Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Thị trường hàng hóa nguyên liệu trong nước tháng 10/2018
Cập nhật: 1-11-2018

VÀNG

Thị trường vàng trong nước vẫn khá ảm đạm bất chấp giá vàng thế giới biến động


Trong tháng 10, một loạt các sự kiện trên thị trường tài chính thế giới đã diễn ra và tác động không nhỏ đến giá vàng. Nhìn chung, giá vàng thế giới trong tháng 10 nằm trong xu hướng giảm là chính khi kim loại quý này chưa được xem là một kênh trú ẩn an toàn tại thời điểm này. Kim loại quý thường giảm khi đồng đô la tăng, vì nó được tính bằng đồng tiền của Mỹ và nhạy cảm với các động thái của đô la.

Tại thị trường trong nước, giá vàng SJC sáng 31/10 – ngày cuối cùng trong tháng của Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn được niêm yết ở mức 36,37 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,53 triệu đồng/lượng (bán ra), giảm 10 ngàn đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với cuối giờ chiều ngày 30/10. Nhìn chung bầu không khí giao dịch bao trùm là ảm đạm, khi các nhà đầu tư chưa tìm thấy sức hấp dẫn của vàng. Có rất ít thời điểm giá vàng tăng, và mức giá cao nhất trong tháng là 36,68 triệu đồng/lượng (chiều bán ra).

Trong tuần đầu tiên, giá vàng trong nước điều chỉnh giảm. Trong 5 ngày, giá vàng chỉ có duy nhất 1 ngày bật tăng lên mức 36,43 – 36,60 triệu đồng/lượng và là mức cao nhất trong tuần. Các ngày còn lại, giá chỉ xoay quanh mức trên 36,3 triệu đồng/lượng (chiều bán ra) và 36,5 triệu đồng/lượng (chiều mua vào). Nhiều nhà đầu tư vẫn quyết định giữ nguyên chiến thuật đứng ngoài quan sát, chỉ có một phần nhỏ người dân mua và bán theo nhu cầu thực tế.   

Bước sang tuần 2, giá vàng trong nước tăng giảm xen kẽ, đặc biệt vào ngày cuối tuần (12-10) giá tăng mạnh, dao động trong khoảng 36,38 – 36,46 triệu đồng/lượng (chiều mua vào) và 36,54 – 36,62 triệu đồng/lượng (chiều bán ra). Tại thời điểm này, các nhà đầu tư vẫn theo dõi sát giá vàng quốc tế để tìm ra xu hướng rõ ràng hơn. 

Trung tuần tháng 10, giá vàng có xu hướng đi ngang khi giá mua vào chỉ ở trong khoảng trên dưới 36,5 triệu đồng/lượng và giá bán ra ở mức trên 36,6 triệu đồng. Mặc dù có thời điểm giá vàng thế giới tiến sát mức cao nhất 2 tháng, tuy nhiên tại các hệ thống kinh doanh vàng giá không tăng nhiều nên lượng khách mua bán nhìn chung vẫn ổn định. Kết thúc tuần, giá vàng sáng 19-10 đứng ở mức 36,52 – 36,68 và là mức cao nhất của tuần này. Với mức giá này, giá vàng trong nước vẫn cao hơn giá thế giới khoảng 2,7 triệu đồng/lượng. 

Ở tuần cuối cùng, thị trường vàng chứng kiến giá tăng đến chóng mặt của vàng thế giới. Tuy nhiên giá vàng trong nước lại rất thờ ơ với sự tăng giá này. Giá mua vào trong tuần dao động trong khoảng từ 36,45 - 36,52 triệu đồng/lượng và giá bán ra trong khoảng 36,61 – 36,68 triệu đồng/lượng. Tại những thời điểm nhạy cảm, nhiều chuyên gia cho rằng nhà đầu tư nên cẩn trọng và lựa chọn thời điểm thích hợp để tham gia thị trường. Kết thúc tuần, vào sáng 26-10, giá vàng giao dịch chốt ở mức 36,45 – 36,61 triệu đồng/lượng và vẫn đang cao hơn giá vàng thế giới khoảng 2,5 triệu đồng. 

ĐÔ LA

Tỷ giá trung tâm luôn đứng ở mức cao, giá đô la tại ngân hàng ít biến động

Trong tháng 10, mọi sự quan tâm của các nhà đầu tư dường như đều hướng về đồng đô la khi trong suốt tháng xu hướng tăng giá được xem là chủ đạo. Và không nằm ngoài quỹ đạo, tỷ giá trung tâm của NHNN cũng đã theo sát sao diễn biến này.

Ngay trong tuần đầu tiên, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố theo xu hướng tăng, dao động ở khoảng 22.713 – 22.720 đồng/USD. Tại các NHTM, giá giao dịch USD ít biến động. Đầu giờ sáng 5/10, đa số ngân hàng thương mại giữ tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ không đổi so với cuối phiên liền trước, phổ biến ở mức 23.310 đồng (mua) và 23.390 đồng (bán). Tính từ đầu năm, tỷ giá đồng đô la Mỹ trong hệ thống ngân hàng tăng 600-615 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra.  

Tại tuần thứ 2, tỷ giá trung tâm có tới 3 phiên đều đứng ở mức 22.721 đồng/USD. Mức cao nhất của tuần là 22.723 đồng/USD. Tại các NHTM, giá giao dịch USD không đổi qua nhiều phiên. Tới sáng 12/10 đa số các ngân hàng thương mại giữ tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ không đổi so với cuối phiên liền trước, phổ biến ở mức 23.300 đồng (mua) và 23.380 đồng (bán). Giá USD trên thị trường chợ đen đứng ở mức: 23.445 - 23.470 đồng/USD. 

Trung tuần tháng 10, tỷ giá trung tâm có 2 phiên được NHNN công bố ở mức 22.717 đồng/USD và 2 phiên ở mức 22.719 đồng/USD. Mức thấp nhất của tuần là 22.715 đồng/USD. Tại các NHTM, giá giao dịch USD nhìn chung ổn định. Tới đầu giờ sáng 19/10, đa số các ngân hàng thương mại giữ tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ không đổi so với cuối phiên liền trước, phổ biến ở mức 23.295 đồng (mua) và 23.375 đồng (bán). Giá USD trên thị trường chợ đen đứng ở mức: 23.435 - 23.455 đồng/USD.

Tuần cuối cùng, đồng bạc xanh vẫn đứng ở mức cao do giới đầu tư tìm tới các loại tài sản an toàn trong đó có USD và vàng trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị và bất ổn tiếp tục lan rộng. Điều này đã khiến cho tỷ giá trung tâm cũng biến động theo. Trong 5 phiên, tỷ giá trung tâm có mức thấp nhất là 22.717 đồng/USD và mức cao nhất là 22.723 đồng/USD. Tại các NHTM, giá giao dịch USD nhìn chung ổn định. Tới đầu giờ sáng ngày 31/10, một số ngân hàng thương mại giữ tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ không đổi so với cuối phiên liền trước, phổ biến ở mức 23.300 đồng (mua) và 23.390 đồng (bán). Tính từ đầu năm, tỷ giá đồng đô la Mỹ trong hệ thống ngân hàng tăng 590-605 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra. Giá USD trên thị trường chợ đen đứng ở mức: 23.450 - 23.470 đồng/USD.  

THÉP XÂY DỰNG

Giá thép xây dựng tăng 55 – 220 đồng/kg kể từ đầu tháng 10

Theo Bộ Công Thương, 9 tháng đầu năm 2018, ngành thép có sự tăng trưởng tốt. Sản lượng sản xuất sắt thép thô; thép cán; thép thanh, thép góc tăng lần lượt là 36,6% ; 6,3% và 8,1% so với cùng kỳ năm 2017.Dự báo ngành thép năm 2018 sẽ tiếp tục duy trì đà tăng trưởng với mức tăng khoảng 20% so với năm trước. Trong đó, sản xuất thép xây dựng tăng trưởng 10%, thép lá cuộn cán nguội tăng 5%, thép ống hàn tăng 15%, sản xuất tôn mạ và sơn phủ màu tăng 12%.

Đặc biệt, sản xuất thép cuộn cán nóng tăng mạnh nhất 154% so với năm ngoái nhờ Formosa Hà Tĩnh đưa vào vận hành lò cao số 2 (công suất 3,5 triệu tấn/năm) trong 6 tháng cuối năm 2018, giúp nâng tổng công suất của Formosa lên 6 triệu tấn/năm.

Bộ Công Thương cho rằng, có nhiều nhân tố đem đến sự tăng trưởng này, chủ yếu là kinh tế trong nước tiếp tục duy trì ổn định, nhiều dự án hạ tầng, xây dựng, bất động sản được triển khai trong năm 2018, đặc biệt là việc giải ngân vốn đầu tư công đã được Chính phủ chú trọng, triển khai ngay từ những tháng đầu năm, tạo tiền đề tốt cho tăng trưởng của ngành.

Về tình hình nhập khẩu, trong 9 tháng đầu năm 2018, lượng sắt thép phế liệu nhập khẩu vào Việt Nam tăng 19,3% về lượng và tăng 47,6% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, tháng 9/2018 cả nước nhập khẩu 467.707 tấn sắt thép phế liệu, trị giá 168,83 triệu USD, giảm 3,5% về lượng nhưng tăng 4,7% về kim ngạch so với tháng 8/2018, nhưng so với cùng tháng năm 2017 thì tăng 8,3% về lượng và tăng 29,4% về kim ngạch. Giá nhập trung bình 351 USD/tấn, tăng 23,7%.

Lượng sắt thép phế liệu nhập khẩu nhiều nhất từ thị trường Nhật Bản 1,16 triệu tấn, trị giá 432,55 triệu USD, chiếm 29,4% trong tổng lượng phế liệu sắt thép nhập khẩu của cả nước và chiếm 31,2% trong tổng kim ngạch. Nhập khẩu từ thị trường Mỹ tăng rất mạnh 44,7% về lượng và tăng 80,7% về kim ngạch so với cùng kỳ, đạt 660.238 tấn, trị giá 236,2 triệu USD, chiếm 16,7% trong tổng lượng và chiếm 17% trong tổng kim ngạch nhập khẩu phế liệu sắt thép của cả nước. Giá nhập khẩu tăng 24,9%, đạt trung bình 357,8 USD/tấn.

Về phương diện giá cả, theo thông tin từ Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) công bố, trong nửa đầu tháng 10/2018 sản lượng thép xây dựng sản xuất, tiêu thụ ổn định và giá bán có xu hướng tăng nhẹ so với cuối tháng trước.

Giá thép xây dựng tại một số nhà máy tăng 55 – 220 đồng/kg tùy từng chủng loại và nhà sản xuất. Giá bán tại các nhà máy ở mức khoảng từ 11.300 - 14.300 đồng/kg (giá giao nhà máy, chưa bao gồm 10% VAT, chiết khấu bán hàng).

Giá thép xây dựng bán lẻ phổ biến tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung dao động ở mức 12.900 – 14.600 đồng/kg. Tại các tỉnh miền
Nam, giá thép dao động ở mức 13.000 – 14.900 đồng/kg.

Ở thị trường thế giới, giá chào bán phôi thép đầu tháng 10/2018 cơ bản ổn định so với cuối tháng 9/2018, giá chào phôi thép CFR Đông Á ở khoảng 520 – 545 USD/tấn.

Tính đến thời điểm hiện tại, có 128 vụ việc phòng vệ thương mại được khởi xướng điều tra bởi 17 quốc gia và vùng lãnh thổ đối với hàng hóa xuất khẩucủa Việt Nam. Đặc biệt, trong 128 vụ điều tra, khởi kiện thì có đến 85% liên quan đến ngành thép (chủ yếu là điều tra chống bán phá giá). Sản phẩm thép Việt Nam đang phải cạnh tranh khốc liệt để vượt qua những rào cản kỹ thuật và phòng vệ thương mại của các nước.Tổng cộng có 11 thị trường đã khởi kiện thép Việt Nam là Mỹ, EU, Liên minh Kinh tế Á-Âu và một số đang xem xét khởi kiện như Malaysia, Thổ Nhĩ Kỳ, Đài Loan... Ngành sản xuất thép trên thế giới đang ngày càng dư thừa công suất sản xuất là nguyên nhân chính và trực tiếp đã tác động đến ngành thép của các nước, trong đó có Việt Nam. Đáng chú ý, các cường quốc sản xuất thép đã gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt từ thép Trung Quốc với những lợi thế về giá, dẫn đến những thiệt hại cho ngành sản xuất thép của quốc gia họ.

Theo Thứ trưởng Bộ Công thương Trần Quốc Khánh, ngoài hoàn thiện, khép kín quy trình sản xuất, doanh nghiệp cần tỉnh táo nhìn nhận bức tranh tổng thể để thấy việc tăng công suất, tăng đầu tư hướng đến xuất khẩuvào giai đoạn này là rất rủi ro. Do đó, các doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ lưỡng, xây dựng chiến lược kinh doanh thận trọng, đánh giá đầy đủ các rủi ro. Đặc biệt, không nên coi việc các nước áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại đối với thép Trung Quốc là “cơ hội xuất khẩu” đối với thép Việt
Nam.

XI MĂNG

Các doanh nghiệp sản xuất điều chỉnh giá xi măng quý IV/2018

Thời điểm cuối năm vào mùa xây dựng, với các lý do như chi phí đầu vào như điện, than, dầu… đều tăng; các doanh nghiệp sản xuất đồng loạt điều chỉnh giá bán xi măng trong tháng 10 và tháng 11.

Theo đó, công ty CP xi măng Hoàng Long điều chỉnh giá bán với các thương hiệu xi măng Nam Sơn, Sài Sơn, Trung Sơn, Hoàng Long, Alpha, Việt Úc: tăng giá 30.000 đ/tấn với cả PCB30, PCB40. Vicem Bỉm Sơn: tăng 30.000 đ/tấn với PCB30, PCB40 dân dụng. Xi măng Công Thanh khu vực miền Trung: giảm chiết khấu thương mại 30.000 đồng/tấn, đồng thời tăng 30.000 đồng/tấn với PCB30, PCB40…Như vậy, giá bán trung bình so với tháng 9/2018 của một số chủng loại xi măng phổ biến nằm trong khoảng 1.000.000 –1.470.000 đồng/ tấn. Các khu vực đều có dấu hiệu tiêu thụ tốt. Đặc biệt là miền Trung đang là thị trường cạnh tranh gay gắt của các thương hiệu. Hàng loạt thương hiệu như Long Sơn, Công Thanh, Phúc Sơn, Vicem… đang đẩy mạnh việc phát triển mạng lưới kênh phân phối, xây dựng kho chứa và trạm trung chuyển.

Về tình hình tiêu thụ, theo Vụ Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng) cho biết, ước tiêu thụ sản phẩm xi măng trong 10 tháng năm 2018 khoảng 85,23 triệu tấn, tăng 51% so với cùng kỳ năm 2017 và đạt 100% kế hoạch tiêu thụ từ 83-85 triệu tấn sản phẩm xi măng của cả năm. Riêng Tổng công ty Công nghiệp xi măng Việt 
Nam (Vicem) tiêu thụ khoảng 23,87 triệu tấn, tăng 14% so với cùng kỳ.

Trong đó, chỉ tính riêng trong tháng 10, ước tiêu thụ sản phẩm xi măng tại thị trường nội địa khoảng 6,09 triệu tấn, tăng 7% so với cùng kỳ. Lũy kế, từ đầu năm đến nay, tiêu thụ sản phẩm xi măng tại thị trường nội địa đạt khoảng 59,18 triệu tấn.

Thị trường xuất khẩusản phẩm xi măng tiếp tục bứt phá với những con số ấn tượng khi trong tháng 10/2018 xuất khẩuước đạt 2,66 triệu tấn sản phẩm, tăng 0,46 triệu tấn so với tháng 9 trước đó. Xuất khẩusản phẩm xi măng trong 10 tháng năm 2018 ước đạt khoảng 26,05 triệu tấn, tăng tới 65% so với cùng kỳ 2017.

Với những bứt phá trong khâu tiêu thụ sản phẩm tại thị trường xuất khẩu, kết thúc tháng 10, sản lượng xuất khẩuxi măng đã vượt kế hoạch xuất khẩutừ 18-19 triệu tấn của cả năm khoảng 7,05 triệu tấn.

Các chuyên gia trong lĩnh vực vật liệu xây dựng cho rằng từ nay đến cuối năm sản lượng xi măng tiêu thụ tại thị trường nội địa sẽ vẫn tiếp tục tăng do thời tiết rất thuận tiện cho việc xây dựng. Đây cũng là thời điểm nhiều dự án xây dựng, bất động sản gấp rút được hoàn thành để mở bán vào dịp cuối năm. Trong khi đó,sản lượng xuất khẩusản phẩm vẫn tiếp tục tăng do không gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt của xi măng Trung Quốc vì đang dừng sản xuất. Do đó, sản lượng tiêu thụ sản phẩm xi măng được dự báo sẽ vượt rất xa so với mục tiêu kế hoạch đề ra của cả năm.

XĂNG DẦU

Giá xăng có một lần tăng và một lần giảm, giá dầu được giữ nguyên tại kỳ điều chỉnh lần 2

Chiều ngày 6/10, Liên Bộ Công Thương – Tài chính đã phát đi thông tin về việc điều hành giá xăng dầu. Việc chi sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu được cơ quan điều hành quyết định ở mức như sau: Xăng E5 RON92: 1.563 đồng/lít; Xăng RON95: 700 đồng/lít; Dầu diesel: 400 đồng/lít; Dầu hỏa: 300 đồng/lít.

Sau khi chi sử dụng Quỹ bình ổn, giá xăng dầu vẫn được điều chỉnh ở mức tăng khá mạnh.

Sau khi thực hiện trích lập và chi sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu, giá các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường điều chỉnh như sau: Xăng E5 RON92: tăng 675 đồng/lít; Xăng RON95-III: tăng 577 đồng/lít; Dầu diesel 0.05S: tăng 485 đồng/lít; Dầu hỏa: tăng 403 đồng/lít; Dầu mazut 180CST 3.5S: tăng 752 đồng/kg.

Giá bán các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường không cao hơn mức giá như sau: Xăng E5 RON92: không cao hơn 20.906 đồng/lít; Xăng RON95-III: không cao hơn 22.347 đồng/lít; Dầu diesel 0.05S: không cao hơn 18.611 đồng/lít; Dầu hỏa: không cao hơn 17.086 đồng/lít; Dầu mazut 180CST 3.5S: không cao hơn 15.694 đồng/kg.

Liên Bộ Công Thương – Tài chính cho biết do giá xăng dầu thế giới thời gian gần đây tăng mạnh. Bình quân giá thành phẩm xăng dầu thế giới trong 15 ngày trước đó là: 90,363 USD/thùng xăng RON92 dùng để pha chế xăng E5RON92 (tăng 4,08% so với kỳ trước); 92,400 USD/thùng xăng RON95 (tăng 4,04%); 96,889 USD/thùng dầu diesel (tăng 5,64%)…Giá etanol E100 đưa vào tính giá cơ sở mặt hàng xăng E5 RON92 theo Công văn số 1145/BTC-QLG ngày 05 tháng 10 năm 2018 của Bộ Tài chính về điều hành kinh doanh xăng dầu là 15.458 đồng/lít (chưa có thuế GTGT).

Sau khi tăng giá trong ngày 6/10, tại kỳ điều chỉnh lần 2 vào 15 chiều ngày 22-10 giá xăng dầu đã được liên Bộ Công Thương - Tài chính công bố. Theo đó, giá xăng giảm 144 - 224 đồng mỗi lít tuỳ loại trong khi các loại dầu giữ nguyên như kỳ điều hành cách đây 15 ngày.

Sau điều chỉnh, giá mỗi lít xăng E5 RON 92 tối đa là 20.682 đồng; RON 95 là 22.203 đồng. Dầu hoả giữ nguyên 18.610 đồng; dầu hoả 17.080 đồng một lít...

Cùng với giảm giá bán, nhà điều hành chi thêm Quỹ bình ổn xăng dầu. Xăng sinh học E5 RON92 có mức chi quỹ cao nhất 1.213 đồng một lít; RON 95 là 600 đồng; các mặt hàng dầu 634 - 722 đồng một lít, kg tuỳ loại. 

Cũng theo cơ quan điều hành, bình quân giá thành phẩm xăng dầu thế giới 15 ngày qua giảm nhẹ, như xăng RON 92 (xăng nền pha E5 RON 92) là 87,12 một thùng; RON 95 là 89,32 USD một thùng; dầu diesel gần 96,3 USD một thùng...

Như vậy từ đầu năm đến nay, giá xăng đã trải qua 20 đợt điều chỉnh, trong đó 6 lần tăng giá, 2 lần giảm và 12 lần giữ ổn định. Tổng cộng, giá xăng đã tăng thêm hơn 1.000 đồng mỗi lít so với đầu năm. 

Về tình hình nhập khẩu mặt hàng này, theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong tháng 9/2018 nhập khẩu xăng dầu về Việt Nam sụt giảm 9,8% về lượng và giảm 4,3% về kim ngạch so với tháng liền kề trước đó và cũng giảm 23% về lượng và giảm 0,1% về kim ngạch so với cùng tháng năm 2017, đạt 699.882 tấn, trị giá 502,22 triệu USD. Tuy nhiên, giá nhập trong tháng 9/2018 lại tăng 6,2% so với tháng 8/2018 và cũng tăng 29,8% so với tháng 9/2017, đạt 717,6 USD/tấn.

Tính tổng cộng lượng xăng dầu nhập khẩu về Việt Nam 9 tháng đầu năm 2018 đạt 9,33 triệu tấn, trị giá 6,26 tỷ USD, tuy giảm 1,8% về lượng nhưng tăng mạnh trên 24,9% về trị giá so với 9 tháng đầu năm 2017. Giá xăng dầu nhập khẩu trung bình trong 9 tháng đầu năm nay khoảng 671 USD/tấn, tăng 27,3% so với 9 tháng đầu năm 2017.Malaysia vẫn là thị trường cung cấp hàng đầu các loại xăng dầu cho Việt Nam; với trên 2,67 triệu tấn, trị giá trên 1,67 tỷ USD. Hàn Quốc - thị trường lớn thứ 2 cung cấp xăng dầu nhập khẩu cho Việt Nam, với 2,33 triệu tấn, trị giá  1,71 tỷ USD…

GAS

Gas tăng thêm 12.000 đồng/bình

Ngày 30/9, Chi hội Gas miền Nam cho biết giá gas nhập khẩu theo phiếu (CP) tháng 9 vừa thông báo ở mức bình quân 655 USD/tấn, tăng 37,5 USD/tấn so với tháng trước.

Ở kỳ điều chỉnh giá ngày 1-10, nhiều công ty gas đầu mối chốt giá bán lẻ trong nước tăng 1.000 đồng/kg, tương đương 12.000 đồng/bình 12 kg. Giá bán lẻ gas tối đa đến người tiêu dùng khu vực TP HCM bình 12 kg một số thương hiệu như sau: PetroVietnam Gas và SP Gas cùng 379.000 đồng/bình, Petrolimex Gas 386.500 đồng/bình, Dầu khí Gas 408.000 đồng/bình…

Tính từ đầu tháng 5-2018, giá gas đã có 6 lần tăng liên tiếp với mức tăng tổng cộng 62.000 đồng/bình 12 kg. 

Theo ông Nguyễn Hải Long, Chủ tịch Chi hội Gas miền Nam, giá gas tăng liên tục thời gian qua đã ảnh hưởng đến tăng trưởng của ngành, lợi nhuận công ty gas giảm. Từ đầu năm 2018 đến nay, tốc độ tăng trưởng ngành chỉ đạt 5%-6% trong khi giai đoạn 2014-2017 là 12%-13%. Giá gas cao, các doanh nghiệp dùng gas tại các khu công nghiệp bắt đầu chuyển sang dùng nhiên liệu khác; các hộ gia đình chuyển sang sử dụng bếp từ, bếp điện thay thế bếp gas.

Ô TÔ

Ô tô nhập khẩu về Việt Nam tăng đột biến, khách Việt tha hồ mua xe nhập cuối năm 

 

Theo thống kê sơ bộ của TCHQ, lượng ô tô nguyên chiếc nhập khẩu về thị trường Việt Nam trong tháng 10/2018 lên con số trên 11.000 xe.

Cho đến thời điểm hiện tại, xe nhập khẩu từ hầu hết các quốc gia đều đã có mặt tại thị trường Việt Nam sau khi khai thông các thủ tục nhập khẩu. Sau rất nhiều nỗ lực tìm kiếm các giải pháp kỹ thuật, đến nay, các doanh nghiệp đã đáp ứng đầy đủ các quy định mới tại Nghị định 116 và đưa xe về nước. Các hãng cũng liên tục tung ra những mẫu xe mới, để chạy đua tăng doanh số vào dịp cuối năm. Trong đó, Thái Lan và Indonesia vẫn là hai thị trường cung cấp lớn nhất do những thuận lợi về thuế nhập khẩu trong khu vực.

Thị trường xe nhập khẩu trong các tháng cuối năm dự báo sẽ náo nhiệt hơn. Triển lãm ô tô Việt Nam 2018 vừa được tổ chức cũng là một cú hích lớn với thị trường ô tô cuối năm. Trong đó, hầu hết các mẫu xe mới đều là các mẫu xe nhập khẩu.

Khi xe nhập khẩu về nhiều, thị trường sẽ cạnh tranh mạnh mẽ, giá sẽ giảm. Hiện nay nhiều mẫu xe nhập khẩu đã có giá ngang bằng xe sản xuất lắp ráp trong nước.

Chẳng hạn như ở phân khúc xe cỡ nhỏ, những mẫu xe Wigo của Toyota hay Mirage của Mitsubishi Việt Nam đã ngang bằng với Kia Morning và Hyundai i10. Hay một số mẫu xe nhập khẩu như Toyota Rush, Mitsubishi Xpander,... có mức giá trong khoảng 550-670 triệu đồng đang cạnh tranh mạnh mẽ với những đối thủ là xe lắp ráp trong nước.

Việt Nam sẽ sớm bước vào giai đoạn ô tô hóa. Vì vậy, các DN đang đa dạng hóa dòng sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm để đáp đòi hỏi của khách hàng. Thời gian tới nhiều mẫu xe nhập khẩu mới tiếp tục đổ về nước và gây sức ép lớn lên xe sản xuất lắp ráp trong nước.

Trong khi đó, Bộ Công Thương trong báo cáo gửi Quốc hội mới đây cho biết, tỷ lệ nội địa hóa của các DN ô tô Việt Nam hiện vẫn rất thấp, còn tỷ lệ nội địa hóa của các nước trong khu vực trung bình đã đạt được 65-70%, Thái Lan đạt tới 80%. Nếu các nhà sản xuất ô tô trong nước không sớm có giải pháp hữu hiệu nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, chắc chắn sẽ khó lòng cạnh tranh với thị trường khu vực.

Mặc dù vậy, nhưng rất có thể đối với một số dòng xe nhập khẩu hot, khách hàng vẫn có thể phải chờ đợi khi lượng cung vẫn chưa thực sự dồi dào do lượng xe nhập tuy lớn nhưng lại chia ra quá nhiều mẫu mã, thương hiệu.

Còn theo báo cáo bán hàng của Hiệp hội Các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), trong tháng 9 vừa qua, doanh số bán hàng của toàn thị trường ô tô đạt 25.351 xe, tăng 24% so với tháng 8/2018 và tăng 19% so với cùng kỳ năm trước. Trong số 25.351 xe bán ra trên thị trường trong tháng 9/2018 bao gồm 17.213 xe du lịch, tăng 24% so với tháng trước; 7.625 xe thương mại, tăng 21% và 513 xe chuyên dụng, tăng 36%.

2 phân khúc xe lắp ráp và nhập khẩu đều có sự tăng trưởng ấn tượng. Sản lượng của xe lắp ráp trong nước đạt 17.325 xe, tăng 16% so với tháng trước trong khi doanh số xe nhập khẩu nguyên chiếc đạt 8.026 xe, tăng 42% so với tháng trước.

Tuy nhiên, tổng doanh số bán hàng của toàn thị trường tính từ đầu năm đến hết tháng 9 đã giảm 2% so với cùng kì năm trước. Trong đó, xe ô tô du lịch tăng 13%; xe thương mại giảm 19% và xe chuyên dụng giảm 43% so với cùng kì năm 2017.

Ngoài ra, tính đến hết tháng 9/2018, doanh số bán hàng của xe lắp ráp trong nước tăng 11% trong khi xe nhập khẩu giảm 34% so với cùng kì năm 2017.

THỦY SẢN 

ĐBSCL: Cá tra nguyên liệu tăng giá cao nhất từ trước đến nay 

 

Kim ngạch xuất khẩucác mặt hàng nông lâm thuỷ sản tháng 10 năm 2018 ước đạt 3,36 tỷ USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu10 tháng đầu năm 2018 đạt 32,6 tỷ USD, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, giá trị xuất khẩu thuỷ sản ước đạt 7,24 tỷ USD, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm 2017.  

VASEP dự báo xuất khẩu thủy sản sẽ tăng trong quý IV và cả năm 2018 so với so với năm ngoái. Tuy nhiên, xét riêng trong từng nhóm sản phẩm, hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp thủy sản gặp rất nhiều khó khăn do gặp hàng rào thương mại và kỹ thuật ngày càng khắt khe hơn.   

Về ngành hàng cá tra, theo VASEP, giá trị xuất khẩu cá tra 9 tháng đầu năm nay đạt 1,59 tỷ USD, tăng 22,6% và chiếm 25,1% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản. Cá tra là nhóm sản phẩm thủy sản ghi nhận mức tăng trưởng cao nhất nhờ giá trị xuất khẩusang nhiều thị trường lớn như Trung Quốc - Hong Kong, Mỹ, Liên minh châu Âu, ASEAN đều tăng trưởng khả quan.  

Tuy nhiên, theo VASEP, các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra Việt Nam cũng đang đứng trước bài toán khó về việc thiếu nguyên liệu cá tra trong nước. Giá cá tra nguyên liệu tăng cao do lượng cá tới lứa xuất bán trong dân hạn chế, trong khi nhu cầu hàng phục vụ chế biến xuất khẩutăng mạnh. Nhiều doanh nghiệp chế biến cá tra xuất khẩuđang đẩy mạnh thu mua để đáp ứng cho các đơn hàng và chuẩn bị nguồn hàng phục vụ nhu cầu thị trường tăng cao dịp cuối năm và đầu năm mới 2019.

Hiện nay, có khoảng 24% tổng sản lượng cá tra Việt Nam xuất khẩusang Trung Quốc và đây chỉ là con số chính thức, chưa tính đến thương mại vượt biên giới.

Tháng 9/2018, kim ngạch xuất khẩucá tra vào Trung Quốc đạt khoảng 46 triệu USD, tăng 19,1% so với cùng kỳ 2017, cộng dồn 9 tháng đạt 378,5 triệu USD, chiếm tỷ lệ 23,7%, tăng 33,3%. Năm 2017, kim ngạch xuất khẩucá tra sang thị trường Trung Quốc đạt 410,8 triệu USD, tăng 34,8% so với năm 2016, chiếm 23% tổng giá trị xuất khẩucá tra của cả nước.

Cũng trong tháng 9/2018, kim ngạch xuất khẩucá tra vào Mỹ đạt 47,12 triệu USD, tăng 357,6% so với cùng kỳ 2017, cộng dồn 9 tháng ước đạt 368,4 triệu USD, tăng 41%, chiếm tỷ lệ 23%.

Theo ông Trương Đình Hoè, Tổng thư ký Hiệp hội chế biến và xuất khẩuthuỷ sản Việt Nam (Vasep), việc Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) khẳng định hệ thống quản lý chất lượng cá da trơn của Việt Nam đáp ứng hoàn toàn các tiêu chuẩn quản lý chất lượng của Mỹ sẽ tác động đến hoạt động xuất khẩucá tra vào thị trường này. Và dù chỉ là mức thuế sơ bộ chống bán phá giá lần thứ 14 (POR14), vì kết quả cuối cùng sẽ được công bố vào tháng 3/2019, nhưng về mặt tâm lý có thể tạo ra sự tăng trưởng tiêu thụ ở thị trường Mỹ từ nay đến cuối năm.

Với tốc độ tăng trưởng như trong tháng 9, có nhiều khả năng kim ngạch xuất khẩucá tra vào Mỹ năm nay đạt xấp xỉ 500 triệu USD. Do vậy, có nhiều khả năng năm 2018 kim ngạch xuất khẩucá tra sẽ đạt thậm chí vượt mức 2 tỷ USD.

Về giá cá tra nguyên liệu, đến giữa tháng 10, tại một số vùng nuôi tại ĐBSCL giá cá tra đã tăng lên mức kỷ lục 35.000 - 36.500 đồng/kg, cao hơn so với cùng kỳ từ 10.000 - 12.500 đồng/kg. Với mức giá này nông dân nuôi cá tra lãi từ 6.000 – 9.000 đồng/kg.

Hiện nay, nhiều người nuôi cá lo lắng về khả năng giá cá tra có thể giảm mạnh trở lại do nguồn cung tăng khi cá tra của nhiều hộ dân đồng loạt tới lứa xuất bán trong một vài tháng tới. Ngoài ra, khi giá tăng cao kích thích người dân, doanh nghiệp tăng diện tích nuôi, từ đó phát sinh tình trạng cá tra bị dư thừa, dễ rớt giá.

Giá tôm nguyên liệu tăng cao, người nuôi thắng lớn

Đang trong chính vụ xuất khẩu tôm, nguồn tôm nguyên liệu rất hút đã kéo theo giá tôm gần đây tăng mạnh. Người nuôi tôm tại Cà Mau đang rất phấn khởi xuống giống. Tuy nhiên, theo đánh giá của ngành chức năng, đang là vụ nghịch, lượng mưa lớn, thời tiết rất thất thường nên người nuôi tôm cần cẩn trọng trong thả nuôi.

Hiện giá tôm nguyên liệu ở Cà Mau đang đạt ngưỡng cao. Cụ thể, giá tôm sú loại 30 con/kg đạt mức 215.000 – 220.000 đồng/kg; loại 40 con/kg giá 180.000 – 190.000 đồng/kg, tăng khoảng 15 % so với cùng kỳ. Giá tôm thẻ chân trắng dao động khoảng 105.000 - 107.000/kg (loại 100 con/kg) cao hơn khoảng 10 % so với hơn 2 tháng trước.

Giá tôm nguyên liệu tăng cao như đã nói không chỉ mang thêm nguồn lợi nhuận đáng kể mà còn tạo đà kích thích người dân xuống giống.

Hiện nay, thị trường EU và Mỹ đang nhập mạnh mặt hàng tôm để chuẩn bị cho dịp lễ, tết cuối năm dẫn đến giá tôm tăng mạnh. Tuy nhiên, thông thường chỉ đến khoảng cuối tháng 11 nhu cầu tiêu thụ tại các thị trường này sẽ giảm mạnh và giá tôm khó duy trì. Chính vì vậy, người nuôi tôm cần cân nhắc xuống giống vụ mới khi điều kiện nuôi hiện nay không thật sự thuận lợi và một vụ tôm kéo dài ít nhất 2 tháng.

Đánh giá về thị trường tôm nguyên liệu, theo Vasep, nhìn chung 9 tháng đầu năm, thị trường tôm sú tương đối ổn định, nhưng tôm thẻ chân trắng biến động khá mạnh, với mức giảm khoảng 25.000 - 30.000 đồng/kg so với thời điểm đầu năm. Nguyên nhân là giá trên thị trường thế giới thấp và sản lượng thu hoạch tại các nước sản xuất khá cao.

Số liệu mới nhất từ VASEP cho thấy giá trị xuất khẩumặt hàng này chỉ giảm 10% trong tháng 9 sau khi giảm lần 20% và 14% lần lượt trong hai tháng trước đó. Tính đến hết tháng 9, xuất khẩu mặt hàng này đạt trên 2,7 tỷ USD, giảm 3% so với cùng kỳ năm ngoái.

Về cơ cấu hàng xuất khẩu, tôm chân trắng vẫn chiếm vị trí chủ đạo với thị phần 68,4% trong 9 tháng đầu năm, với tổng giá trị xuất khẩu tăng 1% so với cùng kỳ năm ngoái. Ngược lại, xuất khẩu tôm sú giảm 7%, dẫn tới thị phần xuống còn 23,1%.

Về thị trường xuất khẩu, Liên minh châu Âu (EU) là bạn hàng lớn nhất của tôm Việt Nam, chiếm 24,7% tổng kim ngạch xuất khẩumặt hàng này. Mỹ đứng vị trí thứ ba với thị phần 18%.

Đối với thị trường Mỹ, xuất khẩu tôm giảm liên tục từ tháng 4 đến tháng 7 nhưng bắt đầu phục hồi trong hai tháng cuối cùng của quý III. Theo đó, xuất khẩumặt hàng này sang Mỹ trong 9 tháng đầu năm nay giảm 3%, đạt 472,4 triệu USD.

Theo VASEP, kết quả rà soát thuế chống bán phá giá cho tôm Việt mới nhất của Mỹ cũng như chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường này trong thời gian tới, đặc biệt là trước các dịp lễ Tết cuối năm. “Thuế chống bán phá giá giảm là điều kiện thuận lợi để tôm Việt Nam tăng khả năng cạnh tranh tại thị trường này”, Hiệp hội cho biết.

LÚA GẠO

Xuất khẩu gạo năm 2018 có thể đạt 3,3 tỷ USD

Thông tin trên được Thứ trưởng Bộ Công thương Đỗ Thắng Hải đưa ra tại hội nghị mặt hàng gạo Việt Nam được Bộ Công thương và Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) tổ chức chiều 10/10 tại Hà Nội.

Thống kê của VFA cho thấy, khối lượng gạo xuất khẩu tháng 9 năm 2018 đạt 443.000 tấn, với giá trị đạt 212 triệu USD. Điều này đã đưa khối lượng Xuất khẩu gạo 9 tháng đạt gần 5 triệu tấn với kim ngạch 2,5 tỷ USD, tăng 8,5% về khối lượng và tăng 23,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017.

Châu Á vẫn là thị trường lớn của gạo Việt Nam khi chiếm đến hơn 60% tổng khối lượng gạo xuất khẩu; tiếp đến là châu Phi. Hiện gạo Việt Nam chiếm khoảng 15% thị phần gạo thế giới và là quốc gia đứng trong top 3 nước xuất khẩu gạo lớn nhất toàn cầu. Trung Quốc vẫn tiếp tục đứng vị trí thứ nhất về thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam với 23,2% thị phần. Giá gạo xuất khẩu bình quân 9 tháng đạt 504 USD/tấn, tăng 14,6% so với cùng kỳ năm 2017.

Theo các chuyên gia, Việt Nam nhiều năm trở lại đây nổi lên là cường quốc xuất khẩu gạo. Tuy nhiên, thị trường thế giới có xu hướng ngày càng khó khăn do chính sách bảo hộ của các nước NK. Ngoài ra, một số quốc gia cũng đã và đang chú trọng đầu tư cho nông nghiệp nên sản lượng gạo ngày càng tăng, nguồn cung xuất khẩu lớn. Do đó, sự cạnh tranh của các đối thủ đối với gạo Việt Nam sẽ rất gay gắt.

Để tiếp tục giữ vững thị phần xuất khẩu gạo, đồng thời đảm bảo mục tiêu tăng trưởng trong lĩnh vực này, Thứ trưởng Bộ Công thương Đỗ Thắng Hải cho biết, Chính phủ vừa thông qua Nghị định 107/2018/NĐ-CP về xuất khẩu gạo (có hiệu lực từ ngày 1/10/2018) thay thế cho Nghị định 109/2010/NĐ-CP.

“Theo đánh giá của nhiều doanh nghiệp xuất khẩu gạo, sự thay đổi trong cơ chế, chính sách, đặc biệt là việc cắt giảm nhiều thủ tục hành chính của Nghị định 107 sẽ tạo động lực cho DN khi tham gia vào thị trường xuất khẩu. Ngoài ra, hiện các DN đã chuyển hướng kinh doanh, chú trọng hơn đến gạo chất lượng cũng như xây dựng thương hiệu. Việc này đồng nghĩa với sự liên kết của DN và nông dân chặt chẽ hơn, chuỗi giá trị từ trồng trọt, chế biến đến tiêu thụ được quan tâm hơn”, ông Hải nhận định.

Trên bình diện giá cả, theo Hiệp hội lương thực Việt Nam (VFA), trong 15 ngày đầu tháng 10, xuất khẩu gạo cả nước đạt 145.875 tấn, trị giá FOB 61,813 triệu USD, trị giá CIF 62,419 triệu USD. Tính từ đầu năm, xuất khẩugạo đã đạt 5,344 triệu tấn, trị giá FOB 2,294 tỷ USD, trị giá CIF 2,380 tỷ USD.

Cũng theo số liệu của VFA, giá lúa gạo tại ĐBSC tăng 100-150 đồng/kg tùy loại. Cụ thể, giá lúa khô tại kho khu vực ĐBSCL loại thường dao động từ 5.250 - 5.350 đồng/kg, lúa dài khoảng 5.400 - 5.500 đồng/kg.

Giá gạo nguyên liệu loại 1 làm ra gạo 5% tấm hiện khoảng 7.050 - 7.150 đồng/kg tùy từng địa phương, gạo nguyên liệu làm ra gạo 25% tấm là 6.850 - 6.950 đồng/kg tùy chất lượng và địa phương.

Giá gạo thành phẩm 5% tấm không bao bì tại mạn hiện khoảng 7.850 - 7.950 đồng/kg, gạo 15% tấm 7.500 - 7.600 đồng/kg và gạo 25% tấm khoảng 7.300 - 7.400 đồng/kg tùy chất lượng và địa phương.

CÀ PHÊ

Xuất khẩu cà phê mang về gần 3 tỷ USD trong 10 tháng đầu năm

Bộ Công thương cho biết, thị trường cà phê trong nước lạc quan với giá tăng và nguồn hàng lưu kho trong nhiều tháng trước đã được bán hết. Giá cà phê tại thị trường trong nước tăng trong 10 ngày giữa tháng 10/2018 với mức tăng từ 2,2% đến 3,7%.

Ngày 20/10/2018, giá cà phê Robusta nhân xô tại một số tỉnh/huyện khu vực khảo sát có mức thấp nhất là 36.700 đồng/kg tại các huyện Di Linh và Lâm Hà (Lâm Đồng) – mức cao nhất là 37.200 đồng/kg tại huyện Cư M’gar. Tại các kho quanh khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, cà phê Robusta loại R1 có mức giá 39.200 đồng/kg, tăng 4,3% so với ngày 10/10/2018. Đến ngày 31/10, giá cà phê đứng ở các tỉnh Tây Nguyên xuống còn 35.500 - 36.000 đồng/kg, theo trang giacaphe.com. Trong đó, giá cà phê tỉnh Lâm Đồng thấp nhất ở mức 35.500 đồng/kg và cao nhất là tại Gia Lai đạt 36.000 đồng/kg.

Trong 15 ngày đầu tháng 10/2018, giá xuất khẩu bình quân mặt hàng cà phê đạt 1.775 USD/tấn, tăng 2,7% so với 15 ngày đầu tháng 9/2018, nhưng vẫn thấp hơn 24% so với cùng kỳ năm 2017. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/10/2018, giá xuất khẩu bình quân cà phê đạt 1.895 USD/tấn, thấp hơn16,5% so với cùng kỳ năm 2017.

Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, xuất khẩu cà phê 15 ngày đầu tháng 10/2018 đạt 63,1 nghìn tấn, trị giá 112 triệu USD, tăng 6,4% về lượng và tăng 9,3% về trị giá so với 15 ngày đầu tháng 9/2018, so với cùng kỳ năm 2017 tăng mạnh 78,7% về lượng và tăng 35,8% về trị giá.

Lũy kế từ đầu năm đến nửa đầu tháng 10/2018, xuất khẩu cà phê đạt 1,51 triệu tấn, trị giá 2,862 tỷ USD, tăng 20,5% về lượng và tăng 0,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

Theo số liệu thống kê từ Hiệp hội Thương mại Quốc tế Hàn Quốc, nhập khẩu cà phê của nước này trong 9 tháng năm 2018 đạt 117.999 tấn, trị giá 476,45 triệu USD, giảm 2,0% về lượng và giảm 3,8% về trị giá so với 9 tháng năm 2017.

Việt Nam là thị trường cung cấp cà phê lớn nhất cho Hàn Quốc trong 9 tháng năm 2018, đạt 23,1 nghìn tấn, trị giá 45 triệu USD, giảm 15,7% về lượng và giảm 23,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017. Thị phần cà phê của Việt Nam trong tổng nhập khẩu của Hàn Quốc giảm từ mức 22,8% trong 9 tháng năm 2017, xuống còn 19,6% trong 9 tháng năm 2018. 

HẠT TIÊU

Giá hồ tiêu chạm mức thấp nhất trong 10 năm

Mặc dù mấy ngày đầu tháng 10/2018, do thị trường nhập khẩu có nhu cầu nên giá hạt tiêu trong nước có biến động tăng nhẹ và duy trì đến nay. Tuy nhiên, mức tăng đó chưa thể bù đắp mức giá giảm sâu trong suốt cả thời gian qua.

Giá tiêu ở khu vực Tây Nguyên và miền Nam hôm 16/10 đi ngang nhưng vẫn có giá cao nhất 3 tháng qua, dao động ở mức từ 54.000 - 56.000 đồng/kg. Trong đó, giá tiêu tại Gia Lai tăng 1.500 đồng/kg và ở mức 53.500 đồng/kg. Giá tiêu tại Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 1.000 đồng/kg, lên mức 55.000 đồng/kg. Tại Đắk Lắk, Đắk Nông và Bình Phước giá tiêu vẫn đứng ở mức 53.000 đồng/kg. Giá tiêu tại Đồng Nai không tăng và đang giữ ở mức 52.000 đồng/kg và đây vẫn là địa phương có mức giá tiêu thấp nhất.

Đến thời điểm cuối tháng 10,  tại Đăk Lăk, Gia Lai, Đăk Nông và Bình Phước giá đạt mức 60.000 đồng/kg, riêng Bình Phước đạt 61.000 đồng/kg. Tại Bà Rịa – Vũng Tàu và Đồng đứng ở mức lần lượt 61.000 đồng/kg và 58.000 đồng/kg.

Theo các thương nhân, giá tiêu thế giới đang ở chế độ điều chỉnh đã chạm mức thấp nhất trong 10 năm và duy trì mức này cho đến khi nguồn cung mới từ Ấn Độ và Việt Nam được đưa vào thị trường. Ngoài ra, sản lượng tiêu toàn cầu cũng được ước tính sẽ giảm vào năm 2019, theo nhận định Cộng đồng Tiêu dùng quốc tế (IPC).

Theo Cục Xuất nhập khẩu - Bộ Công Thương, những ngày đầu tháng 10/2018, nhu cầu tiêu xuất khẩu tăng và thời tiết mưa nhiều đã hỗ trợ giá hạt tiêu trong nước có biến động tăng. Tuy nhiên, trong tháng 9/2018, giá tiêu trong nước diễn biến theo xu hướng giảm do nguồn cung lớn. So với cuối năm 2017, giá tiêu tại Bà Rịa - Vũng Tàu và Gia Lai giảm 21.000 đồng/kg, tại Đắk Lắc, Đắk Nông và Đồng Nai giảm 22.000 đồng/kg.

Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, xuất khẩu hạt tiêu tháng 9/2018 đạt 17.500 tấn, trị giá 50,65 triệu USD, giảm 21,3% về lượng và giảm 22,2% về kim ngạch so với tháng 8/2018. So với cùng kỳ năm ngoái, tăng 30,2% về lượng, nhưng giảm 21,3% về kim ngạch.

Lũy kế 9 tháng năm 2018, xuất khẩu hạt tiêu đạt 193.000 tấn, kim ngạch đạt 634,67 triệu USD, tăng 6,8% về lượng, nhưng giảm 34,2% về kim ngạch so với 9 tháng năm 2017. Các thị trường xuất khẩu tiêu lớn nhất của Việt Nam là Hoa Kỳ, Ấn Độ, Pakistan và Đức với 36,1% thị phần.

Tháng 9/2018, giá xuất khẩu bình quân mặt hàng hạt tiêu đạt 2.898 USD/ tấn, giảm 1,3% so với tháng 8 và giảm 39,7% so với tháng 9/2017. Riêng giá xuất khẩu bình quân hạt tiêu sang các thị trường Hà Lan, Malaysia, Canada, Italia, Pháp, Ba Lan có tăng hơn so với tháng 8/2018.

Hiện nhu cầu từ các nước nhập khẩu tiêu vẫn ở mức thấp trong khi nguồn cung từ các nước sản xuất vẫn tiếp tục được bổ sung, nhất là khi Indonesia, Malaysia, Brazil, Sri Lanka đã thu hoạch vụ mới và Việt Nam được dự báo sẽ được mùa năm 2019 cho nên giá tiêu khó phục hồi trong các tháng cuối năm 2018, và giá hồ tiêu sẽ tiếp tục ở mức thấp trong 2 năm 2018  và 2019, chỉ có thể phục hồi vào đầu năm 2020.

Tuy nhiên, dự báo là vậy nhưng trên thực tế có một số vùng ở Tây Nguyên do mưa lớn suốt một thời gian dài, giờ nắng lên, nhiều ha hồ tiêu đồng loạt chết. Không ít chủ vườn đang phải đối mặt với một khoản nợ lớn.

HẠT ĐIỀU

Tính đến 15/10, xuất khẩu hạt điều đạt gần 2,7 tỷ USD

Theo số liệu của Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương), xuất khẩu hạt điều đạt 271,7 nghìn tấn, trị giá 2,536 tỷ USD trong 9 tháng đầu năm. Theo đó, lượng xuất khẩu hạt điều trong 9 tháng tăng 5,5%, song lại giảm 0,7% về trị giá.

Cũng theo thống kê, trong nửa đầu tháng 10, xuất khẩu hạt điều đạt 14,5 nghìn tấn, trị giá 123,83 triệu USD. Lũy kế từ đầu năm đến hết ngày 15/10/2018, xuất khẩu hạt điều đạt 286 nghìn tấn, trị giá 2,659 tỷ USD, tăng 4,8% về lượng, nhưng giảm 1,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

Trong 15 ngày đầu tháng 10, giá xuất khẩu bình quân hạt điều ở mức 8.530 USD/tấn, tăng 0,3% so với 15 ngày đầu tháng 9, nhưng giảm 14,8% so với 15 ngày đầu tháng 10/2017.

Lũy kế từ đầu năm đến 15/10, giá xuất khẩu bình quân hạt điều đạt mức 9.294 USD/tấn, tăng 0,4% so với cùng kỳ năm 2017.

Trong tháng 9, lượng hạt điều xuất khẩu sang nhiều thị trường trọng điểm giảm so với cùng kỳ năm 2017, như Mỹ, Trung Quốc, Hà Lan, Đức. Trong khi xuất khẩu hạt điều sang thị trường Canada tăng mạnh 42,5% về lượng và 20,2% về trị giá.

9 tháng xuất khẩu hạt điều sang Mỹ tăng 12,4% về lượng và tăng 4,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017, đạt 104.000 tấn, trị giá 973 triệu USD. Trong khi đó, xuất khẩu hạt điều sang Trung Quốc giảm 1,3% về lượng và giảm 7,1% về trị giá, đạt 30.200 tấn, trị giá 275 triệu USD.

CAO SU

Xuất khẩu cao su nửa đầu tháng 10 tăng mạnh 

 

Xuất khẩu cao su nửa đầu tháng 10 gặp thuận lợi. Tuy nhiên, Cục xuất nhập khẩu nhận định giá cao su trong nước thời gian tới nhiều khả năng sẽ tiếp tục giảm bởi căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc và tồn kho cao su vẫn ở mức cao.  

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, trong 15 ngày đầu tháng 10, lượng cao su xuất khẩu đạt 91.9200 tấn, trị giá 119,02 triệu USD, tăng 21,8% về lượng và tăng 22% về trị giá so với 15 ngày trước đó.

Nếu so với 15 ngày đầu tháng 10/2017, xuất khẩu cao su tăng 95,3% về lượng và tăng 61% về trị giá. Tính từ đầu năm đến hết ngày 15/10, lượng cao su xuất khẩu đạt 1,12 triệu tấn, trị giá đạt 1,54 tỷ USD, tăng 12,4% về lượng, nhưng vẫn giảm 8,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

Giá xuất khẩu cao su trung bình 15 ngày đầu tháng 10 ở mức 1.295 USD/tấn, tăng 0,1% so với mức giá xuất khẩu trung bình 15 ngày trước đó, nhưng giảm 17,6% so với mức giá xuất khẩu trung bình 15 ngày đầu tháng 10/2017.

Lũy kế đến ngày 15/10, giá xuất khẩu cao su trung bình ở mức 1.374 USD/tấn, thấp hơn 18,8% so với mức giá xuất khẩu trung bình cùng kỳ năm 2017.

Trong 10 ngày giữa tháng 10, giá mủ cao su nguyên liệu tại Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh ở mức thấp. Công ty cao su Phú Riềng báo giá thu mua mủ tạp và mủ nước giảm nhẹ, giảm 3 đồng/độ TSC so với 10 ngày trước đó, hiện giao dịch ở mức 247 đồng/độ TSC đối với mủ tạp và 257 đồng/độ TSC đối với mủ nước.

Cục xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) nhận định giá cao su trong nước thời gian tới nhiều khả năng sẽ tiếp tục giảm bởi căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc và tồn kho cao su vẫn ở mức cao. Các doanh nghiệp xuất khẩu cao su của Việt Nam có thể sẽ phải đối mặt với khó khăn do nhu cầu từ Trung Quốc giảm.

(TTGCVT /T.Hiền tổng hợp) 

 

 

Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (024) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (024) 39762593 
Email:ttgcvattu1989@gmail.com