Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Thị trường hàng hóa nguyên liệu trong nước tháng 7/2018
Cập nhật: 1-8-2018

VÀNG

Giá vàng giữ vững mốc xấp xỉ 37 triệu đồng trong nhiều phiên giao dịch


Biến động chậm lại của giá vàng trong nước tháng 7 và các tháng trước đó không nằm ngoài dự đoán của giới đầu tư và các nhà quan sát, khi thị trường giờ đây đã gần như "vô cảm" với các biến động của kể cả thị trường ngoại tệ lẫn thế giới. 

Thậm chí thị trường vàng thế giới tháng qua có lúc xuống đáy 1 năm, khi lên đỉnh cao vài tháng, cũng không làm cho thị trường vàng trong nước xảy ra bất kỳ cơn sóng nào. Nhưng cũng chính bởi sự bình lặng ấy mà khoảng cách chênh lệch giữa vàng trong nước và thế giới ngày càng nới rộng, chốt tháng 7 ở mức 2,6 triệu đồng/lượng (trước đó có phiên chênh lệch lên 2,8 triệu), trong khi cuối tháng 6 mới dừng ở 2,1 triệu đồng/lượng và cuối tháng 5 là chỉ hơn 1 triệu đồng/lượng.

Trong tuần đầu tháng 7/2018, giá vàng miếng trong nước chuyển biến chậm trái ngược với đà tăng của giá vàng thế giới. Mức giá cao nhất của tuần này là 36,70 – 36,91 triệu đồng/lượng(mua vào – bán ra vào sáng 6/7). Với diễn biến trên, xuyên suốt các phiên trong tuần ghi nhận sự yên ả của thị trường và thiếu những giao dịch với số lượng lớn. Với tâm thế chờ thêm thông tin rõ ràng hơn từ thị trường quốc tế, đặc biệt sau ngày nghỉ lễ độc lập Mỹ,có thể sự quan tâm của các nhà đầu tư trên toàn cầu sẽ quay trở lại thị trường. Ghi nhận đến cuối phiên 5-7, lượng khách theo chiều bán vàng ra chiếm khoảng 65% số lượng khách tham gia giao dịch tại các hệ thống kinh doanh vàng. Với mức giá bán vào sáng 6-7, giá vàng trong nước cao hơn giá thế giới khoảng 2,1 triệu đồng mỗi lượng (chưa tính thuế phí).

Bước sang tuần thứ 2, giá vàng đã đạt mốc trên 37 triệu đồng/lượng vào phiên giao dịch ngày thứ 2 của tuần này. Mặc dù mức chênh lệch không nhiều, nhưng theo đánh giá của Doji, càng về các phiên cuối tuần, giá vàng vẫn chứng tỏ sức hấp dẫn khi nhiều nhà đầu tư vẫn quyết định tham gia giao dịch trên thị trường. Kim loại quý này đã thu hút số lượng nhà đầu tư tham gia giao dịch theo chiều mua vào chiếm ưu thế, chiếm khoảng 65% trên tổng lượng khách tham gia giao dịch tại Doji. Kết thúc tuần, giá vàng trong nước đứng ở mức 37 triệu đồng và còn cao hơn giá vàng thế giới khoảng 2,5 triệu đồng mỗi lượng. 

Trung tuần tháng 7, giá vàng SJC của công ty VBĐQ Sài Gòn đánh mất mốc 37 triệu đồng và quay trở lại mức giá như tuần đầu tháng 7, đặc biệt xuống mức 36,74 triệu đồng vào phiên kết thúc tuần (20/7 – giá bán ra). Đặc biệt, so với ngày đầu tuần, mỗi lượng vàng điều chỉnh giảm khoảng 260 nghìn đồng, đồng thời ghi nhận đây là mức giảm giá mạnh nhất trong  khoảng 3 tuần qua. Giá vàng giảm là do được tác động cộng hưởng bởi nhiều yếu tố từ thị trường vàng quốc tế. Theo Doji, đà giảm tạo tâm lý khá do dự cho nhà đầu tư, động thái bán vàng ra luôn được lựa chọn, tỷ lệ chiếm khoảng 70% trên tổng số khách tham gia giao dịch tại hệ thống. Với mức giá sáng 20/7, giá vàng trong nước  cao hơn giá thế giới khoảng 3 triệu đồng mỗi lượng. 

Tuần cuối cùng của tháng 7, giá vàng trong nước liên tục tăng, giảm xen kẽ qua các phiên với mức biến động không lớn. Duy nhất có phiên giao dịch ngày 26/7, giá vàng chạm mốc 37 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra. Các phiên còn lại chủ yếu xoay quanh mốc trên dưới 36,9 triệu đồng/lượng. Theo Doji, giá vàng trong nước diễn biến chậm hơn giá vàng thế giới. Tuy nhiên, cú huých tăng giá của vàng thế giới đã cải thiện phần nào tâm lý cho nhà đầu tư trong nước. Nhiều tín hiệu trong các phiên cho thấy nhà đầu tư đã quay trở lại thị trường với nhu cầu mua vào tăng lên. 

Đối với người Việt Nam, vàng vẫn là một kênh tài chính được nhiều người quan tâm. Theo số liệu thống kê của Hội đồng Vàng Thế giới năm 2017, Việt Nam xếp thứ 14 trên thế giới về lượng tiêu thụ vàng trên đầu người. Mức xếp hạng trên đã phản ánh tâm lý xem vàng là một loại tài sản có tính tiết kiệm, đầu tư vẫn còn phổ biến tại Việt Nam. Bên cạnh đó, mục đích thứ hai là dùng cho nhu cầu trang sức vẫn còn rất lớn.

Tính về số lượng, vàng miếng và tiền vàng vẫn chiếm tới 70% tổng tiêu thụ vàng tại Việt Nam. Tuy nhiên, con số đã này bắt đầu giảm mạnh từ sau giai đoạn 2010-2013 khi Chính phủ ban hành các quy định nhằm kiểm soát thị trường vàng và chấm dứt tình trạng “vàng hóa” trong hệ thống ngân hàng. Sự đi xuống của nhu cầu vàng miếng cũng đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của vàng trang sức tại Việt Nam. Trong giai đoạn 2012-2017 khi quy mô thị trường vàng miếng sụt giảm với tỷ lệ tăng trưởng kép giảm 13% thì thị trường trang sức vàng tăng trưởng kép 10% mỗi năm.

ĐÔ LA

Mức thấp nhất của tỷ giá trung tâm là 22.635, mức cao nhất là 22.662 đồng/USD. Giá USD tại ngân hàng biến động trong tháng 7. 

Tiếp nối trạng thái biến động trong tháng 6, bước sang tháng 7, tỷ giá điều hành của Ngân hàng NN tiếp tục được điều chỉnh liên tục. Diễn biến tăng là chủ đạo trong nhiều phiên giao dịch. Đặc biệt trong tuần đầu tháng 7, sau tuyên bố bán USD can thiệp thị trường cùng với việc giảm giá bán USD xuống 23.050 đồng/USD, Ngân hàng Nhà nước bắt đầu nhận đăng ký mua ngoại tệ của các ngân hàng. Sau đó vài phiên, nhiều ngân hàng thương mại đã bắt đầu đăng ký mua USD và Ngân hàng Nhà nước đã đáp ứng đầy đủ, kịp thời nguồn ngoại tệ cần thiết của các ngân hàng. 

Mức thấp nhất của tỷ giá trung tâm trong tháng 7 là 22.635 đồng/USD (ngày 2/7). Mức cao nhất của tỷ giá là 22.669 đồng/USD (ngày 31/7). 

Trước sự điều chỉnh liên tục của tỷ giá trung tâm, tại các ngân hàng thương mại lớn giá USD cũng được cập nhật liên tục. Trong tuần đầu, giá USD giao dịch phổ biến ở mức 23.000 đồng (mua) và 23.070 đồng (bán). Tuần thứ 2, mức giá xoay quanh mốc 23.010 đồng (mua) và 23.080 đồng (bán). Tuần thứ 3, giá mua bán USD tương tự như tuần thứ 2. Tuần cuối cùng, giá USD được giao dịch phổ biến là 23.160 đồng (mua) và 23.240 đồng (bán).

THÉP XÂY DỰNG

Sản lượng thép được dự báo tăng mạnh vào cuối năm 2018

Mới đây, theo dự báo của Bộ Công thương, trong năm 2018, với một loạt dự án được đưa vào hoạt động trong những tháng cuối năm, ngành thép sẽ tiếp tục tăng trưởng với mức tăng khoảng 20% so với năm 2017. Cụ thể, theo Bộ Công thương, trong 6 tháng đầu năm, sản lượng sản xuất sắt thép có mức tăng trưởng khá, trong đó, thép cán; thép thô; thép thanh, thép góc tăng lần lượt là 5,3%; 43,7% và 16% so với cùng kỳ năm trước. Sự tăng trưởng tốt trong 2 quý đầu năm 2018 chủ yếu là do kinh tế trong nước ổn định, nhiều dự án bất động sản, xây dựng, hạ tầng được triển khai, đặc biệt là việc giải ngân vốn đầu tư công đã được Chính phủ chú trọng, triển khai từ đầu năm.

Cũng trong 6 tháng qua, sản lượng sản xuất - bán hàng của các thành viên Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) đã tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm 2017. Cụ thể, các thành viên Hiệp hội đã sản xuất 6,2 triệu tấn tấn thép thô và tiêu thụ 6,28 triệu tấn. Lượng sản xuất thép thành phẩm các loại đạt 11,7 triệu tấn, tăng 24,8% so với cùng kỳ 2017. Lượng bán tăng 36,2% so với cùng kỳ năm 2017, đạt 10,6 triệu tấn. 

Về tình hình xuất nhập khẩu mặt hàng này, theo số liệu của Tổng cục Hải quan, trong 6 tháng đầu năm 2018 xuất khẩu sắt thép của Việt Nam ra nước ngoài tăng rất mạnh 38,3% về lượng và tăng 54,8% về kim ngạch so với 6 tháng đầu năm  2017, đạt 2,81 triệu tấn, tương đương 2,11 tỷ USD.Giá xuất khẩu sắt thép tháng 6 đạt 772,6 USD/tấn, tăng nhẹ 0,7% so với tháng 5/2018 nhưng tăng 15,7% so với tháng 6/2017. Tính trung bình cả 6 tháng đầu năm, giá sắt thép xuất khẩu đạt 748 USD/tấn, tăng 12% so với cùng kỳ.

Sắt thép của Việt Nam xuất khẩu nhiều nhất sang thị trường Campuchia chiếm 21,2% trong tổng lượng thép xuất khẩu của cả nước và chiếm 18,2% trong tổng kim ngạch, đạt 595.760 tấn, trị giá 383,76 triệu USD, tăng mạnh 50% về lượng và tăng 78,4% về kim ngạch so với cùng kỳ. Giá xuất sang Campuchia tăng 18,9%, đạt 644,2 USD/tấn. Mỹ là thị trường tiêu thụ sắt thép lớn thứ 2 của Việt Nam chiếm 15,6% trong tổng lượng sắt thép xuất khẩu của cả nước và chiếm 17,8% trong tổng kim ngạch, đạt 439.087 tấn, tương đương 375,63 triệu USD, tăng rất mạnh 75,2% về lượng và tăng 83,5% về kim ngạch.

Đặc biệt theo thống kê mới nhất của TCHQ, lũy kế đến ngày 15/7/2018, lượng sắt thép xuất khẩu tăng cao hơn so với cùng kỳ năm 2017, đạt 2,25 tỷ USD, cao hơn nhiều so với cùng kỳ năm 2017 (đạt 1,43 tỷ USD).

Về giá của mặt hàng này trong tháng 7, nhìn chung ít biến động so với tháng 6/2018. Giá bán tại các nhà máy sản xuất thép dao động ở mức 11.300 – 14.500 đồng/kg (giá giao tại nhà máy, chưa có 10% VAT, chiết khấu bán hàng).

Tuy nhiên, trong tháng 7/2018, ngành thép liên tiếp đón “hung tin” khi phải đối mặt với nhiều vụ điều tra bán phá giá từ các nước nhập khẩu. Cụ thể, ngày 24/7, Tòa Trọng tài Thương mại Quốc tế Canada (CITT) đã ra phán quyết về mức độ ảnh hưởng của thép cuộn cán nguội Trung Quốc, Hàn Quốc và Việt Nam đối với ngành công nghiệp sản xuất thép trong nước. Ngoài thép cán nguội, CITT và CBSA cũng đang điều tra một số sản phẩm thép ống hàn carbon của Việt Nam, Philippines, Pakistan và Thổ Nhĩ Kỳ với thời hạn đưa ra phán quyết lần lượt là vào ngày 18/9 và 18/10 tới.

Trước đó, ngày 18/7, Ủy ban châu Âu (EC) đã thông báo tới WTO về việc Liên minh châu Âu (EU) sẽ áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời trong vụ việc điều tra, áp dụng biện pháp tự vệ với một số sản phẩm thép nhập khẩu. Thời gian áp dụng biện pháp là 200 ngày, tính từ ngày 19/7/2018. Theo đó, có 28 nhóm sản phẩm bị điều tra, trong đó mỗi nhóm sẽ được quy định một mức hạn ngạch riêng, đối với lượng hàng hóa vượt hạn ngạch, mức thuế áp dụng là 25%. Việt Nam cũng có 3 nhóm sản phẩm bị áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời, gồm: thép cán nguội hợp kim và không hợp kim, thép tấm mạ kim loại và thép không gỉ cán nguội dạng tấm và thanh.

Cũng trong tháng 7/2018, Cục Ngoại thương (DFT) – Bộ Thương mại Thái Lan đã khởi xướng điều tra gia hạn lần hai biện pháp tự vệ đối với sản phẩm thép tấm không hợp kim cán nóng dạng cuộn và không cuộn, có hoặc không có hoa văn, có độ dày 0.9-50,0 mm và chiều rộng 100-3.048 mm.

Trong bối cảnh căng thẳng thương mại Mỹ-Trung đang diễn ra, trước những quan ngại về việc thép Trung Quốc sẽ tìm đường đi vòng sang Mỹ qua Việt Nam hoặc đưa vào Việt Nam cạnh tranh với các sản phẩm nội địa, Hiệp hội Thép Việt Nam vừa qua đã khuyến cáo các doanh nghiệp sản xuất thép Việt Nam không nên tiếp tay cho việc chuyển xuất xứ từ thép Trung Quốc sang Việt Nam để xuất khẩu sang các nước khác.

Với các DN, dù khó khăn có lớn đến đâu thì giải pháp khả thi nhất là đối mặt một cách khôn ngoan. Theo như nhiều chuyên gia, DN XK thép phải nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm để vươn tới thị trường nước ngoài. Các DN cũng cần đẩy mạnh hơn nữa việc nghiên cứu, bố trí thị trường XK hợp lý, tránh tập trung chủ yếu vào một vài thị trường gây ra tình trạng XK tăng đột biến, tạo cớ cho các nước NK tiến hành khởi xướng điều tra. Ngoài ra, nâng cao ý thức phải tuân thủ luật lệ quốc tế, nâng cao hiểu biết, từ đó đổi thay trong cách thức XK hay chiến lược của DN cũng là điều cần tính toán kỹ.

Từ câu chuyện của ngành thép, nhìn rộng ra dễ thấy, để vững vàng hội nhập, các ngành hàng XK khác của Việt Nam cũng cần rốt ráo, nhanh chóng chuẩn bị cho mình một hành trang đủ đầy, không thể đợi "nước đến chân mới nhảy".

XI MĂNG

7 tháng: Tiêu thụ xi măng đạt khoảng 58,28 triệu tấn

Theo số liệu của Vụ Vật liệu xây dựng trong 7 tháng năm 2018 tiêu thụ sản phẩm xi măng ở cả thị trường nội địa và xuất khẩu ước đạt khoảng 58,28 triệu tấn, bằng 69% kế hoạch của cả năm với mục tiêu đặt ra tiêu thụ từ 83 - 85 triệu tấn sản phẩm xi măng.

Tính chung trong 7 tháng năm 2018, lượng sản phẩm xi măng xuất khẩu ước đạt 17,84 triệu tấn, tăng 55% so với cùng kỳ và gần cán đích kế hoạch xuất khẩu sản phẩm xi măng của cả năm 2018 với mục tiêu xuất khẩu từ 18 -19 triệu tấn.

Với sự tương đối ổn định tại thị trường tiêu thụ nội địa và những đột phá mới ấn tượng tại thị trường xuất khẩu thì việc đạt và vượt mục tiêu này là hoàn toàn khả thi.

Tiêu thụ sản phẩm xi măng trong nước tháng 7/2018 ước đạt khoảng 5,91 triệu tấn, tăng 26% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, riêng Tổng công ty Công nghiệp xi măng Việt Nam ( Vicem) tiêu thụ tháng 7/2018 ước đạt 1,91 triệu tấn. Xuất khẩu sản phẩm xi măng tháng 7/2018 ước đạt khoảng 2,1 triệu tấn, tăng 43% so với cùng kỳ năm 2017.

Diễn biến tiêu thụ sản phẩm xi măng trên thị trường cho thấy, mặc dù sản lượng tiêu thụ vẫn giữ được đà tăng trưởng so với cùng kỳ năm 2017 nhưng lượng tiêu thụ đã giảm nhẹ so với tháng 6, khoảng gần 800.000 tấn (7,92 triệu tấn/8,71 triệu tấn). Đáng chú ý, tại thị trường nội địa tiêu thụ sản phẩm xi măng chỉ đạt 5,91 triệu tấn trong tháng 7 so với 6,91 triệu tấn trong tháng 6, giảm 1 triệu tấn.

Trong khi đó, xuất khẩu sản phẩm xi măng vẫn giữ được đà tăng trưởng mạnh khi trong tháng này đã xuất khẩu được 2,1 triệu tấn sản phẩm xi măng, tăng tới 43% so với cùng kỳ năm 2017 và cũng tăng khoảng 300.000 tấn so với tháng 6/2018.

Về giá cả mặt hàng xi măng trong tháng 7, theo thông tin từ Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) trong 15 ngày đầu tháng do giá nhiên liệu đầu vào tăng, giá bán trung bình của một số chủng loại xi măng như bao PCB30 là 1,18 triệu đồng/tấn, PCB40 là 1,34 triệu đồng/tấn. Mức giá trên ổn định cho đến hết tháng 7. 

XĂNG DẦU

Giá xăng giữ nguyên ở cả hai kỳ điều chỉnh, giá dầu có 1 lần tăng và 1 lần giảm

Căn cứ vào diễn biến giá xăng dầu thế giới, chiều ngày 7/7, Liên Bộ Công Thương - Tài chính đã gửi thông báo đến các đơn vị kinh doanh xăng dầu đầu mối. Theo đó,  xăng E5 RON92 và xăng Ron 95 giữ ổn định giá; dầu diesel 0.05S giảm 05 đồng/lít; dầu hỏa tăng 189 đồng/lít; dầu mazut 180CST 3.5S tăng 319 đồng/kg. Xăng E5 RON92 giá bán không cao hơn 19.611 đồng/lít; Xăng E5 RON92 giá bán không cao hơn 19.611 đồng/lít; Dầu diesel 0.05S không cao hơn 17.455 đồng/lít; Dầu hỏa không cao hơn 16.243 đồng/lít;  Dầu mazut 180CST 3.5S giá bán không cao hơn 14.756 đồng/kg.

Giá etanol E100 đưa vào tính giá cơ sở mặt hàng xăng E5 RON92 theo Công văn số 800/BTC-QLG ngày 06/7/ 2018 của Bộ Tài chính về điều hành kinh doanh xăng dầu là 14.916 đồng/lít (chưa có thuế GTGT).

Tại kỳ điều chỉnh lần thứ 2, từ 15h ngày 23/7, Liên Bộ Công Thương - Tài chính cũng đã có thông báo về quyết định về việc điều chỉnh giá xăng dầu với giá Xăng E5 RON92 và xăng Ron 95 giữ ổn định giá; Dầu diesel 0.05S giảm 213 đồng/lít; Dầu hỏa giảm 69 đồng/lít; Dầu mazut 180CST 3.5S giữ ổn định giá. Cụ thể, thông báo của Liên bộ Công Thương - Tài chính về việc điều hành giá bán lẻ xăng dầu trong phiên điều chỉnh ngày 23/7 cho biết: Xăng E5 RON92 giữ ổn định giá, sau khi thực hiện trích lập và chi sử dụng Quỹ bình ổn, xăng E5 Ron 92 không cao hơn 19.611 đồng/lít;Xăng RON95  giữ ổn định giá và giá bán không cao hơn 21.177 đồng/lít;Dầu diesel 0.05S giảm 213 đồng/lít- giá bán không cao hơn 17.242 đồng/lít; Dầu hỏa giảm 69 đồng/lít với giá bán không cao hơn 16.174 đồng/lít; Dầu mazut 180CST 3.5S giữ ổn định, giá bán không cao hơn 14.756 đồng/kg.

Đồng thời, Liên bộ quyết định giữ nguyên mức trích lập Quỹ Bình ổn giá xăng dầu đối với các mặt hàng xăng dầu như hiện hành. Chi sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu: Xăng E5 RON92: 853 đồng/lít (kỳ trước chi sử dụng 922 đồng/lít); Xăng RON95: 95 đồng/lít (kỳ trước chi sử dụng 161 đồng/lít); Dầu mazut: 70 đồng/kg (kỳ trước chi sử dụng 186 đồng/kg).

Liên quan đến khai thác dầu thô, theo báo cáo tình hình sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2018 của Bộ Công Thương, giá dầu thô trung bình 6 tháng đầu năm 2018 tăng 36% so với cùng kỳ năm 2017, giúp hoạt động sản xuất, kinh doanh của ngành có bước tăng trưởng tốt, hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kế hoạch đề ra.

Theo đó, sản lượng khai thác dầu thô 6 tháng đầu năm đạt 7,1 triệu tấn, giảm 9,7% so với cùng kỳ năm 2017, nhưng đã vượt 3% so với kế hoạch 6 tháng và bằng 54,3% kế hoạch năm 2018. Giá dầu thô trung bình 6 tháng đầu năm 2018 là 73 USD/thùng, vượt 18,6 USD/thùng (tương đương 30,1% so với cùng kỳ năm 2017 là 54,4 USD/thùng).

GAS

Giá gas trong tháng 7 tăng thêm 1.000 đồng mỗi bình 12kg



Chiều 30/6, các đơn vị đầu mối kinh doanh, phân phối mặt hàng gas tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phố phía Nam đã công bố giá gas tháng 7/2018 tăng 83 đồng/kg (đã bao gồm VAT), tương đương 1.000 đồng/bình 12kg.

Tương tự, Chi hội gas miền Nam cũng thông báo, từ ngày 1/7/2018, giá gas bán lẻ tối đa đến tay người tiêu dùng của một số thương hiệu, gồm: PetroVietnam, Petrolimex, Gas Dầu khí, Sp Gas… dao động ở mức 340.000-350.000 đồng/bình 12kg.

Ngay khi cập nhật giá gas mới, các tổng công ty, doanh nghiệp trong nước đã triển khai thông báo điều chỉnh giá gas đến các chi nhánh cửa hàng, đại lý bán lẻ, để đảm bảo tuân thủ quy luật thị trường và quyền lợi của người tiêu dùng. 

Ô TÔ

Việt Nam nhập khẩu 5.700 ô tô trong tháng 7



Sau 6 tháng đầu năm 2018, mới chỉ có Honda và Chevrolet thông quan được một số mẫu xe; nhưng bước sang quý III năm nay, các thương hiệu khác, như Ford, Toyota và Mitsubishi, hứa hẹn có xe nhập khẩu cung cấp cho thị trường. Tuy nhiên, với số lượng không nhiều, các xe này cũng chưa thể giúp giải tỏa “cơn khát” nguồn cung cấp của thị trường. Điều này khiến dự báo cả năm 2018 sẽ chỉ có tổng cộng gần 200.000 xe đến tay người tiêu dùng, 

Tuy rải rác có thêm các nhà nhập khẩu ôtô đáp ứng được yêu cầu của Nghị định 116, chuẩn bị thông quan xe nhập khẩu, nhưng các hãng vẫn đang đề xuất nới lỏng các quy định này, đặc biệt là việc tăng thời gian hiệu lực của việc kiểm định kỹ thuật (có hiệu lực trong 6 tháng) cho từng kiểu loại xe, thay vì bắt buộc thực hiện cho từng lô xe nhập khẩu, ở từng cảng khác nhau.

Đầu tháng 7, có một số thay đổi về giá xe, như GM Việt Nam tiếp tục các mức ưu đãi với toàn bộ các dòng xe, từ xe lắp ráp (Spark, Capiva, Cruze) cho tới các mẫu xe nhập khẩu (Colorado, Trailblazer); trong khi Toyota có kế hoạch tăng giá các mẫu Fortuner, Hilux...

Trong khi đó, hàng loạt thương hiệu xe bình dân phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu hiện vẫn chưa có “động tĩnh” gì, như Suzuki, Isuzu, Nissan...

Theo thống kê mới nhất của TCHQ, trong tháng 7 này, Việt Nam đã nhập gần 5.700 ô tô nguyên chiếc các loại. Đây là số lượng ô tô nhập khẩu nhiều nhất (tính theo tháng) kể từ đầu năm 2018 đến nay. Nếu như các tháng trước đó, lượng xe nhập về chủ yếu từ Thái Lan, thì sang tháng 7, ô tô nguyên chiếc xuất xứ từ Indonesia bắt đầu được nhập về Việt Nam sau một thời gian hạn chế bởi các quy định mới.

Về tình hình tiêu thụ nội địa, theo thống kê của Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), trong tháng 6/2018, doanh số bán hàng của toàn thị trường đạt 21.913 xe, giảm 5% so với tháng 5/2018,  tăng 10% so với tháng 6/2017. Cụ thể, trong số 21.913 xe được bán ra có đến 15.185 xe du lịch; 6.281 xe thương mại và 447 xe chuyên dụng. Doanh số xe du lịch giảm 1%; xe thương mại giảm 8% và xe chuyên dụng giảm 42% so với tháng trước. 

Sản lượng của xe lắp ráp trong nước đạt 19.194 xe, giảm 1% so với tháng trước và số lượng xe nhập khẩu nguyên chiếc là 2.719 xe, giảm 24% so với tháng trước.  

VAMA cho biết, tổng doanh số bán hàng của toàn thị trường tính đến hết tháng 6/2018 giảm 6% so với cùng kì năm ngoái. Xe ô tô du lịch tăng 6%; xe thương mại giảm 21% và xe chuyên dụng giảm 40% so với cùng kì năm ngoái.  

Tính đến hết tháng 6/2018, doanh số bán hàng của xe lắp ráp trong nước tăng 10% trong khi xe nhập khẩu giảm 49% so với cùng kì năm ngoái.  

Cũng theo báo cáo của VAMA, kết thúc tháng 6/2018, Toyota tiếp tục chiếm ngôi đầu bảng là thương hiệu tiêu thụ xe nhiều nhất với 4.268 xe. Vinamazda đã vươn lên vị trí số 2 với 2.681 xe, đẩy Thaco Truck xuống số 4 (2.311 xe) so với tháng trước đó. Ở vị trí số 3, Thaco Kia bán được 2.354 xe, Vị trí số 5 thuộc về Honda Việt Nam với số xe bán được là 2.262 xe. Ở vị trí số 3, Thaco Kia bán được 2.354 xe, giảm 1% so với tháng trước đó nhưng đạt tăng trưởng 26% so với cùng kỳ năm ngoái. Vị trí số 5 là Honda Việt Nam với số xe bán được là 2.262 xe, tăng trưởng 128% so với cùng kỳ.

THỦY SẢN 

Xuất khẩu thủy sản ước đạt 4,63 tỷ USD, tăng so với cùng kỳ 2017

Bước sang tháng 7, Bộ NN&PTNT cho biết kim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản tháng 7/2018 ước đạt 2,85 tỷ USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu 7 tháng đầu năm 2018 đạt 22,2 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm 2017. Riêng xuất khẩu thủy sản ước đạt 4,63 tỷ USD, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm 2017.

Trong xuất khẩu thủy sản, ngành hàng cá tra vẫn là mặt hàng mũi nhọn cùng với xuất khẩu tôm. Tháng 6/2018, giá cá tra nguyên liệu tại ĐBSCL giao dịch khoảng 28.000 - 30.000 đồng/kg, giảm khoảng 2.000 đ/kg so với tháng trước. Nhiều doanh nghiệp đã giảm thu gom cá nguyên liệu từ các hộ nuôi. Bước sang tháng 7, giá cá tra nguyên liệu có xu hướng ổn định so với tháng trước. Tại Đồng Tháp, Bến Tre, Hậu Giang, TP Cần Thơ, giá cá tra nguyên liệu kích cỡ từ 700-800 gram đang được các công ty mua trả tiền mặt từ 26.500-28.000 đồng/kg. Giá cá tra giống cũng giảm mạnh từ 60.000-70.000 đồng/kg giảm xuống còn từ 25.000-28.000 đồng/kg. Theo một số doanh nghiệp, khi giá cá tra lên cao đến 32.000 đồng/kg, các nhà nhập khẩu Trung Quốc tạm ngưng mua để tiêu thụ lượng cá tra tồn kho đã nhập trước đó. Điều này đã làm giá cá tra trong nước giảm vì Trung Quốc là thị trường tiêu thụ cá tra lớn nhất của Việt Nam. Tuy nhiên giá thành sản xuất cá tra là 22.133 đồng/kg, tuy giảm nhưng nông dân vẫn có lời. 

Về mặt hàng tôm, trong tháng 7/2017, giá tôm thẻ chân trắng tăng trở lại, thêm 20.000 đồng mỗi kg. Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bến Tre, hiện giá tôm thẻ chân trắng trên địa bàn tỉnh đang tăng trở lại sau những tháng giảm giá kể từ đầu năm nay.

Ông Nguyễn Thanh Phong, xã Thạnh Trị, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, đang nuôi 6.000m2 mặt nước tôm thẻ chân trắng theo hình thức thâm canh cho biết giá tôm thẻ chân trắng đang dao động 80.000-85.000 đồng/kg, loại 100 con/kg. Đây là mức giá cao hơn khoảng 20.000 đồng/kg so với giá trung bình từ đầu năm đến cuối tháng Sáu vừa qua. 

Các hộ nuôi tôm trên địa bàn tỉnh , dù giá tăng trở lại nhưng người nuôi thẻ chân trắng vẫn không có lãi bởi giá bán hiện tại tương đương với giá thành sản xuất. Mặt khác, thời điểm này, hầu hết các ao tôm chỉ mới thả được từ 2-2,5 tháng nên kích cỡ hầu hết các ao chưa đạt loại 100 con/kg. Ngoài ra, nếu so với giá bán cùng thời điểm năm ngoái thì giá hiện vẫn thấp hơn khoảng 20.000 đồng/kg. 

Theo nhận định của các doanh nghiệp và ngành chức năng, do nhu cầu tại thị trường Mỹ sụt giảm bởi tồn kho cao, trong khi Trung Quốc tăng cường kiểm soát tình trạng buôn lậu tôm, tôm tiêu thụ qua đường tiểu ngạch gặp khó khăn. Tuy nhiên, theo dự báo, đến tháng Tám hoặc tháng Chín, giá tôm thẻ chân trắng sẽ tăng khoảng 20% so với mức giá thấp nhất trong tháng Sáu. 

LÚA GẠO

Gạo vẫn là một trong các mặt hàng tăng trưởng XK tốt ước đạt 3,87 triệu tấn với 1,96 tỷ USD



Theo báo cáo mới nhất của Bộ NN & PTNT, xuất khẩu nông lâm thủy sản 7 tháng ước đạt 22,2 tỷ USD. Trong đó, xuất khẩu gạo vẫn là một trong các mặt hàng tăng trưởng XK tốt ước đạt 3,87 triệu tấn với 1,96 tỷ USD, tăng 12,2% về khối lượng và 29,2% về giá trị so với cùng kỳ 2017 . Trung Quốc tiếp tục đứng vị trí thứ nhất nhập khẩu gạo của Việt Nam với 26,8% thị phần. 

Trong tháng 7, nhu cầu gạo nguyên liệu phục vụ xuất khẩu giảm do các doanh nghiệp đã hoàn tất các phiếu xuất khẩu cho Indonesia và Philippines.

Trong khi đó, nguồn cung trong nước tăng từ vụ Hè Thu khiến giá gạo trắng 5% tấm còn 385 USD/tấn, giảm 14,4% so với tháng trước, thấp hơn giá gạo cùng loại của Thái Lan (397 USD/tấn) và Ấn Độ (410 USD/tấn). 

Giá gạo xuất khẩu tại Ấn Độ giảm xuống do đồng Rupee tiếp tục suy yếu và nhu cầu giảm do người mua đang chờ đợi giá giảm sâu hơn nữa. Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam giảm tiếp do nguồn cung thu hoạch lúa Hè Thu đang tăng. 

Dự báo, thị trường lúa gạo trong nước sẽ sôi động vào các tháng cuối năm do nhu cầu tiêu thụ tăng từ các thị trường nhập khẩu. Cụ thể, thị trường Philippines với nhu cầu nhập thêm 500.000 tấn gạo vào tháng 12; Iraq sẽ tăng nhập khẩu bởi nước này đang phải cắt giảm diện tích canh tác lúa để đối phó với tình trạng thiếu nước; các nước châu Phi vẫn có nhu cầu nhập khẩu gạo tăng để đáp ứng nhu cầu nội địa ngày càng cao…. 

Ở mức giá này, gạo Việt Nam đang dần lấy lại sức cạnh tranh với Thái Lan và Ấn Độ, đặc biệt là khi thị trường Ấn Độ bắt đầu đà tăng giá. “Nông dân đang trong thời kỳ thu hoạch vụ lúa Hè Thu nhưng vì gặp mưa lớn nên tốc độ bị chậm lại, giúp giá lúa trong nước ổn định trở lại,” một thương lái ở TP.HCM cho biết.

Giới thương lái cho biết nông dân tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, khu vực trồng lúa lớn nhất của Việt Nam, đến nay đã thu hoạch được khoảng 50% diện tích lúa Hè Thu.

Trong tháng 7, vượt qua các doanh nghiệp tên tuổi, là đối thủ cạnh tranh từ Trung Quốc, Thái Lan, Úc, Công ty cổ phần tập đoàn Tân Long đã trúng thầu xuất 60.000 tấn gạo lứt Japonica (loại gạo có giống từ Nhật Bản) sang thị trường khó tính Hàn Quốc. Đây như một câu chuyện ngoạn mục của một doanh nghiệp tư nhân. Cùng với loại gạo chất lượng cao Japonica, Tập đoàn Tân Long cũng trúng thêm 2.800 tấn gạo trắng hạt dài trong đợt đấu thầu vừa qua.

Điều này cũng cho thấy, việc “cởi trói” các điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo của Chính phủ đã tạo động lực cho các doanh nghiệp tư nhân phát huy được tính năng động, thể hiện năng lực cạnh tranh, tìm kiếm thị trường, hạn chế sự thụ thuộc vào VFA và các doanh nghiệp lớn như Vinafood. Theo các doanh nghiệp trong ngành, loại gạo Japonica xuất sang Hàn Quốc có giá xuất khẩu trên 700 USD/tấn. Đây cũng là một mức giá vào nhóm cao nhất mà gạo Việt Nam xuất khẩu. 

CÀ PHÊ

Xuất khẩu cà phê niên vụ 2017 – 2018 dự báo giảm vì giá thấp nhất 50 năm

Theo ước tính của Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam (Vicofa), kim ngạch xuất khẩu cà phê niên vụ 2017 – 2018 sẽ giảm 10,5% so với niên vụ trước vì giá cà phê nhân đang ở mức rất thấp. Cụ thể, Vicofa ước tính Việt Nam sẽ xuất khẩu được 1,5 triệu tấn cà phê trong niên vụ 2017 – 2018, với kim ngạch đạt khoảng 3 tỷ USD. So với vụ trước, xuất khẩu cà phê tăng 0,8% về khối lượng nhưng lại giảm 10,5% về giá trị.

Kim ngạch xuất khẩu giảm chủ yếu do giá cà phê nhân đang ở mức thấp nhất trong vòng 50 năm qua. Tính đến ngày 26/7, giá thu mua cà phê nhân xô tại các tỉnh Tây Nguyên dao động trong khoảng 34.600 – 35.500 đồng/kg, với giá giao về các kho quanh TP.HCM chỉ đạt 36.700 đồng/kg.

Về sản lượng, Vicofa ước tính Việt Nam sẽ sản xuất được 1,55 triệu tấn cà phê trong niên vụ hiện tại, tăng 100.000 tấn so với niên vụ 2016 – 2017.

Hiệp hội cho biết sản lượng chỉ tăng nhẹ do các địa phương vẫn đang trong thời kỳ tái canh cải tạo vườn cây cà phê nên nhiều vườn chưa cho thu hoạch. Hơn nữa, một số diện tích tái canh lại chuyển sang trồng sầu riêng, bơ, chanh leo và cây khác có giá trị cao hơn, dẫn tới diện tích cà phê giảm. Tuy nhiên, theo chủ trương của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Vicofa vẫn giữ mục tiêu diện tích trồng cà phê cả nước quanh mức 600.000 ha.

Một nguyên nhân quan trọng khác là giá cà phê nhân thấp nhất trong vòng 50 năm trong khi chi phí như nhân công, xăng dầu và các dịch vụ, phân bón, thuốc trừ sâu tăng nên giá bán hiện nay xuống thấp hơn cả giá thành sản xuất. Vì vậy, người nông dân không chú tâm vào chăm bón gây ảnh hưởng tới năng suất của mùa vụ.

Về cơ cấu sản phẩm, Vicofa cho biết xuất khẩu cà phê chế biến của Việt Nam trong mấy năm qua đã tăng lên nhanh chóng. Trong 5 năm tới, lượng xuất khẩu cà phê đã qua chế biến dự báo sẽ tăng lên 200.000 tấn, gấp đôi mức hiện tại. 

Ngoài ra, Hiệp hội ước tính lượng tiêu thụ cà phê trong nước cũng tăng lên 15%, khiến lượng cà phê nhân xuất khẩu giảm xuống còn khoảng 1 – 1,2 triệu tấn/năm.

Còn theo báo cáo mới nhất của Bộ NNPTNT, xuất khẩu cà phê tháng 7 năm 2017 của nước ta ước đạt 106 nghìn tấn với giá trị đạt 242 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu cà phê 7 tháng đầu năm 2017 ước đạt 937 nghìn tấn và 2,12 tỷ USD, giảm 16,4% về khối lượng nhưng tăng 7,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. 

Giá cà phê xuất khẩu bình quân 6 tháng đầu năm 2017 đạt 2.262,8 USD/tấn, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm 2016. Đức và Hoa Kỳ tiếp tục là hai thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2017 với thị phần lần lượt là 16% và 14,3%. Các thị trường có giá trị xuất khẩu cà phê trong 6 tháng đầu năm 2017 tăng mạnh là: Bỉ (30,7%), Angieri (24,6%), Hoa Kỳ (20,9%), Italia (17,8%), Tây Ban Nha (16,6%) và Đức (14,2%).

Theo nhận định của Bộ NNPTNT, dự báo giá cà phê nội địa về dài hạn sẽ vẫn theo chiều hướng tăng, do lượng hàng xuất khẩu của Việt Nam trong 3 tháng còn lại của niên vụ 2016/2017 không còn nhiều bởi nguồn cung thắt chặt và tồn kho gối vụ dự kiến rất thấp.

Tuy nhiên, giao dịch cà phê tại thị trường nội địa sẽ tiếp tục trầm lắng do mức giá chưa đạt kỳ vọng. Hầu hết thương nhân nội địa cũng chưa muốn bán hàng ra vào lúc này khi cho rằng các yếu tố cung cầu đang hỗ trợ giá.

HỒ TIÊU

XK hồ tiêu giảm 4 nghìn tấn so với tháng 6/2018

Giá thu mua hồ tiêu nguyên liệu tại các tỉnh phía Nam trong những ngày cuối tháng 7/2018 tiếp tục tăng thêm từ 1.000 – 2.000 đồng/kg. Theo đó, giá hồ tiêu tại nhiều nơi đã giao dịch ở mức 80.000 đồng/kg, thậm chí giá tại Bà Rịa – Vũng Tàu đã lên tới 82.000 đồng/kg. Giá thấp nhất là tại Gia Lai và Đồng Nai, cùng đạt mức 78.000 đồng/kg, tăng thêm 2.000 đồng/kg so với hồi đầu tháng 7.  Việc giá tiêu tiếp tục tăng giá đã khiến người trồng hồ tiêu cũng như những chủ đại lý đang "ôm" hàng tấn tiêu rất phấn khởi. 

Do giá hồ tiêu giảm và ở mức thấp suốt gần 2 tháng qua nên giao dịch hồ tiêu tại thị trường nội địa cũng khá ảm đạm. Bộ NNPTNT cho biết, trong tháng 7, xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam ước đạt 19 nghìn tấn, giảm 4 nghìn tấn so với tháng trước, với giá trị đạt 87 triệu USD. Khối lượng xuất khẩu tiêu 7 tháng đầu năm 2017 ước đạt 145 nghìn tấn và 800 triệu USD, tăng 20,4% về khối lượng nhưng giảm 18,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017.

Giá tiêu xuất khẩu bình quân 6 tháng đầu năm 2017 đạt 5.662,6 USD/tấn, giảm 29,9% so với cùng kỳ năm 2016. Các thị trường xuất khẩu tiêu lớn nhất của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2017 là Hoa Kỳ, Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, Ấn Độ , Pakistan và Đức với 39% thị phần.

Theo lý giải từ Bộ NNPTNT, nguồn cung lớn nhưng nhu cầu thấp là nguyên nhân khiến giá hồ tiêu rơi vào thời kỳ chững giá kéo dài suốt cả mấy tháng qua.

Theo Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA), hiện nay sản lượng hồ tiêu Việt Nam, cũng như lượng hồ tiêu xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam chiếm 60% nhu cầu của khách hàng khắp thế giới. Sản phẩm tiêu sạch của Việt Nam vẫn đang là nguồn hàng được ưa chuộng của các khách hàng khó tính như thị trường Mỹ, Đức, châu Âu, Nhật Bản,… Do đó, ngành hồ tiêu không lo thiếu khách hàng tiêu thụ mà phải tập trrung vào chất lượng tốt để chủ động hơn trong giao dịch hợp đồng. Hiện nay, hồ tiêu Việt Nam còn đứng sau hồ tiêu Ấn Độ về chất lượng và thương hiệu nhưng có thể cạnh tranh với hồ tiêu Indonesia và Malaysia, sắp tới là sự cạnh canh gay gắt với tiêu sạch từ Campuchia. Do đó, VPA nhấn mạnh việc cần làm là không phải tăng diện tích mà phải tăng chất lượng.

HẠT ĐIỀU

Các doanh nghiệp ngành điều “đói” vốn và không chủ động nguyên liệu

Hiện nhiều doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu hạt điều tại Bình Phước đã phải tạm ngưng hoạt động do thiếu vốn và không chủ động nguồn nguyên liệu.

Một doanh nghiệp nhập khẩu nguồn nguyên liệu điều ở Bình Phước cho biết, năm nay công ty phải nhập khoảng hơn 1.000 tấn điều từ nước ngoài, chiếm 2/3 lượng điều mà doanh nghiệp sản xuất. Những tháng đầu năm, công ty mới nhập được 500 tấn thì giá nguyên liệu tăng cao đột biến. Công ty kí phiếu với giá 37.000 đồng, nhưng thời điểm này, giá điều nhập từ cảng cán mốc 50.000 đồng/kg nên công ty không thể nhập hàng, đành phải chấp nhận bỏ cọc 10% tổng lượng hàng đã kí cho đợt này là 200 tấn. Giá cả biến động, lãi suất ngân hàng tăng cao khiến cho doanh nghiệp gặp khó.

Việc phụ thuộc quá nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu khiến cho các doanh nghiệp điều Bình Phước gặp không ít rủi ro do không thể chủ động được về giá. Hiện nay, 50% nguyên liệu cho chế biến điều của Việt Nam là nhập khẩu từ Bờ Biển Ngà và Campuchia, còn lại từ một số vùng khác. Hình thức mua bán chủ yếu qua hợp đồng, chất lượng hạt điều nhập khẩu hoàn toàn phụ thuộc, giá biến động không ngừng.

Năm nay, theo Hiệp hội điều Việt Nam (VINACAS), giá nhập khẩu nguyên liệu điều tăng mạnh (trung bình trên 2.000 USD/tấn), dẫn đến các doanh nghiệp không dám nhập hàng. 6 tháng đầu năm nay, kim ngạch nhập khẩu ước khoảng trên 750 triệu USD, giảm mạnh 40,7% so với cùng kỳ. Chính việc thiếu hụt nguyên liệu chế biến đã khiến hơn 30% doanh nghiệp ngành này phải tạm đóng cửa.

Nghịch lý là giá nguyên liệu tăng cao, nhưng giá điều nhân xuất khẩu lại giảm mạnh. Nhân điều loại cỡ trung, chỉ còn từ 4,1-4,15 USD/kg, trong khi cùng kỳ năm ngoái, giá loại này đạt từ 5,1-5,3 USD/kg. Nguyên nhân là do những tháng đầu năm, công suất chế biến của nhà máy trong nước tăng đột biến, dẫn đến tình trạng tranh bán, nhà nhập khẩu lấy cớ ép giá. Chính sự sụt giá này, khiến không ít doanh nghiệp ngành điều lỗ nặng.

“Giá cả không ổn định, thị trường mỗi người bán 1 giá, không ai đứng ra để đảm bảo giá chung để xuất khẩu ra nước ngoài, nên sản xuất rất cầm chừng, đơn hàng kí đến đâu làm đến đó”. 

Một khó khăn khác ngành XK điều cũng đang phải đối mặt  theo ông Nguyễn Đức Thanh, Chủ tịch Hiệp hội điều Việt Nam (Vinacas) cho biết, đó là xuất khẩu hạt điều sang thị trường Trung Quốc phải thực hiện chính sách tăng chất lượng nông sản nhập khẩu và chính quy hóa các thủ tục nhập khẩu.

"Thứ nhất, về thuế nhập khẩu, theo Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc, phần lớn nông sản (trong đó có hạt điều) xuất khẩu sang Trung Quốc được hưởng thuế ưu đãi 0%. Nhưng thực tế là hạt điều Việt Nam không được hưởng lợi khi nước này tăng thuế GTGT đánh vào các nhà nhập khẩu lên 17% nên thực chất là thuế tăng chứ không giảm. Do đó, nhà nhập khẩu điều Trung Quốc buộc phải tính toán lại giá mua điều từ Việt Nam để cân đối lợi nhuận.

Thứ hai, trước đây Việt Nam xuất khẩu được nhiều điều phẩm cấp thấp sang Trung Quốc và xem đây là một lợi thế do bán được nhiều chủng loại nhưng vài tháng gần đây Trung Quốc từ chối nhập khẩu dòng hàng này. Như vậy, dòng sản phẩm phẩm cấp thấp mất thị trường quan trọng.

Thứ ba, Trung Quốc vừa đưa ra lộ trình về việc kiểm soát nguồn gốc tất cả nông sản nhập khẩu từ Việt Nam. Với ngành điều, nếu sử dụng nguyên liệu từ châu Phi (đang chiếm tỉ lệ cao) sẽ không còn hưởng ưu đãi bởi quy định 70% hàm lượng giá trị gia tăng phải được thực hiện tại Việt Nam. Đây là 3 đòn chí mạng mà ngành điều đang gặp phải tại thị trường Trung Quốc" – ông Thanh nhận định.

CAO SU

Nửa đầu năm 2018, Trung Quốc tiếp tục là thị trường XK cao su lớn nhất của Việt Nam với khối lượng đạt 363,28 nghìn tấn.

Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết, đầu tháng 7/2018, giá mủ cao su nguyên liệu tại các tỉnh Bình Phước, Bình Dương và Tây Ninh có xu hướng giảm nhẹ so với cuối tháng 6/2018. 

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu cao su của Việt Nam trong tháng 6/2018 tăng 12,3% về lượng và tăng 10,3% về trị giá so với tháng 5/2018, đạt 122,26 nghìn tấn, trị giá 173,48 triệu USD, tăng 0,3% về lượng, nhưng giảm 7,3% về trị giá so với tháng 6/2017. 

Tính đến hết tháng 6/2018, xuất khẩu cao su của Việt Nam đạt 564,54 nghìn tấn, trị giá 820,55 triệu USD, tăng 17,1% về lượng, nhưng giảm 8,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017. Giá xuất khẩu cao su của Việt Nam trong tháng 6/2018 trung bình ở mức 1.419 USD/tấn, giảm 1,8% so với tháng 5/2018 và giảm 7,6% so với cùng kỳ năm 2017.

Nhìn chung, trong tháng 6/2018, lượng cao su xuất khẩu sang hầu hết các thị trường lớn đều giảm so với cùng kỳ năm trước, trừ thị trường Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ và Tây Ban Nha. 

Trong tháng 6/2018, Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu cao su lớn nhất của Việt Nam với khối lượng đạt 87,77 nghìn tấn, trị giá 123,17 triệu USD, giảm 2,5% về lượng, nhưng tăng 8,4% về trị giá so với tháng 5/2018; tăng 22% về lượng và tăng 14,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017. 

Lũy kế 6 tháng đầu năm 2018, xuất khẩu cao su của Việt Nam sang Trung Quốc đạt 363,28 nghìn tấn, trị giá 519,88 triệu USD, tăng 24,2% về lượng, nhưng giảm 3,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017. Giá xuất khẩu cao su của Việt Nam sang Trung Quốc trong 6 tháng đầu năm 2018 đạt bình quân 1.403 USD/tấn, giảm 1,8% so với tháng 5/2018 và giảm 5,8% so với cùng kỳ năm 2017.

(TTGCVT /T.Hiền tổng hợp) 

 

 

Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (024) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (024) 39762593 
Email:ttgcvattu1989@gmail.com