Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Thị trường hàng hóa nguyên liệu trong nước tháng 9/2018
Cập nhật: 1-10-2018

VÀNG

Giá vàng không có bứt phá về giá trong tháng 9


Trong tuần đầu tiên sau kỳ nghỉ lễ quốc khánh, giá vàng trong nước chưa tìm được sức bật tăng, dù giá trong nước đã bắt nhịp cùng với diễn biến của giá vàng thế giới. Lượng giao dịch vừa và nhỏ, hầu như không có nhiều các giao dịch đột biến. Trong suốt các phiên trong tuần, giá vàng chỉ ở quanh ngưỡng từ 36,59 – 36,79 (mua vào – bán ra). Cùng song hành với xu hướng giảm của vàng thế giới, nhiều nhà đầu tư kỳ vọng trong ngắn hạn thị trường sẽ ghi nhận những đợt sóng rõ ràng hơn để có nhiều cơ hội tham gia thị trường vàng. Với mốc giá kết thúc tuần vào sáng 7/9 ở mức 36,60 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,79 triệu đồng/lượng (bán ra), giá vàng trong nước đang cao hơn giá thế giới khoảng 3,3 triệu đồng/lượng.

Bước sang tuần thứ 2, giá vàng trong nước không biến động nhiều trong khi giá vàng quốc tế luôn tạo ra những hiệu ứng tăng, giảm linh hoạt. Giá mua vàng chủ yếu xoay quanh mức 36,55 triệu đồng/lượng và giá bán ra ở mức 36,75 triệu đồng/lượng. Với diễn biến trầm lắng về giá, nhà đầu tư trong nước cũng khá thận trọng với quyết định giao dịch. Nhu cầu trong nhiều phiên chủ yếu theo chiều khách đi mua vàng chiếm tỷ lệ  khoảng 65% trên tổng lượng khách tham gia giao dịch. Kết thúc tuần, vào sáng 14/9, giá vàng SJC của công ty VBĐQ Sài Gòn đứng ở mức 36,54 – 36,72 triệu đồng/lượng. Với mức giá này, giá vàng trong nước đang cao hơn giá thế giới khoảng 3,2 triệu đồng/lượng. 

Trung tuần tháng 9, giá vàng tiếp tục ghi nhận sự ít dịch chuyển về giá. Giá mua vàng qua các phiên chủ yếu ở mức trên 36,5 triệu đồng/lượng và giá bán ra ở khoảng 36,7 triệu đồng/lượng. Tuy nhiên động thái của khách hàng có sự đan xen đa sắc màu hơn, nhìn chung lượng mua chiếm phần lớn trong các phiên giao dịch với khoảng 65%. Vào sáng 21/9, phiên kết thúc tuần, giá vàng SJC của công ty VBĐQ Sài Gòn đứng ở mức 36,55 – 36,72 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra). Với mức giá này giá vàng trong nước đang cao hơn giá vàng thế giới khoảng 3,3 triệu đồng một lượng. 

Tuần cuối cùng của tháng, giá vàng có xu hướng giảm nhẹ khi giá chỉ xoay quanh mốc khoảng 36,4 triệu đồng/lượng (chiều mua vào) và xấp xỉ 36,6 triệu đồng/lượng (chiều bán ra). Trong tuần này, các chuyên gia cho rằng, ở thời điểm nhạy cảm khi thị trường thế giới vẫn chấp chới đan xen xu hướng tăng giảm do ảnh hưởng cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung, các nhà đầu tư trong nước nên giao dịch cân đối an toàn, nhằm tối ưu hoá lợi nhuận.

ĐÔ LA

Mức cao nhất của tỷ giá trung tâm trong tháng 9 là 22.717 đồng/USD

Tiếp theo xu hướng biến động của tỷ giá trung tâm trong tháng 8 và đặc biệt là sự lên xuống của đồng USD trên thị trường tài chính thế giới, trong tháng 9/2018 tỷ giá trung tâm của ngân hàng nhà nước vẫn nằm trong trạng thái liên tục tăng cao. Đặc biệt, giá giao dịch USD tại các ngân hàng thương mại luôn bám sát sự biến động của tỷ giá trung tâm để điều chỉnh cho phù hợp. Tuy nhiên, nhìn chung giá giao dịch đồng bạc xanh vẫn nằm trong ngưỡng ổn định và có kiểm soát.

Trong tuần đầu tháng 9, tỷ giá trung tâm có đến 3 phiên được NHNN công bố ở mốc 22.688 đồng/USD và 1 phiên 22.686 đồng/USD. Giá giao dịch USD tại các NHTM biến động nhẹ, phổ biến ở mức 23.270 đồng (mua) và 23.350 đồng (bán). Giá USD trên thị trường chợ đen đứng ở mức: 23.450 - 23.475 đồng/USD.  

Bước sang tuần 2, tỷ giá trung tâm đã có một ngày lập đỉnh mới khi được NHNN công bố ở mức 22.703 đồng/USD (sáng 11/9). Các ngày tiếp theo, tỷ giá trung tâm có xu hướng giảm nhẹ. Mức thấp nhất là 22.690 (sáng 14/9). Tại các NHTM, giá giao dịch USD biến động. Đầu giờ sáng 14/9, đa số ngân hàng thương mại giảm tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ bớt 10-15 đồng so với cuối phiên liền trước, phổ biến ở mức 23.220 đồng (mua) và 23.300 đồng (bán). 

Thông tin cuộc chiến tranh thương mại trên thị trường tài chính thế giới leo thang đã khiến cho đồng USD tiếp tục vững giá, tỷ giá trung tâm của NHNN đã có một tuần thứ 3 liên tục tăng. Vào phiên đầu tuần, tỷ giá đứng ở mức thấp nhất tuần khi được NHNN công bố ở mức 22.690 đồng/USD. Vào sáng 21/9, kết thúc tuần, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 22.712 đồng/USD. Tại các NHTM, giá giao dịch USD biến động. Giá USD giao dịch sáng 21/9 đa số được các ngân hàng công bố ở mức phổ biến là 23.280 đồng (mua) và 23.360 đồng (bán). Giá USD trên thị trường chợ đen đứng ở mức: 23.365 - 23.385 đồng/USD. 

Tuần cuối cùng, cũng là tuần thiết lập mức tỷ giá trung tâm cao nhất tháng 9 khi vào ngày 26/9, Ngân hàng NN công bố tỷ giá đứng ở mức 22.717 đồng/USD. Với mức công bố trên, giá giao dịch đồng bạc xanh tại các NHTM cũng được điều chỉnh với mức phổ biến là 23.310 đồng (mua) và 23.390 đồng (bán). Giá USD trên thị trường chợ đen đứng ở mức: 23.380 - 23.410 đồng/USD.

THÉP XÂY DỰNG

Giá thép xây dựng không có biến động

Tính đến hết tháng 8/2018, kim ngạch xuất khẩu sắt thép tăng mạnh gần 41% về lượng so với cùng kỳ năm 2017, đạt 4,05 triệu tấn, tương đương 2,99 tỷ USD. Những con số nêu trên cho thấy, trải qua 9 tháng đầu năm 2018, việc sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thép trong nước tăng trưởng khá tốt.

Tuy nhiên, để đáp ứng được hết công suất thiết kế của DN thép trong nước là điều còn rất xa vời, vì tính trung bình sản xuất của cả ngành thép hiện nay chỉ chạy được khoảng trên 70% công suất thiết kế, tương ứng với dự báo tiêu thụ, tránh tình trạng để tồn kho nhiều. Nguyên nhân các DN trong nước chưa chạy hết 100% thiết kế chính là sức ép tiêu thụ từ hàng nhập khẩu vẫn nhiều, tính từ 1/1/2018 đến 31/8/2018, lượng nhập khẩu sắt thép các loại đạt 9,29 triệu tấn, trị giá 6,72 tỷ USD, giảm 10,6% về lượng nhưng tăng 11% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

Trung Quốc là thị trường hàng đầu cung cấp sắt thép cho Việt Nam, 8 tháng đầu năm, lượng sắt thép nhập từ Trung Quốc dù đã giảm 15,9% về lượng nhưng tăng 8% về kim ngạch, đạt 4,35 triệu tấn, trị giá 3,13 tỷ USD, chiếm 47% trong tổng lượng và tổng kim ngạch nhập khẩu sắt thép của cả nước. 

 

Trong việc duy trì thị phần, các DN vẫn đang phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các nhà sản xuất. Theo đó, các DN vẫn rất cần biện pháp kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ đầu vào về chất lượng cho hàng nhập khẩu, giúp thị trường thép kinh doanh lành mạnh, người tiêu dùng tránh mua phải hàng kém chất lượng. 

Vì đang ở trong mùa xây dựng, sản xuất của ngành vẫn duy trì được mức tăng trưởng. Tính chung 8 tháng đầu năm 2018, lượng sắt thép thô tăng 37,6%; thép cán tăng 6,1%; thép thanh, thép góc tăng 8,9% so với cùng kỳ. Số liệu từ Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) cũng cho thấy, cùng với việc tăng trưởng sản xuất, lượng hàng sắt thép bán ra trong tháng 8 đạt 210.384 tấn, tăng 10,84% so với tháng trước, tăng nhẹ 1% so với cùng kỳ năm 2017.

Dù sản xuất và tiêu thụ tương đối khả quan, Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) vẫn lo ngại vì doanh nghiệp đang phải đối mặt với nhiều vụ điều tra bán phá giá từ các nước nhập khẩu. Số liệu từ Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương) cho thấy, từ đầu tháng 8 đến nay, ngành thép Việt Nam đã liên tiếp phải đối mặt với gần 10 vụ kiện phòng vệ thương mại. Tốc độ các vụ kiện tăng chóng mặt (1 tháng 8 vụ, 7 thị trường khởi kiện) khiến các doanh nghiệp không tránh khỏi lo lắng.

Trên bình diện giá cả, giá thép xây dựng trong tháng 8 và tháng 9/2018 nhìn chung không có biến động. Giá bán lẻ tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung ở mức 12.400 – 14.800 đồng/kg, các tỉnh miền Nam ở mức 13.000 – 15.200 đồng/kg.

XI MĂNG

Xuất khẩu xi măng tăng mạnh

Theo số liệu cập nhật của Vụ Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng) chỉ tính riêng trong tháng 9/ 2018 ước tính sản phẩm xi măng tiêu thụ ở cả thị trường nội địa và xuất khẩu đạt khoảng 7,88 triệu tấn, tăng 14% so với cùng kỳ năm 2017.

Trong đó, sản lượng tiêu thụ thị trường nội địa tháng 9/2018 khoảng 5,68 triệu tấn, tăng 3% với tháng 9/2017, riêng Tổng công ty Công nghiệp xi măng Việt Nam (Vicem) tiêu thụ ước đạt khoảng 2,03 triệu tấn.

Với thị trường xuất khẩu, sản lượng xuất khẩu sản phẩm xi măng tháng 9/2018 ước đạt khoảng 2,20 triệu tấn, tăng tới 43% so với cùng kỳ năm 2017.

Lũy kế 9 tháng năm 2018 đã có 72,82 triệu tấn sản phẩm xi măng được tiêu thụ ,tăng 38% so với cùng kỳ năm 2017 và đạt 85% kế hoạch của cả năm. Trong đó tiêu thụ sản phẩm nội địa đạt 49,54 triệu tấn và xuất khẩu đạt 23,28 triệu tấn.

Như vậy so với mục tiêu kế hoạch đề ra, đến nay sản lượng xuất khẩu sản phẩm xi măng đã về đích sớm và vượt từ 3 – 4 triệu tấn (kế hoạch xuất khẩu cả năm 2018 từ 18- 19 triệu tấn).

Do thời tiết thuận lợi và nhu cầu xây dựng của người dân tăng trở lại, giá bán xi măng trong tháng 9/208 có xu hướng tăng nhẹ. Giá bán trung bình của loại xi măng bao PCB30 là 1,18 triệu đồng/tấn, loại PCB40 là 1,34 triệu đồng/tấn.

Trong tháng 9/2018, xuất khẩu xi măng cũng phải đối mặt với một thông tin bất lợi đó là việc Philippines khởi xướng điều tra tự vệ đối với xi măng nhập khẩu từ Việt Nam. Cụ thể, Sản phẩm bị điều tra: sản phẩm xi măng có mã HS: 2523.2990 và 2523.9000. Thời kỳ điều tra để xem xét lượng tăng nhập khẩu, thiệt hại từ năm 2013 – 2017. Theo cáo buộc của cơ quan điều tra, trong giai đoạn từ 2013 – 2017, lượng xi măng nhập khẩu vào Philippines đã gia tăng đáng kể. Tổng lượng xi măng nhập khẩu đã tăng 70% trong năm 2014; 4,391% năm 2015; 549% năm 2016, 72% năm 2017.

Theo quy định, các bên liên quan là các doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu, tổ chức trong và ngoài Phi-líp-pin có quyền bày tỏ quan điểm, bình luận về vụ việc (bao gồm quan điểm bình luận về tác động của việc áp dụng biện pháp đối với lợi ích công chúng). Ngoài ra, Bộ Thương mại và Công nghiệp Philippines (DTI) cũng thông báo sẽ yêu cầu các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam (đã được cơ quan điều tra xác định) trả lời bản câu hỏi điều tra trong vụ việc. 

XĂNG DẦU

Giá xăng dầu tăng hơn 700 đồng mỗi lít ở cả hai kỳ điều chỉnh

Sau hai tháng giữ nguyên, trong kỳ điều chỉnh đầu tiên của tháng 9/2018 vào 15h chiều 6/9, giá xăng dầu đã tăng. Theo đó, giá xăng tăng 300 đồng mỗi lít với E5 RON 92 và RON 95, chấm dứt hai tháng liên tục được giữ ổn định. Sau điều chỉnh mỗi lít xăng E5 RON 92 có giá 19.910 đồng và RON 95 là 21.470 đồng. Các mặt hàng dầu cũng tăng 173 - 383 đồng một lít, kg tùy loại. Cụ thể, dầu diesel có giá tối đa 18.069 đồng; dầu hỏa là 16.559 đồng và madut không cao hơn 14.916 đồng một kg.

Cùng với tăng giá, nhà điều hành tiếp tục dùng Quỹ bình ổn giá để kìm mức tăng không quá lớn với các mặt hàng nhiên liệu. Mức chi thêm quỹ trong kỳ này với xăng là 263-291 đồng một lít, dầu là 300 đồng một lít,kg.

Giá etanol E100 đưa vào tính giá cơ sở xăng E5 RON92 theo công văn điều hành của Bộ Tài chính là 14.874,6 đồng một lít (chưa gồm thuế VAT).

Trong kỳ điều chỉnh lần thứ 2, vào 15h chiều ngày 21/9, giá xăng dầu lại tiếp tục tăng. Cụ thể, xăng E5 RON92 tăng 320 đồng/lít; xăng RON95-III tăng 293 đồng/lít; dầu diesel 0.05S tăng 57 đồng/lít; dầu hỏa tăng 124 đồng/lít; dầu mazut tăng 26 đồng/kg.

Sau khi điều chỉnh, mức giá mới của xăng E5 RON92 không cao hơn 20.231 đồng/lít; xăng RON95-III không cao hơn 21.770 đồng/lít; dầu diesel 0.05S không cao hơn 18.126 đồng/lít; dầu hỏa không cao hơn 16.683 đồng/lít; Giá dầu mazut không cao hơn 14.942 đồng/kg.

Để kiềm chế mức tăng giá xăng dầu, tại kỳ điều hành này, liên bộ cũng tiếp tục chi mạnh quỹ bình ổn giá xăng dầu. Cụ thể xăng E5 RON92 chi 1.563 đồng/lít; xăng RON95 chi 960 đồng/lít, dầu diesel chi 400 đồng/lít, dầu hỏa chi 300 đồng/lít.

Do xăng dầu ngày càng chịu thêm sức ép mới nên ngày 20/9, Ủy  ban Thường vụ Quốc hội đã biểu quyết thông qua dự thảo Nghị quyết về biểu thuế bảo vệ môi trường với xăng dầu.

Theo đó, thuế môi trường với xăng tăng thêm 1.000 đồng/lít, lên kịch khung 4.000 đồng.

Các mặt hàng dầu cũng đồng loạt tăng thuế môi trường. Dầu hoả sẽ chịu thuế môi trường 1.000 đồng một lít từ đầu năm sau, tăng 700 đồng so với hiện nay. Dầu diesel tăng từ 1.500 đồng/lít lên kịch trần 2.000 đồng/lít. Ngoài ra, thuế môi trường với dầu nhờn, mỡ nhờn, dầu madut cũng tăng lên 2.000 đồng một lít, từ mức 900 đồng hiện hành.

Chỉ vài tháng nữa, tức là từ 1/1/2019 mức thuế mới này sẽ được áp dụng, cho nên giá xăng dầu chắc chắn sẽ tăng tương ứng.

GAS

Gas tăng 10.000 đồng/bình 12kg từ 1-9

Theo thông tin từ các doanh nghiệp kinh doanh gas đầu mối, từ ngày 1/9, giá gas bán lẻ của các hãng sẽ tăng 833 đồng/kg (đã bao gồm VAT), tương đương mức tăng 10.000 đồng/bình 12 kg. Với sự điều chỉnh này, giá gas bán lẻ tối đa đến người tiêu dùng sẽ lên mức 367.000 đồng/bình 12 kg.

Việc giá gas bán lẻ tăng được đại diện công ty Công ty Gas Saigon Petro cho biết, do giá gas thế giới bình quân trong tháng 9 là 617,5 USD/tấn, tăng 30 USD/tấn so với mức giá của tháng 8.

Đại diện một số doanh nghiệp gas đầu mối cũng cho biết, tỷ giá VND/USD biến động trong những ngày qua cũng ảnh hưởng đến giá bán lẻ của các doanh nghiệp.

Tính chung trong vòng bốn tháng qua, giá gas trong nước đã tăng tổng cộng khoảng 50.000 đồng/bình 12 kg.

Ô TÔ

Giá xe ô tô tăng giảm trái chiều trong tháng 9/2018

Thị trường ô tô Việt Nam tháng 9 bắt đầu với rất nhiều sự xáo trộn, giá xe diễn biến trái chiều. Trong khi một số mẫu xe được giảm giá mạnh thì một số mẫu xe khác lại tăng giá bán. Đơn cử như Ford Việt Nam đã chính thức giới thiệu mẫu Ford Everest 2018 mới. So với phiên bản cũ, Everest mới có giá bán thấp hơn khoảng 500 triệu đồng. Hay như mẫu sedan hạng B Chevrolet Aveo khi giảm giá bán tới 80 triệu đồng. Tuy nhiên, trong khi Ford Everest 2018 và hàng loạt mẫu xe Chevrolet được giảm giá thì một số mẫu xe khác lại tăng giá bán. Giá nhiều mẫu xe thuộc dạng hàng "hot" của Toyota như Vios, Fortuner hay Hilux đều tăng mạnh. Cụ thể, Toyota Fortuner và Hilux có giá bán tăng từ 22-45 triệu đồng so với cuối năm trước…

Việc giá xe ngay từ đầu tháng tăng, giảm trái chiều cho thấy diễn biến khó lường của thị trường ô tô Việt. Cùng với đó là việc nhiều mẫu xe mới dồn dập ra mắt với giá bán giảm đáng kể cho thấy cuộc đua doanh số giữa các hãng xe thời gian tới sẽ càng thêm gay cấn. Sau hai quý ảm đạm về sản phẩm mới trên thị trường ôtô, cuối quý III, các hãng đồng loạt tung ra mẫu xe mới. Chỉ trong 2 tháng là tháng 8 và 9, thị trường đón nhận  mẫu15 xe mới, phiên bản nâng cấp của các hãng. Lượng xe mới dồi dào như một cuộc chạy đua, con số này thậm chí tương đương với trung bình số xe giới thiệu những năm trước.

Xe lắp ráp chỉ chiếm 3 mẫu, trong khi đó, sau khi hoàn tất các giấy tờ nhập khẩu xe theo quy định, ôtô nhập khẩu xuất hiện nhiều, chiếm đến 12 mẫu. Sự trở lại của xe nhập khẩu giúp người dùng có thêm nhiều lựa chọn ở các phân khúc khác nhau. 

Sự xuất hiện nhiều hơn của các dòng xe nhập khẩu là điều được tiên đoán trước, khi các doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu trong Nghị định 116. Tuy nhiên, việc nhập khẩu nguyên chiếc khiến nguồn cung phải phụ thuộc vào nhà máy ở nước ngoài. Thị trường sôi động nhưng chưa chắc người dùng đã hưởng lợi khi mua các dòng xe có cầu vượt cung.

Báo cáo của Tổng cục Hải quan cho thấy, lượng xe ô tô nhập khẩu liên tục tăng trong những tháng gần đây. Cụ thể, số lượng ô tô nhập về nhiều nhất vào tháng 8/2018 với 9.893 chiếc, gần bằng với tổng số xe nhập khẩu trong 6 tháng đầu năm 2018 (hơn 12.000 xe). Nếu tính trong hai tháng 7 và 8, số xe nhập khẩu đã lên tới gần 16.500 xe. Con số này dự kiến sẽ còn tăng mạnh trong những tháng tiếp theo khi mà ô tô từ nhiều quốc gia khác đã có thể vượt qua các thủ tục theo quy định mới.

Trong báo cáo mới nhất của Hiệp hội Các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), trong tháng 8/2018, doanh số bán hàng của toàn thị trường đạt 20.504 xe, giảm 4% so với tháng 7/2018, giảm 7% so với tháng 8/2017. Trong số 20.504 xe mới bán ra, bao gồm 13.815 xe du lịch (giảm 2%); 6.313 xe thương mại (giảm 9%) và 376 xe chuyên dụng (giảm 4% so với tháng trước).

Sản lượng tiêu thụ của xe lắp ráp trong nước đạt 14.875 xe, giảm 18% so với tháng trước và số lượng xe nhập khẩu nguyên chiếc là 5.629 xe, tăng 66% so với tháng trước.

Tính từ đầu năm đến hết tháng 8/2018, doanh số bán xe nhập khẩu vẫn giảm 41%, còn xe lắp ráp trong nước tăng 10% so với cùng kỳ năm ngoái. Kết quả doanh số này khiến tổng doanh số bán hàng của toàn thị trường trong 8 tháng đầu năm 2018 vẫn đang giảm 5% so với cùng kỳ năm 2017.

Về thương hiệu, dẫn đầu thị trường hiện nay vẫn là Hyundai Thành Công với con số 5.573 xe, đứng thứ hai là Toyota với 4.729 xe. Honda Việt Nam đứng thứ 3 với 2.125 xe, Vinamazda bán được 2.025 xe, đứng ở vị trí số 4. 

Trong tháng 9/2018, một thông tin được nhiều người quan tâm đó là việc Bộ Tài chính đề xuất tăng phí trước bạ ôtô bán tải. Với đề xuất điều chỉnh phí trước bạ của Bộ Tài chính, nếu mua một chiếc ôtô bán tải trị giá 600 triệu đồng, người mua sẽ phải trả phí trước bạ gấp từ 3 đến 4,5 lần so với hiện nay.

Theo tính toán của Bộ Tài chính, giai đoạn vừa qua (2012-2017) số lượng xe bán tải, gồm cả xe chở hàng và xe chở người (nhập khẩu và sản xuất, lắp ráp trong nước) tăng theo từng năm, đặc biệt tốc độ tăng trưởng nhập khẩu nhanh (xe bán tải nhập khẩu năm 2017 là 28.482 chiếc, tăng 8,7 lần).Bộ Tài chính cho rằng, việc tăng lệ phí trước bạ đối với dòng xe sẽ góp phần đảm bảo quản lý nhà nước đối với xe bán tải chở hàng và ô tô tải (VAN) có khối lượng chuyên chở nhỏ hơn 1,5 tấn và có từ 5 chỗ ngồi trở xuống; góp phần điều tiết hạn chế sử dụng phương tiện giao thông tại các thành phố lớn; đảm bảo tính đồng bộ của pháp luật về lệ phí trước bạ, nâng cao tính pháp lý của quy định hiện hành về lệ phí trước bạ đối với các trường hợp chuyển nhượng ôtô, xe máy mang biển ngoại giao chuyển nhượng cho tổ chức, cá nhân khác.

THỦY SẢN 

Cá tra nguyên liệu sốt giá

Bộ Công thương cho biết, ước tính, tháng 8/2018 lượng thủy sản xuất khẩu đạt 177,7 nghìn tấn, trị giá 800 triệu USD, giảm 10,2% về lượng và giảm 4,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017. Tính chung 8 tháng đầu năm 2018, xuất khẩu thủy sản ước đạt 1,282 triệu tấn, trị giá 5,526 tỷ USD, giảm 1,1% về lượng, nhưng tăng 6,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

Về ngành hàng, trong tháng 8/2018, giá cá tra nguyên liệu xuất khẩu tại nhiều địa phương vùng ĐBSCL giảm so với những tháng đầu năm 2018. Giá cá tra nguyên liệu có xu hướng giảm từ tháng 6-2018 và tháng 8/2018 ở mức phổ biến từ 26.000-28.000 đồng/kg.

Tuy nhiên, kể từ tuần cuối tháng 8/2018, giá cá tra nguyên liệu tại tỉnh An Giang có xu hướng tăng trở lại do nhu cầu thu mua cá nguyên liệu sản xuất cho xuất khẩu sang thị trường Mỹ và EU tăng, đặc biệt là cá tra có kích thước nhỏ. Cụ thể, giá cá tra thịt trắng dao động từ 28.000 đến 30.000 đồng/kg, tăng từ 3.000 - 4.000 đồng/kg so với tuần trước đó và tăng 3.500 - 4.500 đ/kg so với cùng kỳ năm 2017. Cá tra thịt hồng có giá dao động từ 26.500 đến 27.800 đồng/kg, tăng 2.500 - 3.000 đồng/kg so với tuần trước đó và tăng 3.000 - 3.800 đ/kg so với cùng kỳ năm 2017.

Bước sang tháng 9, do các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu tăng thu mua nên giá cá tra nguyên liệu tiếp tục tăng. Cụ thể, cá tra thịt trắng có giá dao động từ 32.000 - 34.000 đồng/kg, tăng 4.000 đồng/kg so với tuần trước đó và tăng 6.500 - 7.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước; cá tra thịt hồng có giá dao động từ 30.500 - 32.000 đồng/ kg, tăng 4.000 - 4.200 đồng/kg so với tuần trước và tăng 5.500 - 6.500 đồng/ kg so với cùng kỳ năm 2017.

Sau một thời gian phải nhường lại vị trí số 1 cho Trung Quốc, Mỹ vừa trở lại là thị trường lớn nhất của cá tra ViệtNam. Cụ thể, theo Bộ Công Thương, trong 7 tháng đầu năm nay, XK cá tra sang Mỹ đạt giá trị 259,4 triệu USD (tăng 18,3% so cùng kỳ 2017). Với giá trị như trên, Mỹ là thị trường lớn nhất của cá tra Việt Nam trong 7 tháng đầu năm và chỉ cao hơn 1 chút so với thị trường đứng 2 là Trung Quốc (258,3 triệu USD). Đứng thứ 3 là EU với 134,1 triệu USD.

Điều đáng chú ý là giá trị XK cá tra sang Mỹ chỉ nhỉnh hơn sang Trung Quốc hơn 1 triệu USD, nhưng sản lượng XK sang Mỹ lại thấp hơn nhiều. Trong 7 tháng đầu năm nay, lượng cá tra XK sang Mỹ là 60,4 ngàn tấn, còn Trung Quốc là 125,2 ngàn tấn. Điều này cho thấy giá cá tra XK sang Mỹ cao hơn nhiều so với sang Trung Quốc. Chính vì vậy, dù luôn gặp phải nhiều khó khăn ở thị trường Mỹ, nhưng ngành cá tra Việt Nam vẫn quyết tâm giữ bằng được thị trường quan trọng này.

Dự báo trong các tháng cuối năm, nhiều khả năng xuất khẩu cá tra, basa sang thị trường Hoa Kỳ sẽ tăng trưởng khả quan nhờ:  Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) đã ban hành kết luận sơ bộ của đợt rà soát thuế chống bán phá giá lần thứ 14 (POR14) cho giai đoạn từ ngày 1/8/2016 đến 31/7/2017 đối với sản phẩm cá tra, basa của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ với mức thuế thấp hơn rất nhiều so với kết quả cuối cùng của đợt rà soát trước đó (POR13); căng thẳng thương mại Hoa Kỳ - Trung Quốc cũng là một cơ hội tốt cho các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra Việt Nam tận dụng giành thị phần. 

Giá tôm thẻ chân trắng tăng nhẹ trở lại

Thị trường tôm nguyên liệu tại ĐBSCL tháng 9/2018 tương đối ổn định với tôm sú và tăng nhẹ đối với tôm thẻ chân trắng. Tại Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng, Bến Tre tôm sú ướp đá nguyên liệu cỡ 20-40 dao động 160.000 - 220.000 đồng/kg.

Giá tôm thẻ ướp đá tăng 3.000-5.000 đ/kg cho các cỡ từ 50-100 con/kg (cỡ 50 con/kg: 110.000-115.000 đ/kg, cỡ 70 con/kg: 95.000-105.000 đồng/kg, cỡ 100 con/kg:  80.000-87.000 đ/kg).

Do giá tôm thấp nên nhiều người dân ở khu vực Ấn Độ, Thái Lan giảm thả nuôi, sản lượng tôm của Ấn Độ có thể giảm đến 20% so với năm 2017, sản lượng tôm Thái Lan cũng sẽ chỉ còn khoảng 300.000 tấn. Trong khi đó, nhu cầu tiêu thụ dịp cuối năm tăng cao, nhiều doanh nghiệp chế biến xuất khẩu của Việt Nam đã ký kết được các đơn hàng lớn phục vụ dịp lễ quan trọng cuối năm 2018.

Bộ NN&PTNT dự báo trong thời gian tới giá tôm sẽ tiếp tục tăng.

Trong tháng 9, bên cạnh thông tin vui đối với ngành hàng cá tra, cá basa, đối với mặt hàng tôm xuất khẩu cũng đón nhận thông tin có lợi. Đó là mức thuế chống bán phá giá của Mỹ áp lên tôm nhập khẩu từ Việt Nam trong giai đoạn POR 12 là 4,58% thấp hơn nhiều so với mức sơ bộ 25,39%. Theo VASEP, năm 2017, trong khi xuất khẩu tôm Việt Nam sang các thị trường đều tăng mạnh với giá xuất khẩu tăng cao hơn so với những năm trước, xuất khẩu sang thị trường Mỹ đã giảm 7% còn 659 triệu USD do ảnh hưởng của thuế chống bán phá giá. Mỹ đã mất vị trí dẫn đầu, trở thành thị trường đứng thứ 4 trong các thị trường nhập khẩu tôm từ Việt Nam. Xuất khẩu tôm Việt Nam sang thị trường này 8 tháng đầu năm nay tiếp tục giảm 10,5% xuống còn khoảng 372 triệu USD.

VASEP nhận định, với kết quả cuối cùng POR12 thấp hơn so với kết quả sơ bộ và kết quả POR11, xuất khẩu tôm Việt Nam sang thị trường Mỹ trong những tháng tới dự kiến sẽ hồi phục, đưa kết quả xuất khẩu tôm cả năm 2018 sang thị trường này lên khoảng 615 triệu USD, giảm nhẹ 6,5% so với năm 2017.

LÚA GẠO

Khối lượng và giá trị xuất khẩu gạo cùng giảm hơn 12% trong nửa đầu tháng 9 

Báo cáo từ Tổng cục Hải quan cho biết, khối lượng gạo xuất khẩu trong nửa đầu tháng 9 đạt 192.761 tấn, giảm 17,4% so với cùng kỳ năm ngoái, với giá trị xuất khẩu giảm 12,3% xuống gần 92 triệu USD.  

Lũy kế đến ngày 15/9, tổng lượng gạo xuất khẩu tăng gần 9% so với cùng kỳ năm 2017 lên 4,7 triệu tấn, với giá trị xuất khẩu tăng 24,4% lên 2,4 tỷ USD.

Giá gạo xuất khẩu trong nửa đầu tháng 9 đạt khoảng 477,1 USD/tấn, giảm 2,5% so với tháng 8, nhưng đã tăng 6,1% so với cùng kỳ năm ngoái.  

Dữ liệu tổng hợp từ Reuters trong tuần tính đến ngày 14/9 cho biết, giá gạo 5% tấm xuất khẩu tiếp tục tăng 2 - 3 USD lên 400 - 405 USD/tấn vì nguồn cung khan hiếm dưới tác động của những cơn mưa liên tiếp và nhu cầu gạo tăng cao.  

Tại thị trường nội địa, nhiều thương lái mua bán gạo cho biết: Mặt hàng gạo chợ nội địa đang dao động. Trong những ngày qua ngoại trừ gạo trắng Jasmine 85 giảm từ 11.900 đ/kg xuống 10.900 đ/kg, mất 1.000 đ/kg, do lúa gạo cũ trữ lại từ vụ trước nhưng hiện thời không có nhiều khách đặt hàng. Các loại gạo thơm chất lượng cao, gạo xuất khẩu đang nhóng giá. Trong khi đó các mặt hàng gạo phổ thông khác cũng rục rịch tăng theo sau khi có tin XK gạo sang một số nước có nhu cầu dự trữ đã lên kế hoạch thu mua.  

Hồi đầu tháng 9, Hội đồng Cơ quan Lương thực Quốc gia Philippines (NFA) cho biết sẽ nhập khẩu thêm 250.000 tấn gạo lần thứ ba trong năm nay để bình ổn giá và tăng lượng hàng tồn kho quốc gia. 250.000 tấn gạo này không gồm 132.000 tấn đã được phê duyệt vào tuần trước đó, vì đây là một phần của khối lượng nhập khẩu tối thiểu dành cho khu vực tư nhân. Nhu cầu bổ sung từ Philippines có thể thúc đẩy giá xuất khẩu của các nhà cung cấp chính là Việt Nam và Thái Lan.

Xuất khẩu gạo được dự báo cũng sẽ sôi động hơn từ quý IV với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp xuất khẩu với chủng loại đa dạng hơn nhờ Chính phủ vừa thông qua Nghị 107/2018 mới về xuất khẩu gạo.

Nghị định đã nới lỏng các quy định về kho chứa, cơ sở xay xát, chế biến lúa gạo cho các doanh nghiệp xuất khẩu gạo cũng như đơn giản hóa thủ tục hải quan cho doanh nghiệp xuất khẩu gạo hữu cơ, gạo đồ, gạo tăng cường vi chất dinh dưỡng.

Chính sách thông thoáng này sẽ tạo điều kiện kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu, đặc biệt các doanh nghiệp vừa và nhỏ mở rộng thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu các loại gạo cao cấp, gạo đặc sản đang có nhu cầu tiêu thụ lớn từ các thị trường như Trung Quốc, châu Âu, châu Phi, Iraq, Cu Ba, các Tiểu vương quốc Arab thống nhất.

Ngoài ra, gạo Việt Nam sẽ có giá cạnh tranh hơn so với trước vì các doanh nghiệp giảm được chi phí xuất khẩu, đây cũng là cơ hội tốt để các doanh nghiệp xuất khẩu nội địa cạnh tranh với các đối thủ Ấn Độ, Thái Lan ở các thị trường châu Phi, Iraq.

CÀ PHÊ

Xuất khẩu cà phê tiếp tục giảm 

 

Chỉ còn khoảng 1 tuần nữa là bước vào niên vụ cà phê 2018/2019, nhưng giá cà phê liên tục xuống quá thấp, gây ra nỗi lo ngại lớn cho cả ngành hàng cà phê.  

Liên tục giảm xuống trong thời gian qua, đến thời điểm gần cuối tháng 9, giá cà phê nhân xô ở Tây Nguyên chỉ còn trên dưới 32.000 đồng/kg. Đây là mức thấp nhất kể từ quý I/2016 đến nay.  

Theo ông Nguyễn Quang Bình, một chuyên gia về thị trường cà phê, so với đầu niên vụ 2017/2018, giá cà phê nhân xô hiện tại đã giảm tới khoảng 10 triệu đồng/tấn. Giá cà phê Robusta trên sàn giao dịch London giảm 518 USD/tấn so với phiên giao dịch đầu vụ 2017/2018 (ngày 2/10/2017), và cà phê Arabica trên sàn giao dịch New York giảm 602 USD/tấn.  

Giá cà phê đã xuống rất thấp và niên vụ mới đã cận kề, nhưng hoạt động mua bán ở Tây Nguyên vẫn đang rất ảm đạm. Các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê vẫn đang tập trung giao hết hàng tồn kho để chuẩn bị nhận cà phê vụ mới. Giá xuống quá thấp cũng khiến cho nhiều nông dân không mặn mà bán ra cà phê vụ cũ mặc dù vụ thu hoạch mới đã cận kề.

Theo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) 10 ngày giữa tháng 9/2018, giá cà phê trong nước tiếp tục giảm và đứng ở mức thấp. Ngày 20/9/2018, cà phê Robusta thấp nhất ở mức 32.500 đồng/kg tại huyện Di Linh và Lâm Hà (Lâm Đồng); mức cao nhất đạt 32.600 đồng/kg tại huyện Cư M’gar và Ea H’leo tỉnh Đắk Lắk. Tại các kho quanh khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, cà phê Robusta loại R1 có mức giá 33.600 đồng/kg, giảm 0,9% so với ngày 10/9/2018 và giảm 6,4% so với ngày 20/8/2018.

Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, xuất khẩu cà phê 15 ngày đầu tháng 9/2018 đạt 59,3 nghìn tấn, trị giá 102,47 triệu USD, giảm 16,9% về lượng và giảm 21,3% về trị giá so với 15 ngày đầu tháng 8/2018, nhưng tăng 37% về lượng và tăng 3,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/9/2018, xuất khẩu cà phê đạt 1,385 triệu tấn, trị giá 2,64 tỷ USD, tăng 17,3% về lượng, nhưng giảm 1,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

Trong 15 ngày đầu tháng 9/2018, giá xuất khẩu bình quân mặt hàng cà phê đạt mức 1.728 USD/ tấn, giảm 5,2% so với 15 ngày đầu tháng 8/2018 và giảm 24,8% so với 15 ngày đầu tháng 9/2017. Lũy kế từ đầu năm đến hết ngày 15/9/2018, giá xuất khẩu bình quân cà phê đạt mức 1.906 USD/ tấn, giảm 15,9% so với cùng kỳ năm 2017.

Riêng với thị trường Mỹ, trong 7 tháng đầu năm 2018, nhập khẩu cà phê của Mỹ từ 3 nguồn cung lớn nhất gồm Brasil, Colombia và Việt Nam giảm lần lượt 8,0%, 6,5% và 6,6% về lượng so với cùng kỳ năm 2017. Giá nhập khẩu bình quân cà phê của Mỹ từ Việt Nam 7 tháng năm 2018 đạt 1,9 USD/kg, thấp hơn nhiều so với giá nhập khẩu bình quân cà phê của Mỹ là 3,6 USD/kg và so với các nước khác như Brazil là 2,8 USD/kg; Colombia là 3,5 USD/kg. Nguyên nhân chính là do trong cơ cấu chủng loại cà phê của Việt Nam cung cấp cho Mỹ thì cà phê Robusta chiếm tỷ trọng 93% trong tổng lượng, phần còn lại là cà phê Arabica và cà phê chế biến. So với các nước cung cấp cà phê hàng đầu thế giới như Brazil và Colombia, ngành cà phê của Việt Nam lợi thế cạnh tranh thấp hơn.

HẠT TIÊU

Xuất khẩu tăng trong nửa đầu tháng 9/2018

Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết, 10 ngày giữa tháng 9/2018, giá hạt tiêu đen tại thị trường trong nước tăng. 

Cụ thể, ngày 18/9/2018, giá hạt tiêu đen tăng 1,0 - 4,2% so với ngày 10/9/2018, so với cùng kỳ tháng trước tăng 4,2 - 6,4%, giá dao động từ 49.000 đ/kg tại Chư Sê và Đồng Nai đến 51.000 đồng/kg tại Bà Rịa Vũng Tàu. Giá hạt tiêu trắng ở mức 83.000 đồng/kg, ổn định so với ngày đầu tháng 9/2018, nhưng thấp hơn nhiều so với mức giá 124.000 đồng/kg cùng kỳ năm 2017.

Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, 15 ngày đầu tháng 9/2018, lượng hạt tiêu xuất khẩu đạt 8,5 nghìn tấn, trị giá 24,6 triệu USD, giảm 12,5% về lượng và giảm 15% về trị giá so với 15 ngày đầu tháng 8/2018, tăng 34% về lượng, nhưng giảm 20,3% về trị giá so với 15 ngày đầu tháng 9/2017. Lũy kế từ đầu năm đến hết ngày 15/9/2018, xuất khẩu hạt tiêu đạt 184 nghìn tấn, trị giá 608,79 triệu USD, tăng 5,9% về lượng, nhưng giảm 34,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

Nửa đầu tháng 9/2018, giá xuất khẩu bình quân hạt tiêu ở mức 2.872 USD/tấn, giảm 2,9% so với nửa đầu tháng 8/2018, giảm 40,5% so với cùng kỳ năm 2017. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/9/2018, giá xuất khẩu bình quân hạt tiêu đạt mức 3.308 USD/tấn, giảm 38,3% so với cùng kỳ năm 2017.

HẠT ĐIỀU

Giá điều xuất khẩu nửa đầu tháng 9 giảm khoảng 26 USD/tấn 

 

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, trong nửa đầu tháng 9 Việt Nam xuất khẩu được hơn 14 nghìn tấn hạt điều, trị giá 119,4 triệu USD.  

Theo đó, bình quân mỗi tấn điều xuất khẩu trong nửa đầu tháng 9 có giá khoảng 8.498 USD, giảm khoảng 26 USD/tấn so với bình quân tháng 8.

Ngược lại trong nửa đầu tháng 9, Việt Nam nhập khẩu khoảng 37,8 nghìn tấn điều trị giá 68,77 triệu USD. Tính sơ bộ, giá điều nhập khẩu vào Việt Nam là 1.819 USD/tấn.  

Tính từ đầu năm đến 15/9, tổng lượng xuất khẩu hạt điều đạt 256,65 nghìn tấn, trị giá 2,4 tỷ USD, tương đương 9.353 USD/tấn, giảm 49 USD so với bình quân 8 tháng đầu năm nay.

Trong khi đó, giá trị nhập khẩu điều khoảng 926,77 nghìn tấn, trị giá 1,87 tỷ USD. Như vậy, tính đến 15/9, Việt Nam xuất siêu hạt điều khoảng 530 triệu USD.

Được biết, tháng 8, giá xuất khẩu bình quân mặt hàng điều đạt 8.524 USD/tấn, giảm 2,6% so với tháng 7/2018 và giảm 16% so với cùng kỳ năm ngoái. Lũy kế 8 tháng đầu năm 2018, giá xuất khẩu bình quân hạt điều đạt 9.402 USD/tấn, giảm 5% so với cùng kỳ năm 2017.

Tháng 8 xuất khẩu hạt điều sang các thị trường Hoa Kỳ, Trung Quốc tăng về lượng, nhưng giảm về trị giá so với tháng trước. Trong khi đó, xuất khẩu hạt điều sang các thị trường Hà Lan, Anh, Đức, Thái Lan giảm mạnh cả về lượng và trị giá so với tháng 7.

8 tháng đầu năm nay, xuất khẩu hạt điều sang Hoa Kỳ tăng 15,3% về lượng và tăng 8,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017, đạt 93,5 nghìn tấn, trị giá 883,1 triệu USD.

CAO SU

Giá trị xuất khẩu cao su 9 tháng giảm mạnh

Thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy, trong 15 ngày đầu tháng 9, lượng cao su xuất khẩu đạt 77.141 tấn, trị giá 99,1 triệu USD, giảm 9,9% về lượng và giảm hơn 28% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.

Tính từ đầu năm đến hết ngày 15/9, lượng cao su xuất khẩu của Việt Nam đạt 954.784 tấn, trị giá 1,32 tỷ USD, tăng 7,3% về lượng, nhưng giảm 12,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017. Đáng chú ý, lũy kế từ ngày 1/1 đến ngày 15/9, giá xuất khẩu cao su trung bình chỉ ở mức 1.388 USD/tấn, thấp hơn 18,8% so với mức giá xuất khẩu trung bình cùng kỳ năm 2017.

Việc tiêu thụ cao su tại thị trường nội địa cũng không mấy khả quan. Theo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), trong 10 ngày giữa tháng 9, giá mủ cao su nguyên liệu tại Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh vẫn ở mức thấp. Giá thu mua giao dịch trung bình ở mức 240 đồng/độ TSC đối với mủ tạp và 250 đồng/độ TSC đối với mủ nước.


Theo Cục Xuất nhập khẩu, giá cao su trong nước thời gian qua luôn ở mức thấp, nguyên nhân là bởi nguồn cung toàn cầu tăng cao. Bên cạnh đó, căng thẳng thương mại giữa Hoa Kỳ – Trung Quốc kéo dài cũng là yếu tố khiến cho ngành cao su Việt
Nam bị tác động.

Đặc biệt, mới đây, trong danh sách các mặt hàng của Trung Quốc nhập khẩu vào Hoa Kỳ chịu thuế bổ sung 10% có cả lốp xe ô tô. Đây là ngành hàng sản xuất khá mạnh của Trung Quốc và sử dụng nhiều cao su. Dự báo, thời gian tới, các doanh nghiệp xuất khẩu cao su của Việt Nam có thể sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn hơn do nhu cầu thấp từ các nước nhập khẩu cao su chủ chốt.


“Trung Quốc là thị trường nhập khẩu cao su nguyên liệu chủ yếu của Việt Nam, và với 70% cao su thiên nhiên đi vào ngành công nghiệp sản xuất lốp xe, xuất khẩu cao su Việt Nam sang Trung Quốc gần như chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng.”


Theo Bộ NN&PTNT, hiện nay Trung Quốc, Ấn Độ, và Malaysia là 3 thị trường tiêu thụ cao su hàng đầu của Việt Nam. Trung Quốc vẫn là thị trường truyền thống, song xuất khẩu cao su sang một số nước như Ấn Độ,
Indonesia lại đang có mức tăng nhanh và được giá hơn.

(TTGCVT /T.Hiền tổng hợp) 

 

Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (024) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (024) 39762593 
Email:ttgcvattu1989@gmail.com