Bản (-5%). Tuy nhiên, XK sang Mỹ tăng nhẹ 0,8%. Đáng chú ý, XK tôm sang ASEAN tăng tốt trên 55% so với cùng kỳ năm ngoái.

Bên cạnh đó, cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung cũng là một cơ hội cho các DN XK tôm của Việt Nam đẩy mạnh XK vào thị trường này do Mỹ áp thuế cao với các mặt hàng của Trung Quốc.

Xuất khẩu tôm trong quý IV năm nay dự báo sẽ tăng khoảng 2% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt khoảng 1,14 tỷ USD. Như vậy XK tôm đến cuối năm 2018 sẽ cán đích gần 3,8 tỷ USD, giảm nhẹ 2% so với năm 2017.

LÚA GẠO

Xuất khẩu gạo của Việt Nam tăng trong tháng 10/2018


Theo Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, khối lượng gạo xuất khẩu tháng 10/2018 đạt 264.000 tấn với giá trị đạt 136 triệu USD.

Như vậy, khối lượng xuất khẩu gạo 10 tháng đạt 5,2 triệu tấn với kim ngạch 2,6 tỷ USD, tăng 1,7% về khối lượng và 14,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. 

Trung Quốc vẫn tiếp tục đứng thứ nhất về thị trường xuất khẩu gạo của Việt
Nam với gần 24% thị phần. Nhiều thị trường có giá trị xuất khẩu gạo tăng mạnh là Indonesia, Iraq, Philippines, Malaysia... 

Giá gạo xuất khẩu bình quân 9 tháng đạt 503 USD/tấn, tăng 13,7% so với cùng kỳ năm 2017. Giá gạo thơm/Jasmine xuất khẩu đạt cao nhất 575 USD/tấn, tiếp đến là gạo Japonica/gạo Nhật 526 USD/tấn, gạo 5% tấm bình quân của Việt Nam nửa đầu tháng 10/2018 đạt 410 USD/tấn, cao hơn của Ấn Độ 372 USD/tấn và tương đương Thái Lan 411 USD/tấn. 

Về chủng loại gạo xuất khẩu, gạo trắng vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất (58% về lượng và 55% về giá trị), tiếp theo là gạo thơm/gạo Jasmine (chiếm 24% về lượng và 28% về giá trị) và gạo nếp (chiếm 13% về lượng và 12% về giá trị). 

Đáng chú ý là cơ cấu, chủng loại gạo xuất khẩu đã chuyển dịch tích cực, tăng dần gạo thơm, gạo nếp, gạo trắng chất lượng trung bình và cao; giảm dần gạo trắng chất lượng thấp. Hiện gạo trắng chất lượng thấp chỉ còn chiếm tỷ trọng khoảng 2% tổng lượng gạo xuất khẩu. 

Thị trường xuất khẩu gạo thơm và gạo Jasmine lớn nhất vẫn là Trung Quốc, chiếm 25% tổng kim ngạch xuất khẩu loại gạo này;
Ghana là thị trường lớn thứ 2 với 21% thị phần. Thị trường gạo nếp, Trung Quốc tiếp tục là thị trường chủ lực của Việt Nam, chiếm 80% tổng kim ngạch xuất khẩu gạo nếp.

Theo Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản, dự báo giá lúa trong nước sẽ tiếp tục tăng do các doanh nghiệp thu mua thêm lúa gạo để phục vụ các đơn hàng xuất khẩu đã ký kết trong tháng 10/2018 và các đơn hàng có thể trúng thầu trong các đợt đấu thầu cuối năm.

CÀ PHÊ

Giá cà phê giảm trong tháng 11/2018


Bộ Công thương cho biết, ngày 9/11/2018 giá cà phê Robusta nhân xô giảm từ 5,1 – 5,6% so với ngày 19/10/2018. Ngày 19/11/2018, cà phê Robusta nhân xô tại một số tỉnh, khu vực khảo sát có mức giá thấp nhất là 35.100 đồng/kg tại các huyện Di Linh và Lâm Hà (Lâm Đồng); mức cao nhất là 35.900 đồng/kg tại huyện Cư M’gar (Đắk Lắk). Tại các kho quanh khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, cà phê Robusta loại R1 có mức giá 37.300 đồng/kg, giảm 2,1% so với ngày 9/11/2018 và giảm 5,6% so với ngày 19/10/2018.

Tổng cục Hải quan cho biết, trong 15 ngày đầu tháng 11/2018, giá xuất khẩu bình quân mặt hàng cà phê đạt 1.885 USD/tấn, tăng 6,2% so với 15 ngày đầu tháng 10/2018, giảm 14,5% so với cùng kỳ năm 2017. Lũy kế từ đầu năm đến hết ngày 15/11/2018, giá xuất khẩu bình quân cà phê đạt 1.893 USD/tấn, giảm 16,6% so với cùng kỳ năm 2017.

Theo số liệu thống kê từ Bộ Công Thương Ấn Độ, nhập khẩu cà phê của nước này trong 9 tháng năm 2018 đạt 66 nghìn tấn, trị giá 108 triệu USD, tăng 12% về lượng, nhưng giảm 4,5% về trị giá so với 9 tháng năm 2017. Trong 9 tháng năm 2018, Việt Nam là thị trường cung cấp cà phê lớn nhất cho Ấn Độ với tốc độ tăng trưởng 31,7% về lượng và tăng 8,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

Dự kiến năm 2018, Việt Nam xuất khẩu được 1,7 triệu tấn cà phê, kim ngạch khoảng 3,5 tỷ USD. Hiện Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê nhân lớn thứ 2 thế giới (cà phê Robusta lớn nhất thế giới), sau Brazil. Đây cũng là một trong những ngành hàng mang lại giá trị cao nhất cho nông sản với kim ngạch xuất khẩu chiếm khoảng 10% tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản.

Năm nay, giá cà phê thế giới đang xuống mức thấp nhất trong nhiều năm qua (cà phê Arabica thấp nhất trong 12 năm, cà phê Robusta thấp nhất trong 5 năm), gây ảnh hưởng lớn đến kim ngạch xuất khẩu cà phê nước ta. 

Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu cà phê Việt Nam không giảm là nhờ xuất khẩu cà phê chế biến đã tăng trưởng rất nhanh, với 2 nhóm sản phẩm chính là cà phê rang xay và cà phê hòa tan. Chính phủ đã đàm phán các hiệp định thương mại tự do với các nước mở được thị trường cà phê rang xay.

Với nhóm sản phẩm cà phê hòa tan, tăng trưởng về lượng xuất khẩu trong niên vụ 2016/2017 tăng gấp 3 lần so với niên vụ 2015/2016, với 1,97 triệu bao. Xuất khẩu cà phê hòa tan của Việt Nam trong niên vụ 2017/2018 tăng thêm 100.000 bao so với niên vụ trước, đạt 2,1 triệu bao, tương đương với 120 nghìn tấn. 

Hiện cà phê hòa tan của Việt Nam đã có mặt tại 70 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Cả nước có 20 nhà máy chế biến cà phê hòa tan nguyên chất, cà phê hòa tan phối trộn, với tổng công suất 75.280 tấn sản phẩm/năm.

HẠT TIÊU

Giá hạt tiêu xuất khẩu giảm mạnh


Theo Bộ Công thương, do thời tiết bất thường, mưa nhiều khiến dịch hại phát triển, trong đó có các bệnh hại rễ do nấm và tuyến trùng gây ra bệnh chết nhanh, chết chậm đối với cây tiêu. Bên cạnh đó, việc sản xuất theo phong trào cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ, chỉ cần có tác nhân là dịch bệnh bùng phát.

Trước tình trạng này, cơ quan quản lý khuyến cáo người dân cần có sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng hợp lý. Đối với các vùng đã xảy ra dịch bệnh thì không tiếp tục trồng cây tiêu, mà chuyển sang các cây trồng, vật nuôi có hiệu quả. Đồng thời, nâng cao nhận thức, trang bị kiến thức từ các loại cây trồng, mô hình hiệu quả, kỹ thuật chăm sóc… để chủ động trong sản xuất.

Trong 10 ngày giữa tháng 11/2018, giá hạt tiêu đen tại thị trường trong nước giảm từ 1,7 - 5,2% so với ngày 10/11/2018, nhưng tăng từ 0,9 – 3,6% so với ngày 19/10/2018. 

Cụ thể, ngày 19/11/2018, giá hạt tiêu đen đạt mức thấp nhất là 55.000 đồng/kg tại các tỉnh Gia Lai và Đồng Nai; mức cao nhất là 57.000 đồng/kg tại các tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và Bình Phước. Giá hạt tiêu trắng 10 ngày giữa tháng 11/2018 đạt mức 87.000 đồng/kg, ổn định so với cùng kỳ tháng trước, nhưng giảm 6,4% so với đầu tháng 11/2018 và thấp hơn nhiều so với mức giá 117.000 đồng/kg của cùng kỳ năm 2017.

Được biết trong 10 tháng năm 2018, giá xuất khẩu bình quân hạt tiêu sang hầu hết các thị trường đều giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2017. Cụ thể, giá xuất khẩu bình quân hạt tiêu sang thị trường Nhật Bản giảm 40,8%, xuống còn 4.832 USD/tấn; Bỉ giảm 44,8%, xuống còn 4.166 USD/tấn; Hà Lan giảm 33,6%, xuống còn 4.247 USD/tấn.

HẠT ĐIỀU

Xuất khẩu hạt điều sang Thái Lan tăng đột biến


Bộ Công Thương cho biết, tháng 11/2018 giá hạt điều ổn định quanh mức 35.000 – 37.000 đồng/kg. So với các loại cây trồng ngắn ngày khác, cây điều mang lại lợi nhuận cao cho người dân, nên nhiều người dân tỉnh Gia Lai chuyển diện tích sang trồng điều.

Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, xuất khẩu hạt điều tháng 10/2018 đạt 33,5 nghìn tấn, trị giá 283,89 triệu USD, tăng 12,7% về lượng và tăng 10,8% về trị giá so với tháng 9/2018, so với cùng kỳ năm 2017 tăng 1,1% về lượng, nhưng giảm 14,4% về trị giá. Lũy kế 10 tháng năm 2018, xuất khẩu hạt điều đạt 304,9 nghìn tấn, trị giá 2,817 tỷ USD, tăng 4,9% về lượng, nhưng giảm 2,3% về trị giá so với 10 tháng năm 2017.

Trong tháng 10/2018, giá xuất khẩu bình quân mặt hàng điều đạt mức 8.463 USD/tấn, giảm 1,7% so với tháng 9/2018 và giảm 15,4% so với tháng 10/2017. Lũy kế 10 tháng năm 2018, giá xuất khẩu bình quân hạt điều đạt mức 9.239 USD/tấn, giảm 6,9% so với cùng kỳ năm 2017.

Tháng 10/2018, xuất khẩu hạt điều sang một số thị trường tăng về lượng, nhưng giảm về trị giá so với tháng 10/2017, gồm Mỹ, Anh, Đức, Canada. Đáng chú ý, xuất khẩu hạt điều sang Thái Lan tăng đột biến 126,2% về lượng và tăng 90,3% về trị giá. Trong 10 tháng năm 2018, xuất khẩu hạt điều sang Mỹ tăng 11,5% về lượng và tăng 3,1% về trị giá so với10 tháng năm 2017, đạt 113,6 nghìn tấn,trị giá 1,057 tỷ USD.

Về chủng loại, tháng 9/2018, xuất khẩu hạt điều loại W320 đạt xấp xỉ 16 nghìn tấn, trị giá 145,16 triệu USD, giảm 18,4% về lượng và giảm 33,4% về trị giá so với tháng 9/2017. Lũy kế 9 tháng năm 2018, xuất khẩu hạt điều loại W320 đạt 136,4 nghìn tấn, trị giá 1,428 tỷ USD, giảm 6,2% về lượng và giảm 13,3% về trị giá so với 9 tháng năm 2017.

 (TTGCVT /T.Hiền tổng hợp) 

 

Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (024) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (024) 39762593 
Email:ttgcvattu1989@gmail.com