Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Thị trường hàng hóa thế giới tháng 5/2018
Cập nhật: 1-6-2018

Tháng qua, thị trường hàng hóa thế giới biến động mạnh, chịu sự tác động chủ yếu bởi rủi ro địa chính trị. Ở khu vực Trung Đông, bao gồm diễn biến liên quan đến thỏa thuận hạt nhân của Iran, ở khu vực Đông Bắc Á là tổ chức các cuộc gặp thượng đỉnh liên Triều, Mỹ - Triều, ở châu Âu là cuộc khủng hoảng chính trị tại Italia …

Vàng

Giá xoay quanh 1.300 USD/oz, chịu sức ép lớn trước sức mạnh của đồng USD


Mối lo về tình hình căng thẳng tại bán đảo Triều Tiên đã phần nào dịu xuống cùng với sự mạnh lên của đồng USD khiến giá vàng đi xuống trong hầu hết các phiên giao dịch của tuần đầu tháng 5. Phiên cuối tuần (4/5), giá vàng giao ngay tăng 0,2%, lên 1.314,23 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng giao tháng 6 tăng 2 USD (0,2%), lên 1.314,70 USD/ounce. Tính chung cả tuần này, giá vàng kỳ hạn mất khoảng 0,7%, đánh dấu tuần giảm thứ ba liên tiếp.

Thị trường vàng dường như phớt lờ đà tăng của đồng USD phiên cuối tuần để hướng sự chú ý vào các động thái sắp tới của Mỹ đối với Iran. Bộ Lao động Mỹ ngày 4/5 công bố báo cáo cho hay, nền kinh tế lớn nhất thế giới đã tạo thêm 164.000 việc làm trong tháng 4/2018, thấp hơn dự báo của thị trường. Tuy vậy, tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ lại giảm xuống 3,9%, mức thấp nhất kể từ tháng 12/2000. Trong khi đó, mức lương trung bình của người lao động Mỹ lại tăng 4 UScent/giờ, tương đương 0,1%, lên 26,84 USD/giờ, báo hiệu lạm phát có khả năng tăng lên, qua đó mở đường cho Fed tiếp tục lộ trình nâng lãi suất trong năm nay.

Tuần tiếp theo, giá vàng tăng nhẹ 0,5%, lần tăng đầu tiên trong vòng 4 tuần, vì đồng USD giảm liên tiếp 3 phiên so với rổ các đồng tiền chủ chốt do USD yếu đi và các nhà đầu tư giảm niềm tin vào khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ sẽ nâng tỷ lệ lãi suất 3 lần trong năm 2018. Phiên cuối tuần (11/5), giá vàng ít biến động, với vàng giao ngay lúc đóng cửa vững ở 1.321 USD/ounce, đầu phiên có lúc giá lên mức cao nhất kể từ 25/4 (1.325,96 USD), vàng giao tháng 6 giảm 1,6 USD tương đương 0,1% xuống 1.320,70 USD/ounce.

Vàng được coi là một tài sản đầu tư an toàn trong thời kỳ bất ổn, song giới đầu tư dường như không bị chi phối nhiều bởi tình hình căng thẳng ở Trung Đông, qua đó không giúp vàng hưởng lợi nhiều. Nhu cầu vàng trên thế giới quý 1/2018 thấp nhất trong vòng một thập kỷ do giá ít biến động và lãi suất tăng ở Mỹ khiến các nhà đầu tư chuyển hướng sang những tài sản mang lại nhiều lợi nhuận hơn. Theo Hội đồng Vàng Thế giới (WGI), tổng nhu cầu vàng toàn cầu trong 3 tháng đầu năm nay đạt 973,5 tấn, giảm 7% so với cùng kỳ năm ngoái và là quý thấp nhất kể từ 2008.

Trung tuần tháng 5, giá vàng hồi phục do USD giảm sau khi căng thẳng chính trị tại Italia dấy lên làn sóng bán tháo trái phiếu của nước này và khiến các nhà đầu tư lại tìm tới những tài sản trú ẩn an toàn như vàng. Kết thúc phiên 18/5, giá vàng giao ngay tăng 0,2% lên 1.292,12 USD/ounce, từ mức thấp nhất kể từ ngày 27/12 của phiên trước đó (1.291,3 USD/ounce). Các chuyên gia dự báo giá vàng giao ngay có thể sẽ tiếp tục tăng lên 1.302 USD/ounce. Số liệu cho thấy rằng, thị trường lao động Mỹ thắt chặt và hoạt động nhà máy giữa Đại Tây Dương tăng, thúc đẩy kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang sẽ tăng lãi suất trong tháng tới. 

Lo ngại bất ổn chính trị đã khiến giá vàng tăng trong tuần cuối tháng 5. Phiên giao dịch 25/5, giá vàng giảm nhẹ sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết cuộc họp với lãnh đạo Bắc Triều Tiên vẫn có thể tiếp tục. Kết thúc phiên này, vàng giao ngay giảm 0,1% xuống mức 1.303,34 USD/ounce , tuy nhiên tính chung cả tuần giá vẫn tăng 0,9%, mức tăng lớn nhất kể từ tháng Ba. Trong phiên này có lúc giá chạm 1.307,80 USD/ounce, mức cao nhất trong 10 ngày; vàng giao sau cùng phiên giảm 70 cent, tương đương 0,1%, xuống 1.303,70 USD/ounce.

Phiên trước đó, giá vàng đã tăng trên 1.300 USD/ounce sau khi Trump cho biết cuộc họp với Triều Tiên sẽ không diễn ra. Nhà phân tích Carsten Menke của Julius Baer cho biết việc không chắc chắn trong cuộc họp Mỹ - Triều Tiên chỉ tác động tạm thời đối với vàng, truyền thống được sử dụng như một nơi đầu tư an toàn trong thời gian bất ổn.

Giá vàng thế giới vẫn chỉ lình xình cho dù lo ngại bất ổn chính trị tại châu Âu đã đẩy nhiều tài sản an toàn khác như yên Nhật hay trái phiếu Kho bạc Mỹ tăng giá mạnh. Nguyên nhân do kim loại quý này vẫn đang chịu áp lực lớn từ đồng USD, vốn cũng đang được hưởng lợi lớn từ sự sụp đổ của đồng euro. Bên cạnh đó đồng bạc xanh cũng đang nhận được sự hỗ trợ lớn từ kỳ vọng Fed sẽ tăng tiếp lãi suất ngay trong tháng 6 tới sau những số liệu khả quan của kinh tế Mỹ..

Chuyên gia Philip Newman thuộc công ty tư vấn đầu tư kim loại quý Metals Focus, giá vàng sẽ tiếp tục “chật vật” trong quý này và có thể cả quý tới. Tuy nhiên, với những lo ngại về các khoản nợ của nước Mỹ cũng như cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào tháng 11 tới, chuyên gia Philip Newman nhận định đồng USD vẫn có thể yếu đi và giá vàng sẽ phục hồi vào khoảng cuối năm nay.

Hiện giá vàng kỳ hạn tháng 6 đang dừng ở 1.300,2 USD/oz; giá vàng giao ngay cũng đang xoay quanh 1.300 USD/oz.

Kim loại cơ bản

Giá tăng nửa đầu tháng và giảm trở lại vào nửa cuối tháng

Các kim loại cơ bản tăng giá trong tuần đầu tháng khi số liệu việc làm thất vọng của Mỹ không đủ để thay đổi quan điểm lạc quan tổng thể về nền kinh tế Mỹ và sau khi Trung Quốc có một số tiến triển trong đàm phán với Mỹ. Trung Quốc và Mỹ đã đạt được sự đồng thuận về một số điểm trong tranh cãi thương mại giữa hai nước, nhưng những bất đồng về các vấn đề khác vẫn còn khá lớn. Các cuộc đàm phán đã có tiến bộ về một số mặt, Trung Quốc đã đề nghị mua thêm hàng hóa của Mỹ và giảm thuế quan đối với một số mục gồm cả ô tô, mặc dù bất đồng về những vấn đề khác vẫn kéo dài.

Nhôm kết thúc phiên cuối tuần (4/5) tăng 3,6% lên 2.350 USD/tấn, trong phiên có lúc đạt mức cao nhất trong gần hai tuần, 2.367,50 USD/tấn, sau khi công ty Rusal của Nga, nhà sản xuất nhôm lớn thứ hai thế giới, giảm xuất khẩu 70% trong tháng 4 so với tháng trước. Tính chung cả tuần kim loại này tăng gần 6% sau khi giảm gần 10% trong tuần trước đó.

Giá kẽm giao sau ba tháng trên sàn giao dịch kim loại London đóng cửa phiên cuối tuần tăng 1,6% lên 3.055 USD/tấn, trong phiên có lúc giá chạm mức thấp nhất trong 9 tháng, 2.970 USD/tấn, do các nhà đầu tư đặt cược thị trường sẽ giảm thiếu hụt trong năm nay. Theo Tổ chức Nghiên cứu Chì và Kẽm Quốc tế, mỏ kẽm công suất 880.000 tấn bổ sung sẽ đi vào hoạt động trong năm, nghĩa là thị trường này sẽ bớt thiếu hụt. Tuy nhiên, Tổ chức này vẫn dự kiến thiếu hụt 263.000 tấn trong năm nay.

Tuần tiếp theo, giá các kim loại tiếp tục tăng nhẹ. Giá đồng tại London ngày 8/5 tăng phiên thứ 4 liên tiếp, trong khi giá kẽm tăng 1,5% do kỳ vọng về số liệu của Trung Quốc cho thấy nền kinh tế tại nước tiêu thụ kim loại hàng đầu thế giới duy trì mạnh mẽ trong tháng 4/2018.

Giá đồng kỳ hạn 3 tháng tại Sở giao dịch kim loại London (LME) tăng 0,5% lên 6.875 USD/tấn phiên 8/5, trong khi giá đồng tại Sở giao dịch kỳ hạn Thượng Hải (ShFE) tăng 0,2% lên 51.210 NDT (8.046,83 USD)/tấn.

Tăng trưởng trong lĩnh vực dịch vụ của Trung Quốc trong tháng 4/2018 tăng, khi kinh doanh và việc làm mới tăng với tốc độ nhanh hơn, điều tra tư nhân cho biết, dấu hiệu tăng trưởng vững chắc trong ngành mà Bắc Kinh đang tiếp tục duy trì tăng trưởng kinh tế.

Trung tuần tháng 5, giá đồng và nhôm giảm sau thông tin từ Rusal cho biết, tài phiệt Oleg Deripaska đã từ chức khỏi Hội đồng quản trị và thôi không làm giám đốc Rusal nữa. Giá nhôm giảm xuống mức thấp nhất 2 tuần khi thị trường giảm bớt lo ngại về nguồn cung nhôm từ Nga. phiếu giao sau 3 tháng trên sàn London đóng cửa giảm 1% xuống còn 2.270 USD/tấn, trong phiên có lúc đạt 2.245 USD/tấn, mức thấp nhất kể từ ngày 2/5. Một tháng trước đây giá nhôm đã lên mức cao kỷ lục 6 năm sau khi Mỹ áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với Rusal, nhà sản xuất nhôm lớn thứ 2 thế giới, nhưng sau đó giá giảm trở lại bởi nhận định nguồn cung có thể sẽ không bị ảnh hưởng nhiều. Giá đồng phiên cuối tuần (18/5) giảm 0,3% xuống còn 6.855 USD/tấn, tính chung cả tuần giảm 0,9%, là tuần giảm đầu tiên trong 3 tuần, do sự không chắc chắn về triển vọng tăng trưởng toàn cầu và sức mạnh đồng USD trong tuần này đã gây áp lực giá. Giá nickel trên sàn London tăng 1,1% lên 14.750 USD/tấn, giá kẽm tăng 0,1% lên 3.099,5 USD/tấn, trong khi giá chì giảm 1,9% xuống còn 2.330 USD/tấn và giá thiếc tăng 0,6% lên 20.780 USD/tấn.

Tuần cuối tháng 5, giá đồng giảm xuống mức thấp nhất 2 tuần, chịu áp lực bởi đồng USD tăng và khủng hoảng chính trị tại Italia, kéo các nhà đầu tư ra khỏi tài sản rủi ro.

Thông tin cho rằng, Mỹ sẽ tiếp tục áp thuế quan trị giá 50 tỉ USD đối với hàng nhập khẩu của Trung Quốc, trừ khi Bắc Kinh giải quyết vấn đề về lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ cũng gây áp lực thị trường.

Phiên 30/5, giá đồng kỳ hạn 3 tháng tại Sở giao dịch kim loại London (LME) giảm 0,7% xuống còn 6.810 USD/tấn, sau khi chạm mức thấp 6.802 USD/tấn trong đầu phiên giao dịch. Giá đồng kỳ hạn tháng 7 tại Sở giao dịch kỳ hạn Thượng Hải (ShFE) giảm gần 1% xuống còn 51.110 NDT (7.952 USD)/tấn, mức thấp nhất 1 tuần.

Đồng USD dao động lên mức cao nhất gần 10 tháng so với đồng euro, do khủng hoảng chính trị tại Italia, gia tăng khả năng một cuộc bầu cử sớm. Đồng bạc xanh tăng mạnh mẽ khiến tài sản mua bằng đồng USD đắt hơn khi mua bằng tiền tệ khác.

Giá thiếc tại Thượng Hải tăng hơn 3% lên 157.560 NDT/tấn, mức cao nhất kể từ tháng 8. Các thương nhân cho biết, thị trường lo ngại xuất khẩu từ nước cung cấp hàng đầu - Trung Quốc - sang Myanmar suy giảm (?)

Quặng sắt

Giá giảm do nguồn cung dư thừa

Giá quặng sắt tại Trung Quốc giảm nhẹ trong tháng này do lo ngại nguồn cung dư thừa. Giá giao dịch quặng sắt trên sàn giao dịch hàng hóa Đại Liên ngày 24/05/2018 là  456,50 NDT /tấn, giảm 18 NDT/tấn so với tháng trước đó. Dự trữ quặng sắt tại các cảng lớn của Trung Quốc đạt 160,58 triệu tấn ngày thứ sáu (25/5), tăng 1,6 triệu tấn so với tuần trước đó và không xa so với mức cao kỷ lục 161,68 triệu tấn trong tháng 4/2018, SteelHome cho biết. 

Việc Trung Quốc cắt giảm sản xuất thép trong 3 tháng đầu năm nay đã làm giảm nhu cầu tiêu thụ quặng sắt, trong khi nguồn cung quặng cao đã kéo giá giảm xuống dưới 70 USD/tấn. Số liệu hải quan Trung Quốc cho biết, trong tháng 4/2018 nước này đã nhập khẩu 82,92 triệu tấn quặng sắt, gần như không thay đổi so với cùng tháng năm trước đó, nhưng giảm 3,3% so với tháng 3/2018, do hạn chế môi trường tại các nhà máy thép có thể khiến nhu cầu nguyên liệu này suy giảm. Tuy nhiên, nguồn cung sẽ không nhất thiết giảm ngay cả khi nếu dự trữ gần như đạt mức cao kỷ lục.

Các nhà phân tích tại BMI Research đã điều chỉnh triển vọng đối với quặng sắt, và dự báo giá sẽ giảm trong những tháng tới và những năm tiếp theo, khi Trung Quốc chuyển hướng tập trung sang lĩnh vực dịch vụ, khiến nhu cầu quặng sắt suy giảm.

Trong khi đó, khoảng 1/2 công suất sản xuất thép của Trung Quốc được dự kiến sẽ tuân thủ tiêu chuẩn khí thải cực thấp vào năm 2020. Các nhà máy thép sẽ cần phải lắp đặt thiết bị môi trường đắt tiền và sử dụng nguyên liệu cấp cao hơn để đạt mục tiêu.

Trong nửa cuối năm, giá quặng sắt dự báo tiếp tục biến động theo giá thép trong khi vẫn chịu áp lực từ nguồn cung cao. Sản xuất thép giảm theo sự kiểm soát nguồn cung của Chính phủ, do đó, tiêu thụ quặng cũng hạn chế và giá cả sẽ giảm về gần 60 USD/tấn vào cuối năm.

Chỉ số giá quặng sắt của Trung Quốc trong tháng 5/2018 (Nguồn: SteelHome)

Tên sản phẩm

Giá trung bình (NDT/tấn)

+- So với 4/2018 (%)

+- So với 5/2017 (%)

Quặng sắt

579

-0,65

-12

Quặng sắt trong nước (65% sắt)

625

0,76

-6,6

Quặng sắt nhập khẩu (62% sắt)

514

2,35

-17


Thép

Thị trường thế giới đang hồi phục khá mạnh.

Trong tháng 5, chỉ số giá thép trung bình toàn cầu tăng nhẹ 0,65% so với tháng trước đó, và tăng 23,74% so với cùng kỳ năm ngoái. Chỉ số giá thép cán phẳng và thép dài toàn cầu cũng tăng tương tự.

Chỉ số giá thép Châu Mỹ và Châu Á tăng trên 2% so với tháng trước đó và tăng trên 20% so với cùng kỳ năm ngoái trong khi chỉ số giá thép tại Châu Âu giảm 4% so với tháng trước đó song tăng 25% so với cùng kỳ năm ngoái.

Thị trường thép thế giới vẫn tiếp tục nóng lên xung quanh vấn đề đánh thuế 232 của Mỹ. Các nước tiếp tục thương lượng với Mỹ để được miễn khỏi loại thuế này. Mỹ yêu cầu các nước giải quyết vấn đề năng suất thép dư thừa trên thế giới và đối phó với các vấn đề thương mại bất bình đẳng ở Trung Quốc. 

Tại Châu Mỹ, chỉ số giá thép tiếp tục tăng 2,58% so với tháng trước đó và tăng 23% so với cùng kỳ năm ngoái do quyết định đánh thuế mới của chính phủ Mỹ đã khiến các nhà máy nước này tăng giá bán. Ngành thép Mỹ đang nỗ lực phản đối thuế mới vì cho rằng thuế này sẽ làm tăng giá mua sản phẩm và hạn chế sự phát triển của ngành. Họ đang cố gắng được miễn trừ khỏi bị đánh thuế nhập khẩu mới này đồng thời chuyển hướng sang nhập thép từ Mêhicô để tận dụng mức giá rẻ hơn. 

Ngày 1/5, Ủy ban Thương mại Quốc tế Mỹ thông báo sẽ đánh thuế chống bán phá giá đối với mặt hàng carbon và dây thép hợp kim nhập khẩu từ 5 nước (Hàn Quốc, Italy, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ và Anh) sau khi xác định các sản phẩm này đang đe dọa ngành sản xuất nội địa của Mỹ.

Ngày 21/05, Bộ Thương mại Mỹ quyết định áp thuế nhập khẩu nặng đối với mặt hàng thép từ Việt Nam có nguồn gốc Trung Quốc do vi phạm lệnh chống phá giá và chống trợ cấp của Mỹ. Theo quy định mới, Mỹ sẽ thu thuế chống phá giá 199,76% và thuế chống trợ cấp (thuế đối kháng) 256,44% đối với mặt hàng thép cán nguội sản xuất ở Việt Nam nhưng sử dụng nguyên liệu của Trung Quốc. Riêng thép chống gỉ từ Việt Nam đối mặt mức thuế chống phá giá 199,43% và thuế đối kháng 39,05%. Ngoài ra, Mỹ sẽ ban hành cùng mức thuế chống phá giá/chống trợ cấp hiện đang áp dụng với Trung Quốc đối với thép chống gỉ và thép cán nguội từ Việt Nam có nguồn gốc là thép cán nóng Trung Quốc. Các loại thuế trên sẽ được áp dụng cùng với mức thuế 25% áp dụng đối với hầu hết thép nhập khẩu vào Mỹ. Tuy thép được xử lý chống gỉ và cán nguội ở Việt Nam nhưng Mỹ cho rằng 90% giá trị sản phẩm có nguồn gốc Trung Quốc.

Trên thị trường thép Châu Á, chỉ số giá thép tháng 5/18 tăng 2,4% so với tháng trước đó và tăng 23,5% so với cùng kỳ năm ngoái.

Trong đó, chỉ số giá thép tại Trung Quốc tăng 3,57% so với tháng trước đó và tăng 14% so với cùng kỳ năm ngoái do nhu cầu tiêu thụ mạnh, hoạt động xây dựng tại Trung Quốc tăng, trong khi dự trữ thép tại các thương nhân tiếp tục giảm kể từ tháng 3/2018. Dự trữ thanh cốt thép của các thương nhân Trung Quốc đạt 6,39 triệu tấn ngày 11/5, giảm 35% so với mức cao nhất 5 năm hồi giữa tháng 3/2018. Tuy nhiên, mức tăng giá bị hạn chế bởi sản xuất thép vẫn tiếp tục tăng để đáp ứng nhu cầu mạnh trong nước. Các nhà máy thép Trung Quốc sản xuất 2,56 triệu tấn thép thô trung bình ngày trong tháng 4/2018, mức cao nhất kể từ tháng 5/2014.

Giá kỳ hạn thép thanh tại Thượng Hải, giao tháng 10 giảm còn 3.532 NDT(552,95 USD)/tấn vào ngày 24/05/2018, tăng 166 NDT (64 USD) so với 1 tháng trước đó.

Tại Đài Loan, giá thép dây tăng do nhu cầu mạnh. Giá dây thép 1022 A của CSC đạt 25.500 TWD/tấn trong tháng 5. Giá thép dây của Dragon Steel đạt 23.200 TWD/tấn, thấp hơn mức 24.500 TWD/tấn hồi tháng 4. Trong tháng 4/2018, Đài Loan đã xuất khẩu khoảng 25.000 tấn thép tấm hợp kim, tăng so với 20.000 tấn tháng trước đó. Xuất khẩu ròng thép tấm hợp kim của nước này đạt 18.000 tấn, tăng so với 14.000 tấn tháng trước đó.

Trong số đó, xuất khẩu từ Ấn Độ đạt 14.000 tấn, từ Indonesia đạt 8.900 tấn, từ Thái Lan đạt 600 tấn, từ Việt Nam đạt 300 tấn, từ Malaysia đạt 270 tấn, từ Trung Quốc đạt 200 tấn, từ Mỹ đạt 180 tấn.

Tại Nhật Bản, giá thép tăng lên do chi phí đầu vào tăng. Giá thép dầm hình H cỡ lớn ở Tokyo ở mức 84.000-85.000 Yên/tấn (767- 776 USD/tấn) và thép thanh kích thước cơ bản là 73.000-74.000 Yên/tấn, tăng 1.000 Yên/tấn so với tháng trước đó.

Tại Châu Âu, chỉ số giá thép giảm 4,21% trong tháng 5/2018 so với tháng trước đó song tăng 25,45% so với cùng kỳ năm ngoái. Tâm lý chờ đợi quyết định thực hiện chính sách hạn ngạch của EC đã khiến hoạt động giao dịch thép bị đình lại trên thị trường EU.

EC đã tiến hành điều tra nhập khẩu thép vào ngày 26/3 để ngăn chặn nhập khẩu thép vào thị trường EU sau khi Mỹ tiến hành đánh thuế quan 25%. Hầu hết các công ty thương mại đã ngừng giao dịch và có rất ít động cơ để bán hàng do đồng Euro mất giá và chờ đợi thỏa thuận giữa Mỹ và EU.

Châu Âu cũng đang xem xét trả đũa bằng việc đánh thuế nặng hàng nhập khẩu của Mỹ vào khối này nếu các cuộc thương lượng với Mỹ không đem lại kết quả.

Việc Mỹ rút khỏi thỏa thuận hạt nhân với Iran đang khiến các nhà máy thép cán Italia, các công ty thép ống Châu Âu và các nhà cung cấp công nghệ thép lo ngại bị cấm vận kinh tế nếu tiếp tục giao dịch với các nhà máy thép cán Iran. Họ đang tìm nguồn cung cấp thay thế các sản phẩm bán thành phẩm để giảm bớt rủi ro thương mại từ lệnh cấm vận.

Theo Hiệp hội Thép Đức, nhập khẩu sản phẩm thép vào thị trường EU tăng rõ rệt sau khi Mỹ đánh thuế thép.Nhập khẩu sản phẩm thép của Nga đã tăng khoảng 140% so với cùng kỳ năm ngoái, và lượng nhập khẩu của Thổ Nhĩ Kỳ tăng 76%. Do đó, EU đã quyết định đưa ra nhiều hạn ngạch hoặc thuế quan hơn để kiểm soát số lượng nhập khẩu.

Dự báo trong tháng tới, thị trường thép thế giới sẽ còn nhiều bất ổn, các nước vẫn đang tìm mọi cách để được miễn thuế thép 25% của Mỹ. Việc cắt giảm sản xuất của Trung Quốc cũng sẽ là yếu tố lớn ảnh hưởng tới giá thép toàn cầu.

Giá thép Trung Quốc dự kiến sẽ tăng nhẹ trong tháng tới do nhu cầu tiêu thụ tăng cao trong mùa cao điểm. 

Tại Nhật Bản, giá dự kiến sẽ ổn định do nhiều công ty trong đó có Tokyo Steel Manufacturing Co Ltd, nhà sản xuất thép hồ quang điện hàng đầu của nước này thông báo giữ giá sản phẩm ổn định trong tháng 6 để đảm bảo thị trường hấp thụ mức tăng trước đó. Đây là tháng thứ tư liên tiếp công ty giữ giá thép không đổi.

Theo Hiệp hội Thép Châu Âu (EUROFER), sản lượng công nghiệp thép của Liên minh Châu Âu (EU) được dự đoán sẽ tăng 2,8% vào năm 2018 và nhu cầu sẽ đạt 16,2 tỷ tấn. Tuy nhiên, EU cũng lo ngại về nguy cơ nhập khẩu các sản phẩm thép tăng mạnh.

Hiện tại, việc phục hồi ngành thép của EU đang phải đối mặt với nguy cơ thuế thép của Mỹ. Ủy ban Châu Âu xem xét đặt hạn ngạch nhập khẩu để tránh một số lượng lớn thép nhập khẩu được bán cho thị trường EU và tác động đến ngành công nghiệp trong khối. 

Dầu thô

Đạt đỉnh cao trong hai tuần đầu tháng và chuyển sang đáy sâu vào cuối tháng


Tuần đầu tháng 5, thị trường dầu thô chịu sự chi phối chủ yếu bởi vấn đề Iran và xu hướng dịch chuyển của đồng USD. Đà tăng mạnh phiên cuối tuần (4/5) đã giúp thị trường năng lượng ghi nhận tuần giao dịch khởi sắc. Phiên này giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) trên sàn New York tăng 1,29 USD (1,9%), lên 69,72 USD/thùng, mức cao nhất kể từ 26/11/2014; tính chung cả tuần, giá tăng 2,4%. Trong khi đó, giá dầu Brent Biển Bắc trên sàn London cũng tăng 1,25 USD (1,7%), lên 74,87 USD/thùng, tính chung cả tuần giá tăng 1,5%.

Diễn biến liên quan đến thỏa thuận hạt nhân và lệnh trừng phạt Iran đe dọa làm gián đoạn nguồn cung dầu từ quốc gia Trung Đông này. Báo cáo ngày 2/5 từ Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ cho biết lượng dầu thô dự trữ của nước này bất ngờ tăng 6,2 triệu thùng trong tuần kết thúc ngày 27/4. Nguồn cung dầu đá phiến Mỹ được cho là một trong những yếu tố có thể ảnh hưởng đến biến động của giá "vàng đen". Mặc dù sản lượng dầu đá phiến của Mỹ đang tăng mạnh hơn dự đoán, với mức tăng ước gần 10% (1,4 triệu thùng/ngày) trong năm nay, song giới phân tích cho rằng con số đó vẫn chưa làm chệch đà tăng của giá dầu trong năm nay, giữa bối cảnh nhu cầu dầu đang tăng mạnh.

Ngày 8/5 Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố sẽ rút Mỹ khỏi thỏa thuận hạt nhân Iran, một thỏa thuận mang tính bước ngoặt đã được ký kết vào năm 2015. Việc Mỹ rút khỏi thỏa thuận hạt nhân đã giúp thị trường dầu mỏ hưởng lợi, khi tâm lý lo ngại nguồn cung dầu toàn cầu bị thu hẹp đã đẩy giá dầu đi lên trong tuần tiếp theo. Ngoài ra, thị trường cũng lo ngại về sản lượng khai thác dầu thô của Venezuela tiếp tục giảm, do khủng hoảng kinh tế kéo dài tại quốc gia Nam Mỹ này. Sản lượng khai thác dầu mỏ của Venezuela đã giảm một nửa kể từ đầu những năm 2000 xuống còn 1,5 triệu thùng mỗi ngày, do không đảm bảo đủ nguồn vốn đầu tư để giữ sản lượng khai thác “vàng đen” và duy trì những nhà máy lọc dầu.

Phiên cuối tuần (11/5), giá dầu giảm bởi trước mắt Mỹ và các đồng minh sẽ tiếp tục duy trì thỏa thuận với Iran - điều có thể giúp đảm bảo xuất khẩu dầu thô của Iran trên thị trường thế giới. Kết thúc phiên giao dịch, giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 6/2018 trên sàn New York giảm 66 UScent (0,9%), xuống 70,70 USD/thùng, phiên trước đó có lúc giá chạm mức cao nhất kể từ tháng 11/2014; trong khi đó dầu Brent biển Bắc giao tháng 7/2018 giảm 35 US cent (gần 0,5%), xuống 77,12 USD/thùng. Tuy nhiên tính chung cả tuần này, giá dầu WTI tăng 1,4%, còn dầu Brent tăng 3%, là tuần thứ 2 tăng liên tiếp.

Sản lượng dầu của Venezuela sụt giảm, nhu cầu trên toàn cầu gia tăng và các biện pháp trừng phạt của Mỹ nhắm vào Iran đã làm nóng thị trường dầu thế giới trung tuần tháng 5. Phiên cuối tuần (18/5), giá dầu điều chỉnh giảm, với dầu Brent giảm 79 UScent (1%) xuống 78,51 USD/thùng; còn giá dầu WTI giảm 21 US cent (0,29%) xuống 71,28 USD/thùng. Chênh lệch giá giữa dầu Brent và WTI nới rộng lên hơn 8 USD/thùng do những yếu tố tác động trái chiều lên thị trường. Tuy nhiên, tính chung cả tuần này, giá dầu Brent vẫn tăng khoảng 1,9% (tuần tăng thứ 6 liên tiếp), trong khi dầu WTI tăng 0,9% (tăng tuần thứ 3 liên tiếp). Dầu Brent sát phiên cuối tuần có lúc vượt ngưỡng 80 USD/thùng lần đầu tiên kể từ tháng 11/2014. Từ đầu năm tới nay, Brent đã tăng 17,5%.

Bên cạnh đó, giá dầu còn nhận được hỗ trợ từ báo cáo cho thấy Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) đã nâng dự báo nhu cầu dầu mỏ toàn cầu trong năm 2018 và dự kiến thế giới sẽ tiêu thụ 98,85 triệu thùng/ngày, tăng 1,65 triệu thùng/ngày so với năm ngoái. OPEC thông báo rằng tình trạng dư cung trên thị trường “vàng đen” thế giới gần như đã được loại bỏ. Trong khi đó, sản lượng của Iran không ổn định do các lệnh trừng phạt mà Mỹ áp đặt trở lại. Nhà phân tích Michael Wittner của Societe Generale dự đoán các lệnh trừng phạt của Mỹ đối với Iran sẽ làm giảm 400.000-500.000 thùng dầu thô mỗi ngày mà quốc gia này đưa ra thị trường dầu thế giới.

Hai tuần cuối tháng 5, giá dầu giảm khá mạnh (giảm 5%) kết thúc chuỗi 6 tuần tăng liên tiếp sau thông tin Saudi Arabia và Nga thảo luận hạn chế cắt giảm sản xuất.

Kết thúc phiên giao dịch 25/5, giá dầu thô Brent giảm 2,35 USD, hay 3%, xuống mức 76,44 USD/thùng; tính chung cả tuần này giảm khoảng 2,7% nhiều nhất kể từ đầu tháng Tư; dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giảm 2,83 USD, tương đương 4%, chốt phiên ở mức 67,88 USD/thùng, tính chung cả tuần này giảm 4,9%, mức giảm mạnh nhất kể từ đầu tháng Hai

Lúc gần 13h chiều ngày 29/5, giá dầu thô WTI giao sau tại thị trường New York đứng ở mức 66,82 USD/thùng, giảm 1,06 USD/thùng, tương đương giảm gần 1,6% so với đóng cửa phiên liền trước. Ở mức giá này, giá dầu WTI đã giảm gần 10% so với mức đỉnh khoảng 73 USD/thùng thiết lập vào tuần trước đó. 

Cùng thời điểm trên, giá dầu Brent giao sau tại thị trường London đứng 75,63 USD/thùng, tăng 0,33 USD/thùng, tương đương tăng 0,44% so với chốt phiên liền trước. So với mức đỉnh trên 80 USD/thùng vào tuần trước đó, giá dầu Brent hiện đã hạ khoảng 6%.

Cú giảm mạnh của giá dầu do một tuyên bố từ Saudi Arabia - nước xuất khẩu dầu lớn nhất thế giới và là lãnh đạo không chính thức của Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu lửa (OPEC), nói rằng nước này đang thảo luận kỹ lưỡng với Nga và các nước OPEC khác về tăng sản lượng khai thác dầu để giải tỏa những nỗi lo về nguồn cung toàn cầu. 

Chuyên gia phân tích Daniel Hynes và Soni Kumari từ ngân hàng ANZ (Australia) nhận định rằng giá dầu Brent có khả năng đạt 80 USD/thùng vào cuối năm nay, do bất ổn địa chính trị và nguồn cung bị thắt chặt trên toàn cầu, song nguồn cung dầu tại Mỹ không ngừng tăng cao có thể cản trở “đích đến” này.

Theo một số chuyên gia, ngưỡng hợp lý của giá dầu là trong khoảng 60-70 USD/thùng. Đây được xem là vùng giá đủ cao để đảm bảo nguồn cung, và cũng đủ thấp để duy trì nhu cầu.

Cao su

Giá dầu thô tăng cao đã hỗ trợ thị trường cao su 

Giá cao su tiếp tục có diễn biến tăng trong tháng 5, chủ yếu do giá dầu thô tăng. Việc Mỹ rút khỏi thỏa thuận hạt nhân Iran đã khiến cho thị trường dầu mỏ nóng thêm nữa đồng thời hỗ trợ nhu cầu cao thiên nhiên tăng.

Ngày 10/5/2018, giá cao su thiên nhiên trên thị trường thế giới đạt mức tương đương 118 Rs/kg, trong khi tại Ấn Độ giá loại RSS-4 giao dịch ở 122 Rs/kg.

Ngày 18/5, giá cao su tiếp tục tăng trong bối cảnh hy vọng căng thẳng thương mại giữa Bắc Kinh và Washington sẽ giảm bớt sau vòng đàm phán thứ hai. Hợp đồng cao su kỳ hạn tháng 10 trên sàn TOCOM kết thúc phiên tăng 4 JPY tương đương 0,0361 USD, lên 193,9 JPY/kg. Tại Thượng Hải hợp đồng cao su kỳ hạn tháng 9 tăng 305 NDT tương đương 47,89 USD lên 11.765 NDT/tấn. Hợp đồng cao su kỳ hạn tháng 6 trên sàn SICOM tăng 2 Uscent lên 142,5 Uscent/kg.

Về những yếu tố khác cũng tác động lên giá cao su thiên nhiên, chuyên gia N Rajagopal thuộc Ủy ban Cao su Ấn Độ (Rubber Board India) cho biết, nhu cầu cao su thiên nhiên của Trung Quốc và tỷ giá hối đoái cũng có vai trò quan trọng quyết định giá cao su thiên nhiên.

Trung Quốc là nước tiêu thụ cao su thiên nhiên lớn nhất thế giới, sử dụng khoảng 40% tổng sản lượng toàn cầu. Sau nhiều thập kỷ tăng trưởng với tốc độ cao và dựa vào xuất khẩu, kinh tế toàn cầu suy yếu đã buộc Trung Quốc phải dần chuyển đổi nền kinh tế của mình sang dựa vào tiêu thụ nội địa. Do đó, nhu cầu các loại hàng hóa, trong đó có cao su, chậm lại. Tuy nhiên nhu cầu từ thị trường này đang ổn định dần trong bối cảnh kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng ổn định trong mấy quý vừa qua.

Tại Ấn Độ, tỷ giá đồng rupee so với USD cũng có thể giúp đẩy tăng giá cao su thiên nhiên nội địa, vì cao su nhập khẩu trở nên kém hấp dẫn hơn. Ngày 10/5 đồng rupee ở mức 67 Rs/USD, thấp nhất 15 tháng. Các nhà sản xuất Ấn Độ sẽ buộc phải chuyển hướng tới các nhà sản xuất trong nước để có đủ nguyên liệu đáp ứng nhu cầu, và điều đó sẽ có lợi cho nông dân nước này. Tuy nhiên, cao su khối tại các thị trường Đông Á hiện vẫn rẻ hơn 25-30 Rs/kg so với cao su tấm Ấn Độ. Vậy nên cao su khối vẫn chiếm khoảng 70% tổng nhập khẩu cao su của các công ty sản xuất lốp xe Ấn Độ.

Tổng thư ký Hiệp hội Cao su Ấn Độ, Siby Moniapally, cho biết, nền kinh tế lớn nhất thế giới – Mỹ – sẽ tiếp tục tăng trưởng tốt, do đó nhu cầu tiêu thụ các các sản phẩm như ô tô dự báo sẽ tăng. Theo ông, khi giá dầu thô tăng, cao su tổng hợp sẽ giảm sức hấp dẫn trong mắt các nhà sản xuất, và cao su thiên nhiên sẽ trở nên hấp dẫn hơn.

Theo Hiệp hội các nước sản xuất cao su thiên nhiên (ANRPC), trong quý 1/2018, nhu cầu cao su thiên nhiên toàn cầu tăng 7,6% lên 3,361 triệu tấn, trong khi đó sản lượng tăng 3,3% lên 3,152 triệu tấn (so với 3,051 triệu tấn quý 1 năm ngoái) do tăng ở Trung Quốc, Philippines, Thái Lan và Campuchia. Dự báo tổng cung cao su thế giới năm 2018 sẽ đạt 14,300 triệu tấn, tăng 7,2% so với 13,341 triệu tấn năm 2017.

Đường

Thị trường vẫn tập trung vào nguồn cung dồi dào trên toàn cầu

Sau 9 tuần giảm liên tiếp, tuần đầu tháng 5 giá đường thô đã bật tăng trở lại, tăng 2,6%. Đường thô kỳ hạn tháng 7 chốt phiên 4/5 đạt 11,51 US cent/lb. Đường trắng kỳ hạn tháng 8 đạt 321,10 USD/tấn.

Công ty Sucden cho biết trong một báo cáo hàng quý rằng dư thừa đường toàn cầu niên vụ 2017/18 và 2018/19 là gần 20 triệu tấn. Thị trường cũng đang theo dõi sát sao triển vọng xuất khẩu đường của Ấn Độ sau khi nước tiêu thụ hàng đầu thế giới này phê duyệt kế hoạch trợ cấp cho ngành đường.

Bộ trưởng Tài chính Ấn Độ cho biết 5 Bộ trưởng sẽ xem xét cách thức trợ cấp cho nông dân trồng mía, gồm cả khả năng khiến người tiêu dùng phải trả phụ phí ngoài thuế hàng hóa và dịch vụ.

Đà tăng giá của thị trường đường không duy trì được trong tuần tiếp theo. Phiên 11/5, giá đường thô giảm 0,05 UScent tương đương 0,4% xuống 11,22 UScent/lb, tính chung cả tuần này giảm 2,5%, là tuần thứ 10 giảm trong vòng 11 tuần vừa qua. Đường trắng giao tháng 8 cũng giảm 2,7 USD tương đương 0,8% xuống 320,70 USD/tấn. Brazil bắt đầu thu hoạch mía, thời tiết khô ráo thuận lợi cho việc thu hoạch nên gây áp lực giảm giá đường.

Giá đường thô kỳ hạn tháng 7 tăng 0,1 cent tương đương 0,9% lên 11,66 UScent/lb do lo ngại thời tiết khô tại Brazil; đường trắng kỳ hạn tháng 8 tăng 3,5 USD tương đương 1,1% lên 330,2 USD/tấn. Hợp đồng đường giao ngay chịu áp lực bởi đồng real Brazil suy yếu so với đồng USD, giảm xuống mức thấp nhất kể từ tháng 3/2016. Giá đường thấp cũng khiến các nhà máy ở Brazil tăng sử dụng mía sản xuất ethanol và giảm mía sản xuất đường. Tuy nhiên, nguồn cung đường toàn cầu dư thừa chủ yếu nhờ sản lượng tại Thái Lan và Ấn Độ tăng mạnh mẽ, bù đắp cho sản lượng suy giảm tại Brazil.

Trung tuần tháng 5, giá đường thô kỳ hạn tháng 7 giảm 0,12 cent, tương đương 1%, còn 12,26 cent/lb; đường trắng kỳ hạn tháng 8 giảm 3,80 USD, tương đương 1,1%, xuống còn 347,60 USD/tấn. Chính phủ Brazil đã ký một thỏa thuận với các tài xế xe tải, những người đang phản đối giá dầu diesel cao, làm giảm bớt lo ngại về gián đoạn vận chuyển hàng xuất khẩu. Mưa cũng được dự kiến sẽ làm giảm bớt khô hạn ở Brazil, giúp củng cố xu hướng giá. Các đại lý cho biết, hoạt động mua vào của quỹ dường như đang giảm dần và thị trường vẫn dễ ảnh hưởng bởi hoạt động bán của các nhà sản xuất.

Triển vọng vụ mùa ảm đạm ở Braxin và Ấn Độ thông báo các biện pháp đối phó với nguồn cung đường dư thừa đã hỗ trợ giá đường tăng lên mức cao nhất 6 tuần trong tuần cuối tháng 5. Phiên 24/5, giá đường thô giao tháng 7 chốt phiên tăng 0,2 cent, tương đương 1,7%, đạt mức 12,35 Uscent/lb, sau khi tăng lên mức cao nhất trong 6 tuần ở mức 12,44 Uscent.

Hợp đồng giao ngay đã gần mức quá bán trên chỉ số sức mạnh tương đối, sau khi tăng khoảng 16% trên mức thấp 2 năm rưỡi hồi tháng trước. Giá tăng bởi thông tin Ấn Độ đang xem xét xây dựng kho dự trữ gối vụ đường, điều này sẽ hạn chế xuất khẩu, ít nhất là trong ngắn hạn.

Giá đường trắng giao tháng 8 cũng tăng 6,4 USD, tương đương 1,9%, đạt mức 349,40 USD/tấn, sau khi tăng lên mức cao nhất kể từ ngày 26/3 là 350,30 USD.

Ấn Độ sẽ xây dựng kho dự trữ đường chính phủ để cắt giảm dư thừa trên thị trường, một động thái sẽ đẩy giá địa phương lên và giúp các nhà máy thua lỗ chi trả hàng triệu người trồng mía.

Nội các của Thủ tướng Narendra Modi sẽ sớm phê duyệt kế hoạch tạo ra "dự trữ hàng đệm" 3 triệu tấn đường để thu hút thêm nguồn cung từ thị trường trong nước và ngăn chặn sự giảm giá tự do.

Dự trữ đệm có liên quan đến các giao dịch mua do chính phủ nắm giữ.

Ngoài việc tạo ra các kho dự trữ đường đệm, chính phủ có thể xem xét các phương tiện hỗ trợ giá khác. Ấn Độ, nơi sản lượng đường thường thông dụng, đã tạo ra dự trữ đệm trong quá khứ để giải quyết một nguồn cung cấp khổng lồ.

Các nguồn tin cho biết, ngoài việc tạo ra dự trữ đệm, chính phủ cũng có thể xem xét cho các khoản vay giá rẻ cho các nhà máy đường để mở rộng năng lực sản xuất ethanol của họ.

Ấn Độ, nước sản xuất đường lớn nhất thế giới sau Brazil, có khả năng sản xuất kỷ lục 30,3 triệu tấn chất ngọt niên vụ 2017-2018 kết thúc vào ngày 30/9, tăng so với mức 20,3 triệu tấn của năm trước.

(TTGCVT/M.Anh tổng hợp)

 

Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (024) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (024) 39762593 
Email:ttgcvattu1989@gmail.com