Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Thị trường hàng hóa nguyên liệu trong nước tháng 6/2018
Cập nhật: 30-6-2018

VÀNG

Thị trường vàng giao dịch sôi động hơn trong tháng 6, giá vượt qua mức 37 triệu đồng.


Do những biến động trên thị trường tài chính thế giới, giá vàng đã khiến cho các nhà đầu tư để mắt đến nhiều hơn trong tháng 6. Đã có thời điểm vượt qua mức 37 triệu đồng. Sự biến động của giá vàng dù là nhẹ, cũng đã khiến cho thị trường giao dịch trở nên hấp dẫn. Theo khảo sát của Doji, trong nhiều phiên giao dịch, lượng nhà đầu tư mua vàng chiếm tới 70%. Điều này cho thấy, dù là ở bất cứ thời điểm nào, những nhà đầu tư vẫn luôn quan tâm đến mọi diễn biến của thị trường vàng và luôn tìm cách chớp cơ hội.

Trong tuần đầu tháng 6, giá vàng trong nước tăng giảm đan xen giữa các phiên giao dịch khiến nhà đầu tư tại miền Bắc tỏ ra khá dè dặt, trong khi ở miền Nam nhu cầu giao dịch theo chiều mua vàng vào tăng khá mạnh, theo khảo sát của Doji. Giá vàng dao động trong khoảng 36,54 – 36,62 triệu đồng/lượng (chiều mua vào) và 36,71 – 36,82 triệu đồng/lượng (chiều bán ra). Với mức giá kết thúc tuần vào sáng ngày 8/6 là 36,58 – 36,76, giá vàng trong nước hiện còn cao hơn giá vàng thế giới khoảng 700 nghìn đồng mỗi lượng (chưa kể thuế phí).  

Bước sang tuần thứ 2, xu hướng vàng tăng mở rộng tác động tích cực tới tâm lý nhà đầu tư vàng trong nước. Giá dao động trong khoảng 36,71 – 36,86 triệu đồng/lượng (chiều mua vào) và  36,89 – 37,06 triệu đồng/lượng (chiều bán ra). Tranh thủ thời điểm giá cao, nhiều nhà đầu tư đã mạnh dạn bán vàng ra chốt lời. Bên cạnh đó, kết hợp nhiều thông tin từ thị trường quốc tế, nhiều nhà đầu tư tiếp tục kỳ vọng thị trường xuất hiện thêm các đợt điều chỉnh giá giúp cho nhà đầu có thêm nhiều lựa chọn thời điểm thích hợp tham gia thị trường.

Trung tuần tháng 6, giá vàng trong nước đã tịnh tiến đến sát mốc 37 triệu đồng. Do ảnh hưởng bởi các thông tin trên thị trường tài chính thế giới, thị trường vàng đã có một tuần giao dịch sôi động hơn, khác hẳn những tuần trước đó. Giá mua vào trong tuần dao động trong khoảng 36,69 – 36,80 triệu đồng/lượng , giá bán ra trong khoảng 36,89 – 37 triệu đồng/lượng. Theo nhận định của Doji, động thái bán vàng luôn chiếm ưu thế, xu hướng này tiếp tục duy trì qua nhiều phiên. Kết thúc tuần, vào sáng ngày 22/6, giá vàng neo ở mức 36,72 – 36,92 triệu đồng/lượng. Với mức giá này, giá vàng trong nước đang cao hơn giá thế giới khoảng 1,6 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế phí). 

Tuần kết thúc tháng, giá vàng có xu hướng giảm nhẹ khi nhiều ngày giao dịch, giá vàng mua vào và bán ra chỉ dao động trong khoảng 36,60 – 36,80 triệu đồng/lượng. Với mức giá này, giá vàng trong nước đã cao hơn giá thế giới tới 2,1 triệu đồng mỗi lượng và là mức chênh lệch cao nhất trong tháng 6.

ĐÔ LA

Tỷ giá trung tâm tăng “nóng” khiến cho giá giao dịch USD biến động mạnh


Đồng USD sụt giảm trên thị trường do giới đầu tư lo sợ tác động tiêu cực của cuộc đối đầu thương mại Mỹ - Trung, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) quyết định bất ngờ tăng lãi suất cơ bản thêm 25 điểm phần trăm, Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) phát đi tín hiệu tốt đẹp hơn về nền kinh tế Mỹ. Tất cả những động thái đó đã tác động mạnh đến tỷ giá trung tâm và thị trường ngoại hối tại các ngân hàng.

Mức cao nhất của tỷ giá trung tâm là ngày 28/6 khi NHNN công bố ở mức 22.655 đồng/USD. Mức thấp nhất trong tháng 6 là ngày 8/6 khi NHNN công bố ở mức 22.558 đồng/USD. Sự tăng nóng của tỷ giá tịnh tiến dần qua các phiên giao dịch và đạt mức cao nhất vào tuần cuối cùng của tháng 6.

Trước sự biến động của tỷ giá trung tâm, giá giao dịch USD tại các Ngân hàng TM cũng liên tục được điều chỉnh và đứng ở mức cao. Vào tuần đầu tiên, một số ngân hàng thương mại giữ tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ phổ biến ở mức 22.780 đồng (mua) và 22.870 đồng (bán). Sang đến tuần thứ 2 của tháng 6, các ngân hàng đa số niêm yết giá USD ở mức 22.775- 22.845 VND/USD. Tuần thứ 3, giá USD tăng lên mức 22.860 - 22.930 VND/USD (mua vào - bán ra). Và tuần kết thúc tháng, giá giao dịch đô la phổ biến tại các ngân hàng là 22.920 đồng (mua) và 22.990 đồng (bán). Như vậy, so với trước Tết, tỷ giá đồng đô la Mỹ trong hệ thống ngân hàng tăng 220-250 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra.Đặc biệt, trong 2 tuần cuối tháng 6, giá giao dịch tại thị trường tự do đã vượt qua mốc 23.000 đồng mỗi USD.

Trước diễn biến tăng khá mạnh của đồng USD trong nhiều ngày qua, ông Nguyễn Hoàng Minh, Phó giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TP.HCM nhận định, diễn biến giá USD tăng trên thị trường tự do và ngân hàng thương mại là chưa đáng lo. Cầu ngoại tệ không đột biến và mọi nhu cầu về ngoại tệ hợp pháp của người dân, doanh nghiệp đều được đáp ứng.

THÉP XÂY DỰNG

Giá thép xây dựng tháng 6 cơ bản ổn định so với tháng trước


Theo Hiệp hội thép Việt Nam (VSA), trong tháng 5 ngành thép đã sản xuất 2.083.816 tấn, tăng 4% so với tháng 4 và tăng 27% so với cùng kỳ 2017; trong đó sản xuất Ống thép đạt mức tăng trưởng cao nhất trong tháng 5.

Sản lượng bán hàng đạt 2.108.626 tấn, tăng 14% so với tháng trước và tăng 45% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, xuất khẩu thép đạt 387.477 tấn, giảm 5% so với tháng 4, nhưng tăng khoảng 31% so với cùng kỳ năm trước.

Tính lũy kế 5 tháng đầu năm, các doanh nghiệp sản xuất được 9.678.653 tấn, tăng 24%. Công tác bán hàng đạt 6.698.893 tấn, tăng 35,2% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, xuất khẩu đạt 1.568.826 tấn, tăng trưởng 47,7%. 

Tình hình nhập khẩu trong 4 tháng đầu năm có xu hướng giảm. Nhập khẩu thép thành phẩm đạt hơn 4,28 triệu tấn, với tổng kim ngạch đạt gần 3,027 tỷ USD, giảm 24% về lượng, và giảm 6% về giá trị. Trong đó, nhập khẩu thép từ Trung Quốc khoảng 1,82 triệu tấn, giảm 34% về lượng và giảm 13,4% về trị giá so với cùng kỳ 2017; Đáng chú ý tỷ trọng thép nhập khẩu từ quốc gia này chỉ còn chiếm khoảng 42,5% tổng lượng thép thành phẩm nhập khẩu.

Về tình hình xuất khẩu 4 tháng 2018, xuất khẩu thép thành phẩm đạt gần 1,91 triệu tấn, với kim ngạch đạt hơn 1,4 tỷ USD, tăng 43% về lượng, và tăng 61% về giá trị.

ASEAN vẫn là thị trường xuất khẩu chính, với lượng xuất khẩu hơn 1,087 triệu tấn thép, chiếm tới hơn 57% tổng lượng thép thành phẩm xuất khẩu. Tiếp đến là các thị trường Hoa Kỳ (15,2%), EU (10%), Hàn Quốc (4,1%), Đài Loan (3,3%).

Theo Hiệp hội Thép Việt Nam, hiện, năng lực sản xuất của ngành thép trong nước đạt khoảng 30 triệu tấn/năm. Với quy mô này, ngành thép Việt Nam được đánh giá đứng đầu các nước Đông Nam Á. Dự báo, năm 2018, tăng trưởng của ngành sẽ đạt 20-22%.

Song song với sự tăng trưởng đầy ấn tượng, thời gian gần đây ngành thép chịu nhiều áp lực do tình hình bảo hộ thương mại. Đây là ngành đang phải đối mặt nhiều nhất với các vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp từ các nước nhập khẩu và bị áp thuế chống bán phá giá từ các quốc gia khác như: Mỹ, Canada, Thổ Nhĩ Kỳ, Malaysia, Thái Lan, Indonesia... Điều này khiến việc xuất khẩu thép của Việt Nam gặp nhiều khó khăn.

Theo thống kê của Hiệp hội Thép Việt Nam, tính đến cuối năm 2017, trong số 124 vụ kiện điều tra phòng vệ thương mại với các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam, thì có tới 30 vụ kiện liên quan đến thép, chủ yếu là các vụ điều tra chống bán phá giá.

Điển hình, mới đây, Indonesia đã chính thức công bố áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với sản phẩm tôn màu nhập khẩu từ Việt Nam ở mức từ 12,01% đến 28,49% trong 5 năm.

Ngày 12/6 vừa qua, một số doanh nghiệp sản xuất thép tại Hoa Kỳ đã nộp yêu cầu điều tra, áp dụng biện pháp chống lẩn tránh thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp tới Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) đối với sản phẩm thép chống ăn mòn nhập khẩu từ Việt Nam...

Trước tình hình này, ông Nguyễn Văn Sưa, Phó chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam cho biết, thế giới hiện nay đang rộ lên phong trào về chủ nghĩa bảo hộ thương mại. Các nước đang tích cực sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại để kiện lại hàng hóa xuất khẩu từ các nước, trong đó có Việt Nam.

Theo ông Sưa, việc sử dụng công cụ bảo hộ thương mại sẽ tạo ra hàng rào thuế quan cản trở việc xuất khẩu thép của Việt Nam sang các nước, gây khó khăn cho việc xuất khẩu. Ngành thép sẽ phải đóng thêm một khoản chi phí, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp thép sẽ giảm đi.

Để chống lại các vụ phòng vệ thương mại của các nước đối với sản phẩm thép xuất khẩu, ông Nguyễn Văn Sưa khuyến nghị: “Các doanh nghiệp cần chủ động nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm thép của mình vì chỉ có nâng cao được năng lực cạnh tranh mới có thể mở rộng thị trường xuất khẩu; phải nâng cao nhận thức, hiểu biết về luật lệ thương mại quốc tế cũng như luật lệ thương mại của các nước xuất khẩu sang để hạn chế những thiệt hại không đáng có.

Về tình hình giá cả mặt hàng thép xây dựng, theo thông tin từ Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) trong 15 ngày đầu tháng 6/2018 mặc dù giá nhiên liệu đầu vào tăng nhưng giá thép xây dựng cơ bản ổn định so với tháng trước.

Về thép xây dựng, ước lượng sản xuất và kinh doanh trong 15 ngày đầu cũng ổn định. Dẫn báo cáo của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thép, Cục Quản lý giá cho biết, giá bán tại các nhà máy sản xuất thép ở mức 11.300 – 14.500 đồng/kg (giá giao tại nhà máy, chưa có 10% VAT, chiết khấu bán hàng).

Giá bán lẻ tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung dao động ở mức 11.500 – 14.800 đồng/kg, tại các tỉnh miền Nam từ 11.600 – 15.700 đồng/kg. Theo dự báo những ngày cuối tháng 6, giá thép trong nước cơ bản ổn định hoặc giảm nhẹ.

Ở thị trường thế giới, giá chào bán phôi thép có xu hướng giảm nhẹ (giảm từ 2 – 5 USD) so với cuối tháng 5. Hiện tại giá chào phôi thép CFR Đông Á ở khoảng 430 – 450 USD/tấn, giá chào phôi CIS khoảng 445 USD/tấn FOB Biển Đen.

XI MĂNG

6 tháng: Xuất khẩu xi măng đạt hơn 15 triệu tấn


Theo Vụ Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng), sản phẩm xi măng tiêu thụ tháng 6/2018 ước đạt khoảng 8,71 triệu tấn, tăng 30% so với cùng kỳ năm 2017.

Tiêu thụ sản phẩm xi măng trong nước tháng 6/2018 ước đạt khoảng 6,91 triệu tấn, tăng 29% với tháng 6/2017. Trong đó, riêng Tổng Công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam (Vicem) tiêu thụ tháng 6/2018 ước đạt khoảng 2,18 triệu tấn.

Tại thị trường xuất khẩu, sản phẩm xi măng xuất khẩu trong tháng 6/2018 ước đạt khoảng 1,8 triệu tấn, tăng 35% so với cùng kỳ năm 2017.

Tiêu thụ sản phẩm xi măng tại cả thị trường nội địa và xuất khẩu vẫn tiếp tục giữ được đà tăng trưởng khá ấn tượng. Lũy kế trong 6 tháng đầu năm, tiêu thụ sản phẩm xi măng ước đạt khoảng 51,42 triệu tấn, tăng 25 % so với cùng kỳ năm 2017 và đạt 61% kế hoạch năm, trong đó Vicem tiêu thụ đạt khoảng 11,93 triệu tấn.

Đáng chú ý, xuất khẩu sản phẩm xi măng vẫn tiếp tục tăng trưởng mạnh với sản lượng xuất khẩu trong 6 tháng đầu năm ước đạt khoảng 15,42 triệu tấn, đạt 85,6% chỉ tiêu xuất khẩu của cả năm và tăng 50% so với cùng kỳ.

Hiện nay, tồn kho cả nước 6 tháng năm 2018 chỉ còn khoảng 3,10 triệu tấn tương đương khoảng 14 - 15 ngày sản xuất, chủ yếu là clinker.

Các chuyên gia trong lĩnh vực vật liệu xây dựng cho rằng, sản lượng xi măng tiêu thụ nội địa tăng so với cùng kỳ năm 2017 là do thời tiết thuận tiện cho việc xây dựng; xuất khẩu tăng mạnh do Trung Quốc đang dừng sản xuất.

Về giá cả mặt hàng xi măng trong tháng 6, theo thông tin từ Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) trong 15 ngày đầu tháng do giá nhiên liệu đầu vào tăng. Giá bán trung bình của một số chủng loại xi măng như bao PCB30 là 1,18 triệu đồng/tấn, PCB40 là 1,34 triệu đồng/tấn. Mức giá trên ổn định cho đến hết tháng 6. 

XĂNG DẦU

Giá xăng dầu được giữ nguyên trong kỳ 1 và giảm trong kỳ điều chỉnh lần thứ 2 trong tháng 6


Tại kỳ điều chỉnh lần 1 vào chiều 7/6, Liên Bộ Công Thương Tài chính đã phát đi thông tin về điều hành giá bán lẻ xăng dầu. Theo đó, giá bán lẻ xăng dầu vẫn được giữ nguyên so với cách đó 15 ngày, mỗi lít xăng RON 95 ở mức 21.540 đồng; xăng E5 RON 92 là 19.940 đồng; dầu diesel 17.690 đồng, dầu hoả là 16.440 và dầu madut ở mức 14.435 đồng. 

So với giá bán tối đa tại kỳ điều hành trước liền kề, giá cơ sở các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường tại kỳ điều hành lần này tăng 1.270 đồng một lít xăng E5 RON92; xăng RON 95 là 698 đồng; dầu diesel tăng 156 đồng.

Vì lẽ đó nhà điều hành tiếp tục sử dụng Quỹ bình ổn để kìm giữ giá bán lẻ trong nước. Cụ thể, mức chi quỹ cho xăng E5 RON 92 là 1.270 đồng một lít; xăng RON 95 698 đồng một lít... 

Tại  kỳ điều chỉnh lần thứ 2 vào chiều ngày 22/6, liên Bộ Công Thương - Tài chính đã điều chỉnh giá xăng dầu trong nước đồng loạt giảm 234-386 đồng một lít, riêng mặt hàng dầu madut vẫn giữ nguyên giá bán.

Cụ thể, xăng E5 RON 92 giảm 329 đồng một lít, xăng RON 95 là 334 đồng, dầu diesel giảm 234 đồng; dầu hỏa có mức hạ giá cao nhất 386 đồng. Cùng với đó, nhà điều hành giảm chi Quỹ bình ổn giá với các mặt hàng xăng, dầu. Mức chi Quỹ với xăng E5 RON 92 và RON 95 giảm lần lượt 400 đồng và 500 đồng mỗi lít so với kỳ điều hành cách đây 15 ngày. Hai mặt hàng dầu là diesel và dầu hỏa ngừng chi Quỹ. 

Sau giảm giá, mỗi lít xăng E5 RON 92 không cao hơn 19.611 đồng; RON 95 là 21.177 đồng; dầu diesel 17.460 đồng, dầu hỏa tối đa 16.054 đồng.  

Cũng theo liên Bộ, bình quân giá thành phẩm xăng dầu thế giới trong 15 ngày trước đó có xu hướng giảm, như xăng RON 92 (xăng nền pha chế E5 RON 92) là 81,252 USD một thùng; xăng RON95 mức 83,293 USD một thùng...

Giá etanol E100 đưa vào tính giá cơ sở mặt hàng xăng E5 RON92 theo Công văn số 750 của Bộ Tài chính về điều hành kinh doanh xăng dầu là 14.399,8 đồng một lít (chưa có thuế VAT).

GAS

Tháng 6: Gas tăng 18.000 đồng/bình


Ngày 31-5, Chi hội Gas miền Nam cho biết giá gas nhập khẩu theo phiếu (CP) tháng 6 vừa thông báo ở mức bình quân 560 USD/tấn, tăng 57,5 USD/tấn so với tháng trước.

Do đó, ở kỳ điều chỉnh giá từ ngày 1-6, nhiều công ty gas đầu mối chốt giá gas bán lẻ trong nước tăng 180.000 đồng/bình 12 kg (đã có thuế GTGT). Giá bán lẻ gas tối đa đến người tiêu dùng khu vực TP HCM một số thương hiệu, loại dùng trong gia đình 12 kg/bình như sau: PetroVietnam Gas và SP Gas cùng 345.000 đồng, Dầu khí Gas 374.000 đồng, Petrolimex Gas 352.500 đồng…

Trước đó, trong tháng 5, giá gas đã tăng 10.000 đồng/bình 12 kg do giá thế giới tăng.

Trong tháng 6/2018,  Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định 87/2018/NĐ-CP về kinh doanh khí, có hiệu lực thi hành từ 1/8/2018, thay thế Nghị định số 19/2016/NĐ-CP.

Điểm nổi bật nhất của Nghị định này là đã đơn giản hóa và bãi bỏ các điều kiện kinh doanh về quy mô tối thiểu, quy định về sở hữu cơ sở vật chất, quy định bắt buộc phải thiết lập hệ thống phân phối; các thủ tục hành chính còn nhiều và rườm rà.

Theo Nghị định 19/2016, các doanh nghiệp muốn được tham gia kinh doanh trong lĩnh vực khí hóa lỏng phải đáp ứng các điều kiện về quy mô kinh doanh, khiến các doanh nghiệp nhỏ khó đáp ứng. Ví dụ, thương nhân xuất khẩu, nhập khẩu phải có kho tổng dung tích các bồn chứa tối thiểu 3.000 m3 gas, có số lượng chai gas với với tổng dung tích chứa tối thiểu hơn 3,93 triệu lít; thương nhân phân phối khí có các bồn chứa với tổng dung tích tối thiểu 300 m3, có số lượng chai với tổng dung tích chứa tối thiểu 2,62 triệu lít…

Để đáp ứng các yêu cầu này, thương nhân xuất nhập khẩu phải sở hữu ít nhất 150.000 vỏ bình gas 12 lít, thương nhân phân phối phải có ít nhất 100.000 vỏ bình…Nay các điều kiện như vậy đã được bãi bỏ theo Nghị định 87. Thay vào đó, Nghị định nhấn mạnh các yêu cầu về an toàn, phòng cháy, chữa cháy.

Ô TÔ

Ôtô lắp ráp giảm giá trước áp lực xe nhập khẩu sắp về


Về cuối quý 2/2018, thị trường ôtô đang dần lấy nhịp trở lại, các hãng liên doanh bắt đầu giảm giá để kích cầu, đặc biệt xe lắp ráp. Trong khi đó, các đại lý có xe nhập khẩu bán nốt lượng ít ỏi xe còn sót lại và nhận đặt hàng cho lô mới. Các hãng cho biết chậm nhất tháng 9, xe nhập sẽ ồ ạt trở lại.

Bước vào tháng 6, sự chú ý của người tiêu dùng đang đổ dồn về các lô xe nhập khẩu mà nhiều hãng gần như đã hoàn tất các thủ tục giấy tờ, đặt hàng, chờ ngày thông quan và đưa xe về đại lý. Xe nhập khẩu không có hàng nên không có khuyến mại. Thay vào đó, nhiều mẫu xe lắp ráp được ưu đãi để thúc đẩy doanh số trước áp lực xe nhập khẩu sắp về nước trong thời gian ngắn sắp tới.

Chevrolet (GM Việt Nam) đồng loạt giảm giá trên nhiều sản phẩm như Spark, Aveo, Cruze, Captiva 30-60 triệu đồng. Thậm chí hai mẫu xe nhập khẩu là bán tải Colorado và tân binh SUV phân khúc 7 chỗ Trailblazer cũng giảm 50-80 triệu đồng, tận dụng đối thủ khan hàng nhằm tăng doanh số.

Liên doanh Ford không có mức ưu đãi lớn như đối thủ đồng hương nhưng cũng giảm giá hai mẫu xe lắp ráp là Focus và Fiesta lần lượt 27 và 35 triệu đồng. Không những hãng giảm giá, xe về đại lý còn được nhân viên kinh doanh tính toán ưu đãi cho khách để chốt phiếu trong giai đoạn thị trường gần như chững lại. Riêng mẫu crossover đô thị EcoSport tại TP HCM đang được các đại lý ưu đãi 10-20 triệu đồng tùy từng phiên bản…

Thông tin từ nhiều hãng như Toyota, Mitsubishi, Chevrolet, Honda, Ford cho biết họ đã có đầy đủ giấy tờ cần thiết để nối lại việc nhập xe, giải quyết tình trạng khan hàng như hiện nay. Các đại lý đã bắt đầu nhận đơn hàng và tiết lộ xe mới có thể về trong tháng 7 hoặc chậm nhất tháng 9. Xe nhập khẩu sắp tạo sóng đổ bộ sau thời gian dài khan hàng, sức ép đối với xe lắp ráp là không nhỏ.

Cơn khát xe nhập sắp được giải tỏa, khách hàng có thể nối dài tâm lý chờ đợi biến động giá."Giảm giá để đẩy doanh số là việc đương nhiên khi nhiều đại lý chỉ còn xe lắp ráp là chủ động được thời điểm đặt hàng, giao xe. Khách hàng hiện đang chú ý đến xe nhập khẩu. Khi xe nhập về trong thời gian tới, sự quan tâm còn lớn hơn", tư vấn bán hàng một đại lý Honda nêu quan điểm.

Theo tính toán của các hãng, giá xe có thể giảm khoảng 23% nếu thuế giảm từ 30% về 0% trong 2018. Nhưng viễn cảnh giá xe giảm sâu hoặc ít nhất theo lý thuyết vẫn là điều còn bỏ ngỏ.

Bước sang tháng 6, Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA) cũng đã có báo cáo cụ thể về tình hình tiêu thụ xe ô tô trong tháng 5/2018. Cụ thể, trong tháng 5, doanh số bán hàng của toàn thị trường đạt 23.065 xe,  tăng 9% so với tháng 4/20178 và gần bằng tháng 5/2017.   

Trong số 23.065 xe bán ra có 15.397 xe du lịch; 6.890 xe thương mại và 778 xe chuyên dụng. Doanh số xe du lịch tăng 13%; xe thương mại giảm 8% và xe chuyên dụng giảm 36% so với tháng trước.

Sản lượng của xe lắp ráp trong nước đạt 19.467 xe, tăng 9% so với tháng trước và số lượng xe nhập khẩu nguyên chiếc là 3.598 xe, tăng 12% so với tháng trước.

Tổng doanh số bán hàng của toàn thị trường tính đến hết tháng 5/2018 giảm 6% so với cùng kì năm ngoái trong đó xe ô tô du lịch tăng 6%; xe thương mại giảm 19% và xe chuyên dụng giảm 37% so với cùng kì năm ngoái.  

Tính đến hết tháng 5/2018, doanh số bán hàng của xe lắp ráp trong nước tăng 10% trong khi xe nhập khẩu giảm 46% so với cùng kì năm ngoái.

THỦY SẢN 

6 tháng đầu năm: XK thủy sản đạt 3,94 tỷ USD tăng 10,5% so với cùng kỳ năm 2017


Theo báo cáo mới nhất của Bộ NN & PTNT, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản tháng 6/2018 ước đạt 3,45 tỷ USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2018 đạt 19,4 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2017. 

Bộ NN&PTNT cũng cho biết giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính ước đạt 10,3 tỷ USD, tăng 9,7% so với cùng kỳ năm 2017; giá trị xuất khẩu thuỷ sản ước đạt 3,94 tỷ USD, tăng 10,5% so với cùng kỳ năm 2017; giá trị xuất khẩu các mặt hàng lâm sản chính ước đạt 4,33 tỷ USD, tăng 12,7% so với cùng kỳ năm 2017.

Riêng mặt hàng thủy sản xuất khẩu trong tháng 6/2018 ước đạt 732 triệu USD.

Về cơ cấu ngành hàng, mặt hàng cá tra vẫn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ngành thủy sản. Trong tháng 6, Bộ Công thương cho biết, giá cá tra nguyên liệu ổn định ở mức cao, nhưng giá cá tra giống ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long giảm mạnh do nguồn cung dồi dào. Hiện cá tra giống loại 30 con/kg chỉ còn có giá từ 26.000-30.000 đồng/kg, giảm hơn một nửa so với trước đây một tháng.

Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn nhận định thị trường cá tra nguyên liệu tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trong 6 tháng đầu năm đã liên tục nóng trong bối cảnh nguồn cung khan hiếm. Theo đó nguồn cá nguyên liệu phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu trong năm nay sẽ hạn chế. Tuy nhiên giá cá tra xuất khẩu sẽ đạt ở mức tốt và dự báo có thể kéo dài cả năm 2018.

Những ngày tháng 6/2018, người dân ở các tỉnh ĐBSCL tăng cường nuôi cá tra trở lại. Cơ quan chức năng của các địa phương này đang tăng cường kiểm tra những hộ tự ý đào ao nuôi cá tra ngoài quy hoạch, theo dõi sát sao tình hình môi trường, nguồn nước thải để tránh ô nhiễm.

Cũng trong tháng 6, một thông tin khiến cho ngành sản xuất và xuất khẩu thủy sản của Việt Nam cần lưu ý nhiều đó là việc EU sẽ kéo dài “thẻ vàng”, xuất khẩu hải sản Việt Nam đến tháng 1-2019. Điều này, dự báo xuất khẩu loại mặt hàng này vào thị trường EU sẽ tiếp tục khó khăn.

Thông tin từ VASEP cho biết, để khắc phục được “thẻ vàng” của EU, hải sản Việt Nam vẫn còn một số thách thức lớn cần phải vượt qua. VASEP cũng cho biết thêm, dù Việt Nam đã lồng ghép các khuyến nghị của EC vào Luật Thủy sản 2017, các nghị định, văn bản hướng dẫn…, nhưng vẫn cần đẩy mạnh việc thực thi ở các địa phương.

Giá tôm đã tăng trở lại


Theo thông tin từ một số doanh nhân ngành tôm, giá tôm thẻ đã bắt đầu tăng trở lại ở các tỉnh ĐBSCL. Nếu như vào đầu tháng 6, giá tôm thẻ loại 100 con/kg vẫn còn ở mức trên 70.000 đ/kg, thì tới giữa tháng 6, đã tăng lên trên 80.000 đ/kg.

Giá tôm thẻ tăng trở lại, trước hết là do nhiều nhà máy đang đẩy mạnh thu mua tôm nguyên liệu để phục vụ cho những phiếu XK mới ký được, trong đó có những phiếu lớn. Chẳng hạn, Tập đoàn Minh Phú đã ký được hợp đồng XK tôm kỷ lục lên tới 10.179 tấn tôm, giá trị khoảng 110 triệu USD. Thời gian thực hiện hợp đồng này chỉ trong vòng 1 tháng. Điều này cho thấy nhu cầu tôm trên thị trường thế giới bắt đầu tăng lên và dự báo sẽ tăng khoảng 20% ngay trong tháng 6 này.

Để đáp ứng nguồn tôm thẻ nguyên liệu phục vụ chế biến, XK, Tập đoàn Minh Phú đã tăng giá thu mua tôm nguyên liệu lên hơn 10% so với thời điểm giá tôm xuống thấp nhất trong tháng 5. Nhiều nhà máy khác ở ĐBSCL cũng nâng giá thu mua tôm nguyên liệu. Với đà này, dự kiến đến cuối tháng 8, giá tôm thẻ sẽ tăng 30% so với mức giá lúc thấp nhất trong tháng 5. Khi ấy, tôm thẻ loại 100 con/kg màu sắc đẹp, không dư lượng kháng sinh, sẽ có giá thu mua từ 95.00-100.000 đ/kg.

Ông Trương Đình Hòe, Tổng thư ký VASEP, cho biết, sau một thời gian giảm mua để đẩy mạnh tiêu thụ hàng tồn kho, các nhà NK đã có dấu hiệu “bắt đáy” về lượng tôm tồn kho, nên đã tăng mua trở lại. Bên cạnh đó, do giá tôm mấy tháng qua giảm mạnh trên toàn cầu vì sản lượng tăng cao, các nước nuôi tôm lớn đã điều chỉnh lại sản lượng, khiến cho cung – cầu trở nên cân bằng hơn. Ngay ở Việt Nam, nhiều người nuôi tôm đã chủ động nuôi thưa hoặc tạm ngừng thả nuôi.

LÚA GẠO

Xuất khẩu gạo bất ngờ tăng vọt giá trị


Xuất khẩu gạo của Việt Nam trong tháng 6/2018 ước đạt 604.000 tấn, giá trị đạt 317 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu gạo 6 tháng đầu năm 2018 ước đạt 3,56 triệu tấn, giá trị đạt 1,81 tỷ USD, tăng 25% về khối lượng và tăng 42% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. 

Số liệu cập nhật trong 5 tháng đầu năm 2018 cho thấy Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam với 30% thị phần (đạt 844.000 tấn và 499,4 triệu USD), đứng thứ 2 là Indonesia với 18,7% thị phần (đạt 596.000 tấn và 280 triệu USD). Trong 5 tháng đầu năm xuất khẩu sang Trung Quốc giảm 21,3% (đạt 844.000 tấn). Các thị trường có mức xuất khẩu tăng là Indonesia 596.000 tấn, Iraq 150.000 tấn, Malaysia với 273.000 tấn (gấp 2,51 lần), và Hoa Kỳ với 26.200 tấn (gấp 2,36 lần) so với cùng kỳ năm 2017.

Trong tháng 6/2018, giá gạo xuất khẩu của các nước lớn đều giảm. Tuy nhiên, giá gạo trắng 5% tấm xuất khẩu của Việt Nam đạt 450 USD/tấn, vẫn cao hơn so với sản phẩm cùng loại của Ấn Độ và Thái Lan. Giá gạo xuất khẩu cùng loại của Ấn Độ đạt 410 USD/tấn và của Thái Lan đạt 435 USD/tấn. Giá gạo xuất khẩu các nước xuất khẩu lớn đều giảm so với tháng trước do nhu cầu nhập khẩu từ các thị trường chính như Indonesia, Philippines, châu Phi, Bangladesh đều giảm.

Thông tin từ Cục Trồng trọt (Bộ NN&PTNT) cũng cho hay, từ nay đến cuối năm, ngành còn thu hoạch thêm 3 vụ lúa. Nếu điều kiện thời tiết không bất thường, có khả năng lúa đạt 23,3 triệu tấn, nâng sản lượng lúa cả năm lên 43,9 triệu tấn, tăng ít nhất 1,2 triệu tấn so với năm 2017.

CÀ PHÊ

Giá cà phê ít biến động, đạt mức trên dưới 36 nghìn đồng


Tháng 5/2018, giá cà phê trong nước giảm mạnh theo giá thế giới, hoạt động mua bán diễn ra chậm chạp do người nông dân không muốn bán ra ở mức giá dưới 37.000 đồng/kg. Cuối tháng 5/2018, giá cà phê thấp nhất ở mức 35.100 VNĐ/kg tại tỉnh Lâm Đồng và cao nhất đạt 36.000 VNĐ/kg tại tỉnh Kon Tum. Giá cà phê xuất khẩu loại 5% hạt đen và vỡ giao tại cảng TP.HCM giao dịch ở mức 1.595 USD/tấn.

Bước sang tháng 6, giá cà phê nhìn chung không có nhiều biến động. Thời điểm đầu tháng 6, giá cà phê tại Lâm Đồng, Ea H'leo, Gia Lai, Đắk Nông, Kon Tum đứng ở mức 35.400 - 36.200 đồng/kg. Đến giữa tháng 6, giá cà phê  Tây Nguyên giảm xuống dao động trong khoảng 34.500 – 35.400 đồng/kg. Và thời điểm gần cuối tháng (ngày 29/6) giá cà phê có xu hướng tăng nhẹ. Tại Lâm Đồng là 34.900 đồng/kg; giá cà phê tại Đắk Nông, Gia Lai giao dịch ở mức 35.600 đồng/kg, còn tại Đắk Lắk - thủ phủ cà phê Tây Nguyên, các địa lý, doanh nghiệp thu mua với giá 35.800 đồng/kg. Giá cà phê nhân xuất khẩu tại cảng TP.Hồ Chí Minh giảm 8 USD/tấn, giao dịch tại mức 1.577 USD/tấn. 

Về tình hình xuất khẩu, theo ước tính, xuất khẩu mặt hàng cà phê của Việt Nam tháng 5/2018 đạt 140 nghìn tấn, trị giá 276 triệu USD, giảm 10,1% về lượng và giảm 7,3% về trị giá so với tháng 4/2018, tăng 9,6% về lượng nhưng giảm 3,9% về trị giá so với tháng 5/2017. Tính chung 5 tháng đầu năm 2018, xuất khẩu cà phê đạt 825 nghìn tấn, trị giá 1,602 tỷ USD, tăng 1,8% về lượng nhưng giảm 12,0% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

Tháng 5/2018, giá xuất khẩu bình quân mặt hàng cà phê của Việt Nam ước đạt mức 1.971 USD/tấn, tăng 3,1% so với tháng 4/2018 nhưng giảm 12,3% so với tháng 5/2017. Trong 5 tháng đầu năm 2018, giá xuất khẩu bình quân mặt hàng cà phê đạt khoảng 1.942 USD/tấn, giảm 13,6% so với 5 tháng đầu năm 2017.

Cơ cấu chủng loại xuất khẩu cà phê thay đổi theo hướng tích cực, khi xuất khẩu cà phê hòa tan tăng. Trong 4 tháng đầu năm 2018, xuất khẩu cà phê hòa tan đạt 41,7 nghìn tấn, trị giá 160,95 triệu USD, tăng 23,5% về lượng và tăng 19,6% về trị giá. Cà phê Robusta vẫn là chủng loại xuất khẩu chủ lực của Việt Nam với 605 nghìn tấn, trị giá 1,1 tỷ USD, tăng 16,3% về lượng nhưng giảm 2,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

HẠT TIÊU

Giá hạt tiêu tăng nhưng không bền vững


Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết, giá hạt tiêu tại thị trường trong nước những ngày đầu tháng 6/2018 tăng tại hầu hết các tỉnh/huyện khảo sát so với cuối tháng 5/2018.

Tuy nhiên, xu hướng tăng giá này nhiều khả năng sẽ không bền vững do nguồn cung từ vụ thu hoạch trước vẫn còn nhiều, trong khi nhu cầu không lớn. Khách hàng Trung Quốc đã từ chối các phiếu hạt tiêu trắng của Việt Nam và chuyển sang nguồn cung khác có giá cạnh tranh hơn như Indonesia và Malaysia. 

Chốt phiên giao dịch ngày 9/6/2018, tại thị trường trong nước giá hạt tiêu đen giao dịch ở mức thấp nhất là 56.000 VNĐ/kg tại tỉnh Đồng Nai, và mức cao nhất 59.000 VNĐ/kg tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. So với cùng kỳ tháng 5/2018, giá hạt tiêu đen giảm từ 1,7 – 3,4%, riêng tại huyện Chư Sê – tỉnh Gia Lai giá ổn định.

Đến thời điểm cuối tháng 6 (ngày 29), giá hồ tiêu sau gần 1 tuần giữ nguyên đã có biến động nhẹ. Cụ thể, giá hồ tiêu tại huyện Châu Đức (Bà Rịa - Vũng Tàu) và Bình Phước ghi nhận giảm 1.000 đồng. Lúc này giá tiêu được các doanh nghiệp và đại lý thu mua quanh mức 53.000 – 55.000 đồng/kg.Tại Chư Sê (Gia Lai) giá tiêu sau khi giảm ở tuần trước đó đang có mức 53.000 đồng/kg. Tại tỉnh ĐắkLắk, Đắk Nông giá hồ tiêu ở mức 54.000 đồng/kg. Trong khi giá tiêu Bình Phước hôm nay giảm 1.000 đồng về mức 54.000 đồng/kg.

Hiện thị trường giá nông sản trong nước theo sát diễn biễn giá nông sản thế giới. Thị trường xuất khẩu nông sản càng lúc càng cạnh tranh gay gắt, không chỉ giá mà còn sản lượng.

Theo Tổng cục Hải quan, xuất khẩu hạt tiêu tháng 5/2018 đạt 23,1 nghìn tấn, trị giá 75,15 triệu USD, giảm 14,0% về lượng và giảm 12,2% về trị giá so với tháng 4/2018, giảm 12,8% về lượng và giảm 45,7% về trị giá so với tháng 5/2017.  Tính chung 5 tháng đầu năm 2018, xuất khẩu hạt tiêu đạt 110 nghìn tấn, trị giá 382 triệu USD, tăng 7,2% về lượng nhưng giảm 36,6% về trị giá so với 5 tháng đầu năm 2017.

Tháng 5/2018, giá xuất khẩu bình quân mặt hàng hạt tiêu ở mức 3.254 USD/tấn, tăng 2,1% so với tháng 4/2018, nhưng giảm 37,7% so với tháng 5/2017. Trong 5 tháng đầu năm 2018, giá xuất khẩu bình quân mặt hàng hạt tiêu đạt 3.477 USD/tấn, giảm 40,8% so với 5 tháng đầu năm 2017.

HẠT ĐIỀU

Doanh nghiệp chế biến hạt điều chật vật vì thiếu nguyên liệu


Theo Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương, hiện các nhà máy chế biến hạt điều trong nước đang phải đối mặt với tình trạng khó khăn về nguyên liệu. Phần lớn các nhà máy đã bán hết nhân điều trong 5 tháng đầu năm, lượng nhân điều cho xuất khẩu không còn nhiều. 

Hàng loạt nhà máy chế biến hạt điều Việt Nam đang ngừng hoạt động, đóng cửa vì không còn nguyên liệu điều thô để chế biến nhân điều xuất khẩu dù thị trường tiêu thụ đang tăng. Đó là thực trạng buồn của ngành điều hiện nay được ông Nguyễn Đức Thanh, Chủ tịch Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas), cho biết tại buổi họp báo chiều 15-6 ở TP.HCM.

Theo ông Thanh, khảo sát tại Long An đã có 12/33 doanh nghiệp (DN) chế biến hạt điều đóng cửa sản xuất. Ở thủ phủ ngành điều Việt Nam là Bình Phước, số nhà máy chế biến hạt điều ngừng hoạt động lên tới 70%-80%. Một số địa phương khác hàng loạt nhà máy chế biến hạt điều cũng rơi vào tình cảnh chung.

“Những nhà máy chế biến hạt điều đóng cửa chủ yếu là các DN, cơ sở nhỏ lẻ. Chỉ còn những DN lớn đang hoạt động nhưng công suất cũng không lớn vì nguyên liệu không còn nhiều” - ông Thanh chia sẻ.

Thống kê của Tổng cục Hải quan cho biết, tính từ đầu năm đến giữa tháng 6, xuất khẩu hạt điều đạt 159,3 nghìn tấn, trị giá 1,555 tỷ USD, tăng 20,1% về lượng và tăng 21,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017. 

Về diễn biến giá, giá xuất khẩu bình quân mặt hàng hạt điều trong nửa đầu tháng 6/2018 đạt 9.072 USD/tấn, giảm 3,5% so với nửa đầu tháng 5/2018 và giảm 11,5% so với cùng kỳ năm 2017. 

Đáng chú ý, giá xuất khẩu nhân điều của Việt Nam hiện chỉ còn 4,1 - 4,3 USD/pound, thấp hơn nhiều so với mức giá cao nhất 5,1 - 5,3 USD/pound cùng kỳ năm 2017. 

Cục Xuất nhập khẩu dự báo giá xuất khẩu nhân điều của Việt Nam có khả năng sẽ phục hồi trở lại trong thời gian tới do nhu cầu cuối năm tăng và nguồn cung hạn hẹp. Theo yếu tố chu kỳ, quý III và quý IV là thời điểm các nhà nhập khẩu đẩy mạnh mua nhân điều để phục vụ nhu cầu tăng cao trong những tháng cuối năm.

(TTGCVT /T.Hiền tổng hợp) 

 

 

 

Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (024) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (024) 39762593 
Email:ttgcvattu1989@gmail.com