Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Thị trường hàng hóa nguyên liệu trong nước tháng 8/2018
Cập nhật: 3-9-2018

VÀNG

Giá vàng ít biến động, nằm trong ngưỡng từ 36,5 – 36,9 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra)


Trong tháng 8, mặc dù giá vàng thế giới có lúc tăng mạnh rồi lại giảm sâu nhưng giá hầu như đều nằm trong trạng thái “chững’ qua nhiều phiên. Điều này cho thấy, đến thời điểm hiện tại, vàng chưa phải là kênh đầu tư hấp dẫn so với đô la. 

Trong tuần đầu tháng 8, giá vàng nằm trong xu hướng giảm nhẹ trong khoảng 36,61 – 36,68 triệu đồng/lượng chiều mua vào và chiều bán ra là 36,80 – 36,88 triệu đồng. Theo nhận định của Doji, những cơn sóng vàng tăng, giảm đan xen ở mức độ vừa phải của thị trường vàng thế giới chưa giúp cho giao dịch thành công. Ghi nhận trong nhiều phiên, phần lớn lượng khách tham gia giao dịch là khách hàng nhỏ lẻ theo nhu cầu cá nhân. Với mức giá mở cửa sáng 10/8 – phiên giao dịch cuối cùng của tuần ở mức 36,61 – 36,80 triệu đồng, giá vàng trong nước vẫn đang cao hơn giá thế giới khoảng 3,2 triệu đồng mỗi lượng. 

Giá vàng tiếp đà giảm nhẹ trong tuần thứ 2 ở khoảng từ 36,51 – 36,64 triệu đồng/lượng (chiều mua vào) và 36,71 – 36,84 triệu đồng/lượng (chiều bán ra).  Chính sự chênh lệch trên đã kéo giãn biên độ chênh với vàng thế giới, lên tới khoảng gần 4 triệu đồng mỗi lượng. 

Tuần thứ 3, giá vàng hầu như không thay đổi so với tuần thứ 2. Xét về thị hiếu đối với quý kim vàng, mức giá ít biến động dường như chưa tạo được động lực làm gia tăng nhu cầu tích trữ của người dân. Đa số nhà đầu tư vẫn kiên trì ngóng chờ thêm các thông tin, sự kiện quan trọng của thị trường. Ghi nhận qua nhiều phiên trong tuần, lượng khách theo chiều bán vàng chiếm ưu thế  hơn khoảng 60% trên tổng số lượng giao dịch. Thời điểm sáng 24/8 – kết thúc tuần, giá vàng nằm ở mức thấp nhất tuần là 36,55 – 36,75 triệu đồng một lượng và còn cao hơn giá thế giới khoảng 3,6 triệu đồng.  

Vào ngày cuối cùng của tháng 8, giá vàng thời điểm mở cửa sáng ngày 31/8 đứng ở mức 36,56 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,75 triệu đồng/lượng (bán ra), giảm 10 ngàn đồng ở cả 2 chiều mua vào bán ra so với cuối giờ chiều ngày 30/8. Với mức giá này, giá vàng trong nước đang cao hơn giá thế giới khoảng 3,4 triệu đồng/lượng.  

ĐÔ LA

Mức cao nhất của tỷ giá trung tâm là 22.691 đồng/USD, giá USD liên tục biến động

Nằm trong tâm điểm theo dõi trong tháng qua là biến động của đồng đô la, không chỉ trên thị trường tài chính thế giới mà còn ở trong nước. Có thể nói sự biến động của tỷ giá đã có tác động nhất định đến nền kinh tế, đặc biệt là đối với lĩnh vực nhập khẩu. 

Trong tháng qua, mức cao nhất của tỷ giá trung tâm là 22.691 đồng/USD. Mức thấp nhất tháng là 22.666 đồng/USD. 

Giá giao dịch USD tại các Ngân hàng thương mại cũng được điều chỉnh liên tục qua các phiên.Trong tuần đầu tiên, giá phổ biến ở mức 23.245 đồng (mua) và 23.325 đồng (bán). Giá USD trên thị trường chợ đen đứng ở mức: 23.500 - 23.520 đồng/USD. Tuần thứ 2, giá tại Ngân hàng phổ biến ở mức 23.270 đồng (mua) và 23.350 đồng (bán). Giá USD trên thị trường chợ đen đứng ở mức: 23.640 - 23.680 đồng/USD. Trung tuần tháng 8, giá USD đứng ở khoảng 23.240 đồng (mua) và 23.320 đồng (bán). Giá USD trên thị trường chợ đen đứng ở mức: 23.480 - 23.510 đồng/USD. Tuần thứ 4, giá USD nằm chủ yếu trong khoảng 23.260 đồng (mua) và 23.340 đồng (bán).  

THÉP XÂY DỰNG

Giá bán thép xây dựng cơ bản ổn định trong tháng 8.



Theo thông tin từ Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính), nhìn chung trong tháng 8/2018, giá bán thép xây dựng cơ bản ổn định. Dẫn báo cáo của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thép, giá bán thép ở mức khoảng 11.300 – 14.500 đồng/kg (giá giao tại nhà máy chưa bao gồm 10% VAT, chiết khấu bán hàng). Giá bán lẻ thép xây dựng tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung dao động ở mức 12.900 – 15.000 đồng/kg, trong khi tại các tỉnh miền Nam là 13.000 – 15.200 đồng/kg.

Mặc dù tháng 7 và tháng 8 các công trình xây dựng thường bị đình trệ do mưa nhiều, nhưng nhìn chung tiêu thụ thép xây dựng vẫn khả quan so với tháng 6/2018. Cụ thể, các sản phẩm thép tiêu thụ trong tháng 7/2018 đạt 1.521.096 tấn, tăng 1% so với tháng 6, nhưng giảm 7,7% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó, xuất khẩu đạt 342.918 tấn, tăng nhẹ so với tháng 6, nhưng tăng 3,4% so với tháng 7/2017.

Riêng đối với mảng thép xây dựng tiêu thụ tăng trưởng khá hơn. Cụ thể, tiêu thụ trong tháng 7/2018 đạt 841.040 tấn, tăng 8% so với tháng 6/2018, nhưng lại giảm 7,4% so với cùng kỳ năm 2017.

Đối với mảng ống thép hàn, trong tháng 7/2018 tiêu thụ chỉ đạt 189.859 tấn, giảm 13,29% so với tháng 6, và giảm 8,6% so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu đạt 29.403 tấn, giảm 7,6% so với tháng nhưng tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước.

Không chỉ ống thép hàn giảm, sản phẩm tôn mạ kim loại và sơn phủ màu tiêu thụ trong tháng 7 cũng giảm, chỉ đạt 316.841 tấn, giảm 2,09% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm 2017 cũng giảm tới 6,5%.

Đối với mảng thép cuộn cán nguội, tiêu thụ đạt 173.356 tấn, giảm 6,54% so với tháng 6/2018 và giảm 10,5% so với cùng kỳ năm 2017. Xuất khẩu thép cuộn cán nguội tuy gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn đạt 69.138 tấn, tăng 23,7% so với cùng kỳ năm trước.

Ngoài ra, thép cuộn cán nóng tiêu thụ đạt 284.350 tấn.

Về tình hình xuất khẩu, theo số liệu thống kê sơ bộ từ Tổng cục Hải quan, trong 7 tháng đầu năm 2018, cả nước xuất khẩu 3,41 triệu tấn sắt thép, thu về 2,53 tỷ USD, tăng 40,4% về lượng và tăng 56,3% về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái.

Lượng sắt thép xuất khẩu sang thị trường Campuchia nhiều nhất, chiếm 37% trong tổng khối lượng sắt thép xuất khẩu của cả nước, xuất sang Mỹ chiếm 15,6%, Malaysia 20,2%, Indonesia 19,2%. Xuất khẩu sang Mỹ đạt 532.779 triệu tấn, tương đương 452,81 triệu USD, tăng mạnh 71,6% về lượng và tăng 81,7% về kim ngạch.

Về nhập khẩu, bước sang tháng 8/2018, mặc dù tổng sản lượng giảm so với cùng kỳ nhưng tổng trị giá kim ngạch nhập khẩu sắt thép vẫn tăng khiến mức giá nhập khẩu bình quân mỗi tấn tăng mạnh gần 3,2 triệu đồng (chưa tính thuế). Đây là thông tin đáng chú ý trong tháng 8. Theo thông tin mới nhất của Tổng cục Hải quan, đến 15/8, tổng sản lượng sắt thép nhập khẩu cả nước là hơn 8,747 triệu tấn, tổng trị giá kim ngạch 6,31 tỷ USD. So với cùng kỳ 2017, sản lượng nhập khẩu những tháng qua giảm gần 950 nghìn tấn, tuy nhiên, trị giá kim ngạch lại tăng 657 triệu USD. Vì vậy, mức giá bình quân nhập khẩu những tháng vừa qua vọt lên 721,4 USD/tấn, tăng 138,2 USD (tương đương gần 3,2 triệu đồng) so với cùng kỳ năm ngoái. Sự sụt giảm mạnh về sản lượng chủ yếu từ việc giảm nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc. Chỉ riêng hết tháng 7 (thông tin mới nhất của Tổng cục Hải quan), sản lượng sản thép nhập từ Trung Quốc giảm gần 600 nghìn tấn so với cùng kỳ 2017.

Thị trường thép Việt trong thời gian gần đây liên tục phải đối diện với 8 vụ khởi kiện, áp thuế phòng vệ thương mại đến từ 7 thị trường. Việc "quay cuồng" trong vòng xoáy kiện tụng được dự báo sẽ tác động đáng kể tới sản xuất, xuất khẩu thép thời gian tới.

“ Chỉ tính từ ngày 16/7 - 9/8, thép Việt đã bị khởi kiện phòng vệ thương mại và áp thuế tự vệ tạm thời từ 7 thị trường (gồm Thái Lan, EU, Canada, Malaysia, Hoa Kỳ, Liên minh kinh tế Á-Âu, Ấn Độ) với 8 vụ việc”.

Bộ Công Thương cho rằng, thời gian tới, ngành thép tiếp tục phải cạnh tranh ngày càng gay gắt do thép nhập khẩu thâm nhập mạnh vào thị trường Việt Nam. Bên cạnh đó, việc phải đối mặt với nhiều vụ điều tra bán phá giá từ các nước nhập khẩu khiến xuất khẩu thép gặp nhiều khó khăn hơn. 

XI MĂNG

Xuất khẩu xi măng cán đích sớm

Vụ Vật liệu xây dựng ( Bộ Xây dựng) cho biết, sản phẩm xi măng tiêu thụ ở cả thị trường nội địa và xuất khẩu trong tháng 8/2018, ước đạt 7,66 triệu tấn, trong đó tiêu thụ nội địa khoảng 5,65 triệu tấn và xuất khẩu sản phẩm ước đạt khoảng 2,01 triệu tấn.

Sản lượng tiêu thụ sản phẩm xi măng so với tháng 7 trước đó mặc dù giảm nhẹ nhưng vẫn giữ được đà tăng trưởng ổn định nếu so với cùng kỳ 2017. Cụ thể so với tháng 7, trong tháng 8 tiêu thụ sản phẩm xi măng tại thị trường nội địa sụt giảm 0,25 triệu tấn nhưng vẫn tăng khoảng 3% so với cùng kỳ năm 2017.

Tại thị trường xuất khẩu, kết quả ấn tượng hơn khi sản lượng xi măng tháng 8 dù tiêu thụ giảm nhẹ 0,09 triệu tấn so với tháng 7 nhưng vẫn tăng tới 44% so với cùng kỳ năm 2017.

Lũy kế trong 8 tháng năm 2018, sản lượng xi măng tiêu thụ ở cả thị trường nội địa và xuất khẩu ước đạt 63,85 triệu tấn, tăng tới 30% so với cùng kỳ và đạt khoảng 76% kế hoạch tiêu thụ của cả năm. Trong đó tiêu thụ nội địa ước đạt khoảng 43,76 triệu tấn và xuất khẩu 20,09 triệu tấn.

Đáng chú ý là dù mới chỉ qua 8 tháng nhưng sản lượng xuất khẩu sản phẩm xi măng đã cán mốc trên 20 triệu tấn, vượt so với mục tiêu kế hoạch của cả năm xuất khẩu từ 18 -19 triệu tấn sản phẩm xi măng trong năm 2018.

Với đà tăng trưởng ổn định thì mục tiêu tiêu thụ từ 65 – 66 triệu tấn tại thị trường nội địa cũng sẽ có khả năng về đích sớm. Đây là bức tranh với những gam màu sáng phát đi từ thị trường tiêu thụ sản phẩm xi măng.

Về vấn đề giá cả, tương tự  như mặt hàng thép xây dựng, giá xi măng trong tháng 8/2018 nhìn chung ít biến động. Giá bán trung bình của loại xi măng bao PCB30 là 1,18 triệu đồng/tấn, loại PCB40 là 1,34 triệu đồng/tấn, theo Cục quản lý giá (Bộ Tài chính). 

XĂNG DẦU

Giá xăng không đổi và giá dầu có một lần tăng, một lần giảm trong tháng 8

Theo chu kỳ điều hành giá mặt hàng xăng dầu như các tháng trước, trong tháng 8/2018, Liên bộ Công thương – Tài chính đã tiến hành điều chỉnh giá mặt hàng này trong 2 kỳ vào ngày 7 và 22/8. 

Vào 15h chiều ngày 7/8, Liên bộ Công Thương – Tài chính đã phát đi thông tin sau khi thực hiện trích lập và chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu, giá các mặt hàng xăng E5 RON92 và xăng RON95-III được giữ ổn định giá; dầu diesel 0.05S tăng nhẹ 296 đồng/lít, dầu hỏa tăng 205 đồng/lít; dầu mazut 180CST 3.5S tăng 257 đồng/kg.

Như vậy, giá bán các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường không cao hơn mức giá: xăng E5 RON92 không cao hơn 19.611 đồng/lít; xăng RON95-III không cao hơn 21.177 đồng/lít; dầu diesel 0.05S không cao hơn 17.538 đồng/lít; dầu hỏa không cao hơn 16.379 đồng/lít; dầu mazut 180CST 3.5S: không cao hơn 15.013 đồng/kg.

Tại kỳ điều chỉnh lần thứ 2 trong tháng 8, Liên Bộ Công Thương - Tài chính tiếp tục tăng mức chi từ Quỹ bình ổn giá để kìm giá xăng, dầu trong nước, như xăng E5 RON 92 tăng 78 đồng, lên mức 1.272 đồng; ngừng chi quỹ với dầu madut...Sau điều chỉnh, giá xăng E5RON 92 vẫn ở mức 19.610 đồng một lít, xăng RON 95 là 21.170 đồng.

Các mặt hàng dầu có sự điều chỉnh khi mỗi lít dầu diesel tăng 148 đồng, lên tối đa 17.686 đồng; trong khi dầu hỏa và madut giảm lần lượt 116 và 270 đồng một lít/kg.

Như vậy, đây là kỳ điều hành thứ tư liên tiếp trong vòng 2 tháng qua mặt bằng giá xăng được giữ ổn định.

Nhập khẩu mặt hàng xăng dầu trong tháng 7 vừa qua đã giảm mạnh.  Theo số liệu thống kê mới nhất từ Tổng cục Hải quan, trong 7 tháng đầu năm 2018, lượng nhập khẩu xăng dầu các loại của Việt Nam đạt 7,8 triệu tấn, với trị giá 5,2 tỷ USD, tăng 3,9% về lượng và tăng 31,6% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, nếu tính riêng tháng 7/2018 thì lượng nhập khẩu xăng dầu các loại chỉ đạt hơn 820 nghìn tấn, trị giá 558 triệu USD, giảm đến 41,7% về lượng và giảm 41,8% về trị giá so với tháng trước.

Xăng dầu các loại được nhập khẩu về Việt Nam trong 7 tháng qua chủ yếu có xuất xứ từ Malaysia với 2,2 triệu tấn, tăng 50,5%. Tiếp đó là xăng dầu nhập khẩu từ Hàn Quốc với 1,97 triệu tấn, tăng 11,6% so với cùng kỳ năm 2017. 

GAS

Giá gas nhảy vọt 11.000 đồng/bình do tỉ giá USD tăng

Công ty Gas Saigon Petro cho biết kể từ ngày 1-8, giá gas tăng 11.000 đồng/bình 12 kg. Theo đó giá bán lẻ tối đa đến người tiêu dùng không quá 357.000 đồng/bình 12 kg.

Trong khi đó Công ty Gas Pacific Petro, City Petro, ELF Gas cũng tăng 11.000 đồng/ bình 12 kg. Giá bán lẻ đến người tiêu dùng không vượt quá 364.000 đồng/bình 12 kg.

Tương tự Petrolimex Gas Sài Gòn cũng tăng 11.000 đồng/ bình 12kg. Giá bán lẻ tại TP.HCM là 364.500 đồng/bình 12 kg.

Các công ty gas cho biết, giá gas thế giới tháng 8 công bố 587,5 USD /tấn, tăng 25 USD/tấn so với tháng 7) và do tỉ giá VND/USD tăng nên các công ty điều chỉnh tăng.

Tính chung từ đầu năm đến nay giá gas tăng tổng cộng 40.000 đồng/bình 12 kg. 

Ô TÔ

Thị trường ô tô giá không giảm dù đón tháng “cô hồn” 

Thị trường ô tô Việt Nam đang bước vào giai đoạn giảm sức mua do quan niệm "tháng cô hồn" của người Việt. Trong thời gian này, khách hàng hạn chế mua xe khiến doanh số toàn thị trường đi xuống. Để kích cầu thị trường, thông thường các hãng ô tô đều có các chương trình ưu đãi như giảm giá xe hay tặng thêm phụ kiện.

Trong tháng 8 này, không chỉ có riêng Honda và Chevrolet, mà đã có thêm hàng loạt các thương hiệu khác nhập được xe về Việt Nam. Tuy nhiên, người tiêu dùng sẽ phải thất vọng nếu mong chờ sự giảm giá bởi chưa có nhiều thay đổi về giá bán của các thương hiệu ô tô tại Việt Nam. Hầu hết các hãng xe lớn, như Toyota, Ford, Honda, Ford, Chevrolet..., đều giữ nguyên giá bán như trong tháng trước. Một số dòng xe được thu gọn danh mục sản phẩm để tập trung hơn vào các mẫu xe chủ lực và tối ưu hóa đầu tư (các chi phí thông quan nhập khẩu xe).

Thống kê mới nhất đến ngày 17/8 của Tổng cục Hải quan, cộng dồn từ đầu năm đến 15/8, cả nước đã nhập khẩu 24.451 xe ô tô nguyên chiếc các loại, tổng trị giá đạt hơn 592 triệu USD. Trong đó, xe 9 chỗ ngồi trở xuống chiếm nhiều nhất với 15.348 chiếc, tổng trị giá hơn 324 triệu USD. Xe tải nhiều thứ 2, với 7.754 chiếc, trị giá 171 triệu USD.

Cũng theoTổng cục Hải quan, số lượng xe miễn thuế nhập khẩu từ ASEAN không ngừng tăng lên trong thời gian qua. Đặc biệt, không chỉ từ thị trường Thái Lan, mà lượng xe từ Indonesia cũng đã tăng lên mạnh mẽ.

Một xu hướng khác đã trở nên rõ ràng hơn với thị trường nhập khẩu ôtô Việt Nam: lắp ráp trong nước chủ yếu là xe nhỏ (mini, hạng B, hạng C), trong khi nhập khẩu nguyên chiếc đều là những mẫu xe thuộc phân hạng lớn hơn và đang là những dòng xe được đầu tư lắp ráp mạnh mẽ trong khu vực: bán tải, SUV truyền thống (body-on-frame), các mẫu MPV (5+2)...

Tuy nhiên, trên góc độ người tiêu dùng, cho dù đã có thêm các dòng xe miễn thuế nhập khẩu từ ASEAN (được giảm 30% thuế nhập khẩu so với năm 2017) nhưng giá xe dưới 9 chỗ hầu như không thay đổi, thậm chí, với một số mẫu xe, người tiêu dùng phải trả thêm tiền (mua phụ kiện kèm theo) mới mua được xe.

Trong khi đó, các dòng xe lắp ráp trong nước cũng không biến chuyển về giá bán, do các hãng không thực sự quyết tâm đạt các tiêu chí (sản lượng, tăng trưởng) để được hưởng các ưu đãi về chính sách (thuế TTĐB phần linh kiện lắp ráp trong nước). Và chính vì vậy, người tiêu dùng đang không được hưởng lợi gì từ việc nền công nghiệp ôtô Việt Nam gia nhập cuộc chơi chung trong khu vực; trái lại, còn phải hứng chịu toàn bộ những hệ quả đến từ thay đổi này. 

THỦY SẢN 

Xuất khẩu thủy sản Việt Nam thu về 5,5 tỷ USD trong 8 tháng



Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, kim ngạch xuất khẩu thủy sản 8 tháng đầu năm đạt 5,5 tỷ USD, tăng 6,4% so với cùng kỳ năm ngoái.

Trong tháng 8, sản lượng thủy sản cả nước ước tính đạt 683.600 tấn, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm cá đạt 475.300 tấn, tăng 6%; tôm đạt 106.000 tấn, tăng 10,4%; thủy sản khác đạt 102.300 tấn, tăng 2,6%.

Tính chung 8 tháng năm 2018, sản lượng thủy sản ước tính đạt 4,9 triệu tấn, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước,. Trong đó, sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 2,5 triệu tấn, tăng 6,6% so với cùng kỳ năm ngoái; sản lượng thủy sản khai thác đạt gần 2,4 triệu tấn, tăng 5%.

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, giá cá tra nguyên liệu tại Đồng bằng sông Cửu Long trong tháng qua tiếp tục xu hướng giảm giá của tháng trước. Mức giá cao nhất hiện trong khoảng 25.000 - 27.000 đồng/kg (cá loại I) tại các vùng sản xuất như: An Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp... giảm khoảng 3.000 đồng/kg so với tháng trước. Trong khi đó, giá cá tra giống tăng nhẹ so với tháng trước do ảnh hưởng thời tiết, hiện đang ở mức 25.000 - 30.000 đồng/kg đối với cỡ 30 con/kg.

 Hiện các nhà nhập khẩu tại thị trường Trung Quốc tạm ngừng thu mua cá tra để tiêu thụ hết lượng hàng đã nhập trước đó. Vì vậy, nhiều doanh nghiệp giảm khâu thu mua cá tra nguyên liệu từ các hộ nuôi dù đang trong giai đoạn thời tiết thuận lợi để thả đợt cá giống mới. Tuy nhiên, dự báo giá cá tra từ nay đến cuối năm sẽ vẫn ở mức có lãi cho người nuôi. 

Xuất khẩu cá tra dự báo sẽ tăng mạnh hơn trong quý III và những tháng cuối năm (ước tăng khoảng 30%), các sản phẩm hải sản như cá ngừ sẽ vẫn tăng khoảng 15%, mực-bạch tuộc tăng 10%, dự báo XK thủy sản trong quý III sẽ đạt khoảng 2,7 tỷ USD, tăng 13% so với cùng kỳ.

Về mặt hàng tôm nguyên liệu, tại Đồng bằng sông Cửu Long có xu hướng tăng giá đối với tôm sú và chững giá với tôm thẻ chân trắng sau khi nhích nhẹ vào tháng trước. Cụ thể, tại Bạc Liêu, tôm sú ướp đá nguyên liệu cỡ 30 - 40 con/kg dao động từ 170.000 - 190.000 đồng/kg, tăng 20.000 đồng/kg so với tháng trước. Giá tôm thẻ ướp đá cỡ 50 con/kg có giá khoảng 105.000 đồng/kg, cỡ 60 con/kg giá 95.000 đồng/kg và cỡ 100 con/kg giá từ 72.000 - 75.000 đồng/kg. 

Tại Sóc Trăng, Bến Tre tôm thẻ chân trắng cỡ 50 con/kg có giá 113.000 đồng/kg, cỡ 70 con/kg giá 100.000 đồng/kg, cỡ 100 con/kg giá từ 80.000 - 83.000 đồng/kg. 

Mặc dù có dấu hiệu hồi phục từ tháng trước, nhất là với tôm cỡ nhỏ 100 con/kg nhưng người nuôi thẻ chân trắng vẫn không có lãi bởi giá bán hiện tại tương đương với giá thành sản xuất. So với giá bán cùng thời điểm năm ngoái thì giá hiện vẫn thấp hơn khoảng 20.000 đ/kg. 

Giá tôm được dự báo tăng trong khoảng tháng 9 và 10 năm nay. Năm nay, dự báo sản lượng tôm nước lợ đạt 720 nghìn tấn (tăng 13,1% so với ước thực hiện năm 2017) gồm sản lượng tôm sú 290 nghìn tấn (tăng 4,7%) và sản lượng tôm chân trắng 430 nghìn tấn (tăng 0,7%).

Dự báo xuất khẩu tôm sẽ hồi phục trong những tháng tiếp theo vì nhu cầu trên thị trường đang tăng trở lại, giá tôm nguyên liệu trong nước cũng đang bình ổn trở lại và có xu hướng tăng, nông dân sẽ lại an tâm đầu tư nuôi tôm. 

Cũng trong tháng 8, nhằm khắc phục “thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu (EC), Chính phủ đã yêu cầu chấn chỉnh các hoạt động khai thác hải sản. Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng cho biết hiện trạng chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) của ViệtNam trên thực tế chưa được cải thiện đáng kể. Lãnh đạo Chính phủ yêu cầu Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Ủy ban Nhân dân 28 tỉnh, thành phố ven biển trực thuộc trung ương phải quán triệt và tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm Chỉ thị của Thủ tướng. Bộ và các chính quyền địa phương phải coi đây là một trong những nhiệm vụ chính trị hàng đầu, không để EC áp dụng biện pháp “thẻ đỏ”, đồng thời là cơ hội để tái cơ cấu ngành thủy sản, chấn chỉnh lại hoạt động khai thác hải sản cũng như công tác quản lý nhà nước ngành thủy sản. 

LÚA GẠO

Xuất khẩu gạo tăng cả lượng và giá trị trong tháng 8, dự báo vẫn còn nhiều khó khăn

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản tháng 8/2018 ước đạt 3,13 tỷ USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu 8 tháng đầu năm nay đạt 25,7 tỷ USD, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm 2017. Các mặt hàng tăng trưởng xuất khẩu tốt trong 8 tháng là gạo, rau quả, các loại lâm sản chính, thủy sản. 

Về mặt hàng gạo, khối lượng gạo xuất khẩu tháng 8 ước đạt 441.000 tấn với giá trị đạt 209 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu gạo 8 tháng ước đạt 4,4 triệu tấn với 2,2 tỷ USD, tăng 6,8% về khối lượng và tăng 22,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. Giá gạo xuất khẩu bình quân 7 tháng đạt 507 USD/tấn, tăng 14,8% so với cùng kỳ năm 2017. Trung Quốc vẫn tiếp tục đứng đầu về thị trường nhập khẩu gạo của Việt Nam với 24,7% thị phần. 

Các thị trường có giá trị xuất khẩu gạo tăng mạnh là Indonesia (gấp 67,5 lần), Irắc (gấp 2,5 lần), Philippines (gấp 2 lần), Malaysia (39,4%), Bờ Biển Ngà (33,5%) và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (11%)… 

Theo các chuyên gia, Thái Lan và Việt Nam hiện đang thu hoạch rộ lúa, nguồn cung dồi dào tiếp tục tạo áp lực thị trường, nhưng người mua cảm thấy giá hấp dẫn cho mua tồn kho và nhiều người cho rằng, đây là mức giá đã gần chạm đáy, nhu cầu tồn kho có thể được duy trì với mức giá mua hấp dẫn này.

Dự báo, trong quý 4/2018 sẽ xuất hiện nhiều nhu cầu, chỉ tính riêng 5 thị trường truyền thống: Cuba, Iraq, Indonesia, Philippines và Malaysia có thể sẽ nhập khẩu từ 3 đến 4 triệu tấn gạo, chưa kể 2 thị trường thương mại Trung Quốc và châu Phi. 

Song, nhu cầu nhập gạo của Malaysia sẽ giảm so với hồi đầu năm nay, trong khi Philippines phần lớn là nhu cầu nhập gạo theo hình thức MAV (chương trình nhập khẩu gạo theo cam kết của Chính phủ Philippines với WTO), hướng đến gạo Thái Lan vì giá ấn tượng của nước này.

Tháng 8/2018, thị trường tập trung Băngladesh có khả năng vận hành nhập khẩu khoảng 700.000 tấn gạo và sẽ mua của Việt Nam 400.000 tấn, trong số 400.000 tấn này họ sẽ nhập khẩu 250 ngàn tấn gạo đồ. 

Tại thị trường Cuba, hàng tháng các doanh nghiệp Việt Nam phải giao 60 ngàn tấn gạo cho thị trường này; còn Iraq là 30 ngàn tấn mỗi tháng. Nhu cầu lớn là vậy nên khả năng bán gạo của Việt Nam là rất cao nhưng do gạo Việt Nam đang chênh lệch khá cao so với gạo cùng loại của Thái Lan, khiến doanh nghiệp chưa mạnh dạn mua vào.

Đại diện Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản cũng cho biết: “Trung Quốc hiện vẫn là thị trường tiêu thụ gạo nếp lớn nhất của Việt Nam với thị phần trên 80%. Tuy nhiên, từ tháng 7 vừa qua, Trung Quốc tăng thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch với gạo nếp từ 5% lên 50% khiến xuất khẩu gạo nếp sang thị trường này giảm mạnh và giá xuất khẩu cũng giảm 50 – 60 USD/tấn so với trước khi áp thuế, xuống còn 425 – 435 USD/tấn”. Ngoài ra, xuất khẩu gạo sang Trung Quốc còn bị siết chặt hơn bởi một số chính sách kiểm dịch của nước này.

Có thể thấy dư địa xuất khẩu nông sản nói chung, gạo nói riêng sang thị trường Trung Quốc còn rất lớn. Tuy nhiên, từ nông dân cũng như các doanh nghiệp cần nhìn nhận lại, Trung Quốc không còn là thị trường đông dân dễ tính.

Thái Lan và Việt Nam hiện đang thu hoạch rộ lúa, nguồn cung dồi dào tiếp tục tạo áp lực thị trường, nhưng người mua cảm thấy giá hấp dẫn cho mua tồn kho và nhiều người cho rằng, đây là mức giá đã gần chạm đáy, nhu cầu tồn kho có thể được duy trì với mức giá mua hấp dẫn này.

Dự báo, trong quý 4/2018 sẽ xuất hiện nhiều nhu cầu, chỉ tính riêng 5 thị trường truyền thống: Cuba, Iraq, Indonesia, Philippines và Malaysia có thể sẽ nhập khẩu từ 3 đến 4 triệu tấn gạo, chưa kể 2 thị trường thương mại Trung Quốc và châu Phi.  

CÀ PHÊ

Xuất khẩu cà phê nửa đầu tháng 8/2018 tăng mạnh

Những ngày đầu tháng 8/2018, giá cà phê nhân xô tại thị trường trong nước tiếp tục giảm từ 0,3 – 1,4% so với ngày 31/7/2018 và giảm từ 1,1 – 2,3% so với cùng kỳ tháng 7/2018. Ngày 10/8/2018, cà phê Robusta có mức giá thấp nhất 34.400 VNĐ/kg tại tỉnh Lâm Đồng, mức cao nhất 35.100 VNĐ/kg tại các tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum. Tại các kho quanh khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, cà phê Robusta loại R1 có mức giá 36.400 VNĐ/kg, ổn định so với ngày 31/7/2018, nhưng giảm 1,9% so với cùng kỳ tháng 7/2018.

10 ngày giữa tháng 8/2018, giá cà phê trong nước giảm từ 3,1 – 3,8% so với ngày 10/8/2018, so với cùng kỳ tháng trước giảm từ 3,4 – 4,6%. Cụ thể, ngày 20/8/2018, cà phê Robusta có mức giá thấp nhất trong hơn hai năm trở lại đây, ở mức 33.100 đ/kg tại tỉnh Lâm Đông và 33.700 đ/kg tại tỉnh Đắk Lắk. Tại các kho quanh khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, cà phê Robusta loại R1 có mức giá 35.400 đ/kg, giảm 2,7% so với ngày 10/8/2018, và giảm 3,5% so với cùng kỳ tháng 7/2018.

Do giá xuất khẩu giảm mạnh 15% nên cà phê xuất khẩu 8 tháng chỉ thu về 2,5 tỷ USD. Trong đó, Đức và Hoa Kỳ tiếp tục là hai thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam, theo thống kê của Bộ NN & PTNT. 

15 ngày đầu tháng 8/2018, giá xuất khẩu bình quân mặt hàng cà phê đạt 1.824 USD/tấn, giảm 2,8% so với 15 ngày đầu tháng 7/2018 và giảm mạnh 23,9% so với 15 ngày đầu tháng 8/2017. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/8/2018, giá xuất khẩu bình quân cà phê đạt 1.916 USD/tấn, giảm 15,3% so với cùng kỳ năm 2017.

Cục Xuất nhập khẩu cũng dự báo, những tháng cuối năm 2018, giá cà phê duy trì ở mức thấp. Doanh nghiệp và người trồng cà phê cần thận trọng trong việc dự trữ cà phê, giá cà phê có thể tiếp tục giảm khi vào vụ thu hoạch mới của Việt Nam, bắt đầu từ tháng 10/2018.

Thị trường cà phê toàn cầu vẫn chịu áp lực dư cung do sản lượng cà phê niên vụ 2017/18 tăng và được dự báo tiếp tục tăng trong niên vụ 2018/19, trong khi báo cáo tồn kho ở mức an toàn.

Theo Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam (VICOFA), sản lượng cà phê niên vụ 2017/18 của Việt Nam ước đạt 1,55 triệu tấn, tăng 100.000 tấn so với niên vụ 2016/17. Theo khảo sát của Bloomberg, sản lượng tại bốn tỉnh của khu vực Tây Nguyên, chiếm hơn 90% sản lượng cà phê của Việt Nam, sẽ tăng hơn 4% trong niên vụ 2018/19. Trong đó, sản lượng cà phê khu vực tỉnh Lâm Đồng dự báo đạt 477.000 tấn trong vụ 2018/19, tăng từ mức 454.000 tấn trong niên vụ 2017/18. 

HỒ TIÊU

Giá hạt tiêu xuất khẩu giảm hơn 30% so với 1 năm trước

Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết, những ngày đầu tháng 8/2018, giá hạt tiêu tại thị trường trong nước giảm. 

Cụ thể, ngày 10/8/2018, giá hạt tiêu đen giảm từ 3,8 – 3,9% so với ngày 31/7/2018, còn so với ngày 10/7/2018 giảm từ 3,8 – 5,8%, xuống mức thấp nhất là 49.000 VNĐ/kg tại tỉnh Gia Lai, Đồng Nai, cao nhất là 51.000 VNĐ/kg tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Giá hạt tiêu trắng đầu tháng 8/2018 giảm 7,6% so với đầu tháng 7/2018, so với cùng kỳ năm 2017 giảm mạnh 33,1%, xuống còn 85.000 VNĐ/kg.

Tới trung tuần tháng 8, giá tiêu tại các tỉnh Bình Phước, Đắk Nông chỉ còn 49.000 đồng, giá tiêu tại Đồng Nai, Gia Lai còn 48.000 đồng/kg và Bà Rịa Vũng Tàu báo giá tiêu xuống 50.000 đồng. Hiện, giá tiêu nguyên liệu đang được thu mua với mức thấp, 48.000 - 50.000 đồng/kg.

Trên thị trường thế giới, giá tiêu đang trên đà giảm mạnh nên nguy cơ rất cao trong những ngày tiếp theo, thị trường tiêu Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng, giá tiêu sẽ giảm sâu, giảm mạnh.

Theo ông Hoàng Phước Bính, Phó Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu Chư Sê (tỉnh Gia Lai), so với giá thành sản xuất của nông dân, giá tiêu đã chạm tới mức “nguy hiểm”. Bởi giá thành sản xuất tiêu bình quân hiện nay là 49.000 đồng/kg, cụ thể giá thành ở khu vực Tây Nguyên khoảng 45.000 – 47.000 đồng/kg, ở Đông Nam Bộ là hơn 50.000 đồng/kg. Có thể nói thị trường tiêu Việt Nam sắp tới phải đứng trước thách thức, nguy cơ rất cao do giá tiêu rơi vào mức giá thấp nhất trong 50 năm qua. Và để giá tiêu có thể ổn định sớm thì ngành tiêu Việt Nam cần đẩy mạnh mô hình trồng chuẩn quốc tế, khoa học để tạo ra sản phẩm tiêu chất lượng, uy tín, có được thương hiệu để cạnh tranh được sản phẩm tiêu của các quốc gia khác.

Về tình hình xuất khẩu mặt hàng này, theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu hồ tiêu tháng 8/2018 ước đạt 20 ngàn tấn, trị giá 58 triệu USD, đưa xuất khẩu hồ tiêu 8 tháng đầu năm 2018 ước đạt 173 ngàn tấn, với 577 triệu USD, tăng 13,07% về lượng và tăng 11,29% về giá trị so với cùng kỳ. Tuy nhiên, giá tiêu xuất khẩu bình quân 7 tháng đầu năm đạt 3.379 USD/tấn, giảm gần 40% so với cùng kỳ năm 2017.

Nhu cầu hạt tiêu toàn cầu dao động từ 300.000 – 350.000 tấn/năm. Việt Nam hiện vẫn có thể cung ứng trên dưới 200.000 tấn/năm, chiếm khoảng 62% – 65% tổng sản lượng tiêu thế giới. 

HẠT ĐIỀU

Giá hạt điều xuất khẩu bắt đầu phục hồi

Sau khi chạm đáy hơn một năm rưỡi, giá hạt điều xuất khẩu trong nửa đầu tháng 8 bắt đầu phục hồi trở lại khi tăng 18,3% so với cùng kỳ năm ngoái.

Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, 15 ngày đầu tháng 8, xuất khẩu hạt điều đạt 17.400 tấn, trị giá 174,88 triệu USD, tăng 30,2% về lượng và tăng 46,7% về trị giá so với 15 ngày đầu tháng 7. So với cùng kỳ năm ngoái, con số này tăng 16,3% về lượng và tăng 37,6% về trị giá.

15 ngày đầu tháng 8, giá hạt điều xuất khẩu bình quân đạt 10.015 USD/tấn, tăng 12,6% so với 15 ngày đầu tháng 7, so với cùng kỳ năm ngoái tăng 18,3%. Lũy kế từ đầu năm đến nửa đầu tháng 8, giá xuất khẩu bình quân hạt điều đạt 9.859 USD, tăng 4% so với cùng kỳ năm 2017.

Được biết, trong tháng 7/2018, xuất khẩu hạt điều đạt 32,7 nghìn tấn, trị giá 286,64 triệu USD, tăng 1,3% về lượng, nhưng giảm 2,2% về trị giá so với tháng 6/2018, so với cùng kỳ năm 2017, giảm 10,6% về lượng và giảm 24,3% về trị giá. Lũy kế 7 tháng năm 2018, xuất khẩu hạt điều đạt 207,6 nghìn tấn, trị giá 1,98 tỷ USD, tăng 10,8% về lượng và tăng 7,5% về trị giá so với 7 tháng năm 2017.

Tuy nhiên, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho hay, giá hạt điều trên thế giới vẫn chịu sức ép dư cung. Trong khi nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm điều toàn cầu chỉ tăng khoảng 5%/năm thì sản lượng sản xuất điều nhân của Việt Nam - quốc gia đứng đầu thế giới về xuất khẩu hạt điều với thị phần lên tới 60%, tăng tới 25%/năm.

Theo Hiệp hội Việt Nam, việc giá điều liên tục lao dốc thời gian qua khiến 80% doanh nghiệp chế biến tại “thủ phủ” điều Bình Dương tạm ngừng hoạt động. Còn tại Long An, chỉ còn 12 trong số 33 cơ sở hoạt động cầm chừng.

Một tồn tại khác của ngành điều Việt Nam là phụ thuộc quá nhiều vào điều nguyên liệu nhập khẩu. Ông Nguyễn Đức Thanh - nguyên Chủ tịch Vinacas cho hay, nguồn nguyên liệu điều thô dùng để chế biến của Việt Nam chủ yếu dựa vào nhập khẩu, chiếm tới 70%. Trong khi đó, một số nước như Nigeria, Bờ biển Ngà định hướng hạn chế xuất khẩu điều thô khiến giá điều nhập khẩu bị đẩy lên cao.

Việc mua bán điều thô, nhân điều trở nên phức tạp, khó kiểm soát được giá cả, các doanh nghiệp cạnh tranh mua nguyên liệu và bán phá giá sản phẩm. Điều này ảnh hưởng tới các đối tác nhập khẩu. Nhiều doanh nghiệp nhập khẩu ở Mỹ, EU gặp khó khi nhập hàng đợt sau giá thấp hơn đợt trước. Hàng tồn kho đợt trước chưa đẩy ra kịp đã phải giảm cho đợt sau. 

CAO SU

Giá xuất khẩu cao su giảm trong tháng 8

Giá xuất khẩu cao su trung bình 15 ngày đầu tháng 8/2018 ở mức 1.272 USD/tấn, thấp hơn 2,1% so với mức giá xuất khẩu trung bình 15 ngày trước đó và thấp hơn 16,1% so với mức giá xuất khẩu trung bình 15 ngày đầu tháng 8/2017.

Cục Xuất nhập khẩu ( Bộ Công thương) cho biết, trong 10 ngày giữa tháng 8/2018, giá mủ cao su nguyên liệu tại Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh tăng nhẹ so với 10 ngày trước đó.

Cụ thể, ngày 20/8/2018, Công ty cao su Phú Riềng báo giá thu mua mủ tạp và mủ nước tăng 5 đ/độ TSC so với 10 ngày trước đó, hiện giao dịch ở mức 240 đ/độ TSC đối với mủ tạp và 250 đ/độ TSC đối với mủ nước. Từ ngày 01-17/8/2018, Công ty TNHH MTV cao su Lộc Ninh 5 lần thông báo điều chỉnh giá thu mua mủ cao su

Mặc dù được hậu thuẫn bởi yếu tố tồn kho cao su Trung Quốc giảm 3,26% so với cuối tháng 7, nhưng giá xuất khẩu cao su Việt Nam vẫn tiếp tục giảm do nhu cầu thị trường thấp, căng thẳng thương mại Mỹ - Trung chưa có dấu hiệu giảm nhiệt, có thể làm giảm tăng trưởng tại Trung Quốc. Khối lượng và giá trị xuất khẩu cao su 8 tháng đạt 870.000 tấn với 1,2 tỷ USD, tăng 8,2% về khối lượng, nhưng giảm 11,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. 

Trung Quốc vẫn là thị trường truyền thống của nước ta, nhưng xuất khẩu cao su sang một số nước như Ấn Độ, Indonesia lại có mức tăng nhanh và được giá. 

(TTGCVT /T.Hiền tổng hợp) 

 

 

Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (024) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (024) 39762593 
Email:ttgcvattu1989@gmail.com