Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Thị trường hàng hóa nguyên liệu trong nước tháng 5/2018
Cập nhật: 1-6-2018

VÀNG

Giá chủ yếu xoay quanh mốc 36,7 triệu đồng

Giá vàng thế giới trong tháng 5 biến thiên liên tục theo những thông tin kinh tế tài chính, địa chính trị thế giới. Tuy nhiên, ở trong nước, kim loại quý này vẫn chững lại quanh mức trên dưới 36,7 triệu đồng. Sự bình lặng của giá vàng cho thấy, đối với các nhà đầu tư, vàng vẫn là một kênh tài sản chưa đem lại sức hút tại thời điểm này. 



Trong tuần đầu tiên ngay sau kỳ nghỉ lễ dài ngày, thị trường vàng hoạt động trở lại với xu hướng giảm giá vẫn đè nặng. Giá dao động trong khoảng 36,53 – 36,77 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra). Tâm lý của các nhà đầu tư vì vậy cũng bị ảnh hưởng đáng kể. Trong 3 phiên của tuần, nhu cầu bán ra chiếm chủ đạo trong khi nhu cầu mua vào chưa được một số nhà đầu tư đánh giá là lựa chọn phù hợp ở thời điểm này. Theo ghi nhận của Doji, đến cuối phiên 4/5, số lượng khách tham gia theo chiều bán chiếm ưu thế khoảng 65% trên tổng lượng khách tham gia giao dịch.

Bước sang tuần thứ 2, giá vàng trong nước hầu như không có biến động. Giá mua vào qua các phiên trong tuần xoay quanh mốc 36,60 triệu đồng/lượng. Giá bán ra đứng ở mức trên dưới 36,80 triệu đồng/lượng. Chính vì sự “lình xình” của giá vàng như trên đã khiến cho phần lớn các nhà đầu tư loay hoay để lựa chọn điểm tham gia thị trường phù hợp. Vì vậy lượng giao dịch diễn ra khá khiêm tốn. Lượng khách theo chiều mua vàng chiếm khoảng 60% trên tổng số lượng  khách tham gia giao dịch tại các hệ thống kinh doanh vàng. Kết thúc tuần, vào sáng 11-5, giá vàng SJC của công ty VBĐQ Sài Gòn đứng ở mức 36,60 – 36,82 triệu đồng/lượng. Cũng tại thời điểm trên, giá vàng trong nước vẫn đang cao hơn giá thế giới khoảng 150 nghìn đồng một lượng

Trung tuần tháng 5, giá vàng trong nước lao dốc theo sự đảo chiều của giá vàng thế giới và tiến sát về ngưỡng 36,6 triệu đồng. Thị trường vẫn ảm đạm dù có lúc nhiều nhà đầu tư quyết định tìm mua vàng bắt đáy. Kết thúc tuần, vào đầu giờ sáng 18/5, giá vàng neo ở mức 36,45 – 36,65 triệu đồng mỗi lượng và đang cao hơn vàng thế giới khoảng 1 triệu đồng mỗi lượng.

Trong tuần thứ 4, giá vàng trong nước được điều chỉnh khá linh hoạt đồng hành cùng với giá vàng thế giới. Với mỗi nhịp tăng giảm đan xen trong ngày, nhà đầu tư có tâm lý hứng thú hơn với kim quý vàng. Trong 5 phiên của tuần, giá vàng dao động ở khoảng 36,48 – 36,60 triệu đồng/lượng (chiều mua vào) và 36,70 – 36,77 triệu đồng/lượng (chiều bán ra). Tuy nhiên nhìn chung, diễn biến của giá vàng ổn định trong một khoảng thời gian dài gần đây cho thấy đây vẫn là một loại tài sản khá an toàn cho các nhà đầu tư, nhất là với những người có xu hướng tích lũy lâu dài.

ĐÔ LA

Tỷ giá trung tâm có xu hướng tăng là chủ đạo, mức cao nhất tháng đạt 22.605 đồng/USD. 

Trong tháng 5, tỷ giá trung tâm của Ngân hàng NN đã liên tục tăng, xu hướng giảm rất ít. Mức thấp nhất của tỷ giá trung tâm là 22.548 đồng/USD và mức cao nhất của tỷ giá là 22.605 đồng/USD (vào ngày 29/5). Như vậy trong vòng một tháng, tỷ giá đã tăng nóng tới 57 đồng/USD. 

Nguyên nhân khiến cho tỷ giá trung tâm tăng cao được cho là bị ảnh hưởng bởi các thông tin trên thị trường tài chính thế giới, đặc biệt là các thông tin chính trị khiến cho các nhà đầu tư coi USD là một kênh trú ẩn an toàn. Thời điểm trung tuần tháng 5, trước luồng thông tin đồng USD trên thị trường quốc tế đứng ở mức cao nhất 5 tháng do lợi tức trái phiếu chính phủ Mỹ vẫn ở mức cao nhất 7 năm, tỷ giá trung tâm đã tăng vọt lên mức 22.590 đồng/USD. Đặc biệt, vào thời điểm cuối tháng 5, tỷ giá trung tâm đã đạt mức cao nhất tháng khi trên thị trường quốc tế, đồng USD bất ngờ tăng dồn dập lên đỉnh cao mới sau khi tổng thống Donald Trump chuyển thái độ bất ngờ về vấn đề Triều Tiên. Ông Trump đã thắp lên hy vọng về cuộc gặp Mỹ-Triều sau khi đã tuyên bố hủy cuộc gặp thượng đỉnh lịch sử trước đó.

Trước diễn biến tăng cao của tỷ giá trung tâm, giá USD giao dịch tại các Ngân hàng thương mại lớn như Vietcombank, Vietinbank, Agribank… cũng liên tục được điều chỉnh, với mức độ biến động nhẹ. Mức giá giao dịch phổ biến tại các ngân hàng ở mức 22.735 đồng (mua) và 22.805 đồng (bán). Duy nhất tại thời điểm cuối tháng, khi tỷ giá trung tâm nhảy vọt, giá USD mua vào – bán ra tại các ngân hàng cũng được điều chỉnh lên mức 22.785 đồng (mua) và 22.855 đồng (bán).

Như vậy, so với trước Tết, tỷ giá đồng đô la Mỹ trong hệ thống ngân hàng đã tăng 100-130 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra. 

THÉP XÂY DỰNG

Tiêu thụ tốt, xuất khẩu thép đạt 1,3 tỷ USD trong 4 tháng đầu năm



Mặc dù vào mùa tiêu thụ, nhưng trong tháng 5/2018 giá bán lẻ thép xây dựng cơ bản ổn định so với tháng 4/2018. Giá bán tại các nhà máy sản xuất thép ở mức khoảng từ 11.600 – 15.200 đồng/kg (chưa bao gồm thuế VAT và chiết khấu bán hàng). Trên thị trường thế giới, giá chào bán phôi thép CFR Đông Á ở khoảng 430 – 455 USD/tấn, giá chào phôi CIS khoảng 450 USD/tấn FOB Biển Đen.

Theo Bộ Công Thương, ngành thép đang có sự tăng trưởng tốt nhờ nhiều dự án hạ tầng, xây dựng, bất động sản được triển khai trong năm 2018. Đặc biệt, việc giải ngân vốn đầu tư công đã được Chính phủ chú trọng, triển khai ngay từ những tháng đầu năm, tạo tiền đề tốt cho tăng trưởng của ngành.

Ông Nguyễn Văn Sưa, Phó Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam cho biết, lượng sản xuất thép tháng 4/2018 đạt 850.000 tấn, tăng 16,3% so với cùng kỳ năm trước.

Ước 4 tháng đầu năm đạt 3,21 triệu tấn, tăng 8,8% so với cùng kỳ năm 2017. Lượng tiêu thụ tháng 4 đạt 830.000 tấn. Như vậy, tính chung 4 tháng đầu năm đạt 3,07 triệu tấn, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm 2017.

Dự báo, năm 2018, toàn ngành thép sẽ tăng trưởng sản xuất khoảng 20-22% so với năm 2017. Trong đó, thép xây dựng tăng 10%, thép cuộn cán nóng 154%, thép lá cuộn cán nguội 5%, thép ống hàn 15%, tôn mạ vàng và sơn phủ màu 12%.

Vào trung tuần tháng 5/2018, ngành thép Việt Nam đã phải đón nhận một quyết định được cho là đánh dấu chiến thắng của các nhà sản xuất thép của Mỹ nhưng có nguy cơ ảnh hưởng đến xuất khẩu thép của Việt Nam vào thị trường này. Đó là việc Bộ Thương mại Mỹ ngày 21/5 tuyên bố áp thuế nhập khẩu mạnh tay lên các sản phẩm thép vận chuyển từ Việt Nam nhưng được cho là có xuất xứ Trung Quốc, sau khi kết quả điều tra cuối cùng của Washington xác định những sản phẩm thép này "né" thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp của Mỹ.

Tuyên bố của Bộ Thương mại Mỹ cho biết Hải quan Mỹ sẽ thu thuế chống bán phá giá 199,76% và thuế chống trợ cấp ở mức 256,44% đối với thép cuộn cán nguội (cold-rolled steel) sản xuất tại Việt Nam bằng thép chất nền (substrate) có xuất xứ Trung Quốc.

Bộ Thương mại Mỹ cũng cho biết sẽ đánh thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp tương tự đối với thép chống gỉ (corrosion-resistant steel) và thép cuộn cán nguội từ Việt Nam có nguồn gốc là thép cuộn cán nóng (hot-rolled steel) do Trung Quốc sản xuất.

Thép chống gỉ từ Việt Nam chịu mức thuế chống bán phá giá 199,43% và thuế chống trợ cấp 39,05% - tuyên bố cho biết.

Những mức thuế này sẽ được cộng thêm với thuế quan 25% đối với hầu hết các sản phẩm thép nhập khẩu vào Mỹ theo quyết định của chính quyền Tổng thống Donald Trump dựa trên cuộc điều tra an ninh quốc gia đối với thép và nhôm nhập khẩu.

Bộ Thương mại Mỹ nhất trí với cáo buộc của các nhà sản xuất thép Mỹ rằng, những loại thép bị áp thuế nêu trên được gia công ở Việt Nam để chống gỉ hoặc được cuộn cán nguội để sử dụng cho ô tô và các thiết bị khác, nhưng 90% giá trị sản phẩm có xuất xứ từ Trung Quốc.

Trước thông tin trên, Bộ Công Thương cho biết, Bộ đã phối hợp với Hiệp hội Thép Việt Nam và các doanh nghiệp liên quan theo dõi chặt chẽ vụ việc ngay từ giai đoạn khởi xướng điều tra từ tháng 11 năm 2016. Bên cạnh đó, Bộ đã nhiều lần bày tỏ quan điểm chính thức về vụ việc với phía Mỹ và đề nghị DOC thực hiện điều tra một cách khách quan, phù hợp với quy định của WTO và thông lệ của Mỹ, không áp dụng biện pháp này đối với các doanh nghiệp xuất khẩu thép của Việt Nam. Hiện nay, DOC đã thông báo cho phép miễn trừ biện pháp nếu các doanh nghiệp xuất khẩu thép của Việt Nam chứng minh được sản phẩm xuất khẩu được sản xuất từ nguyên liệu không có xuất xứ từ Trung Quốc. Bộ Công Thương sẽ tiếp tục phối hợp với các doanh nghiệp liên quan xử lý các yêu cầu về quy trình thủ tục của DOC để hưởng miễn trừ theo quy định.

XI MĂNG

Tiêu thụ xi măng tăng mạnh, xuất khẩu có thể ‘về đích’ sớm

Vụ Vật liệu Xây dựng (Bộ Xây dựng) cho biết, ước sản phẩm xi măng tiêu thụ ở cả thị trường nội địa và xuất khẩu trong tháng 5/2018 đạt khoảng 10,23 triệu tấn, tăng tới 1,46 triệu tấn so với tháng 4, tăng 11% so với cùng kỳ năm 2017 và đạt 51% kế hoạch năm 2018. 

Điều đáng ghi nhận là sản lượng tiêu thụ sản phẩm xi măng ở cả thị trường nội địa và xuất khẩu trong tháng 5 đều tăng mạnh. Trong đó ước sản lượng tiêu thụ tại thị trường nội địa đạt khoảng 7,68 triệu tấn, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2017. Sản lượng tiêu thụ sản phẩm xi măng tại thị trường nội địa trong tháng 5 tăng 1,36 triệu tấn so với tháng 4/2018. Riêng Tổng công ty công nghiệp xi măng Việt Nam (Vicem) tiêu thụ tháng 5/2018 ước đạt khoảng 2,38 triệu tấn.

Tiêu thụ sản phẩm xi măng tại thị trường xuất khẩu trong tháng 5/2018 vẫn giữ được đà tăng trưởng mạnh ước đạt khoảng 2,55 triệu tấn, tăng 35% so với cùng kỳ năm 2017; xuất khẩu 5 tháng đầu năm 2018 ước đạt khoảng 13,76 triệu tấn, tăng 31 % so với cùng kỳ.

Như vậy, ước tiêu thụ sản phẩm xi măng trong 5 tháng khoảng 43,05 triệu tấn, tăng 25% so với cùng kỳ năm 2017 và đạt 51% kế hoạch của cả năm 2018.

Với đà tiêu thụ này các chuyên gia trong lĩnh vực vật liệu xây dựng cho rằng mục tiêu tiêu thụ từ 83 – 85 triệu tấn sản phẩm trong năm 2018 hoàn toàn có thể đạt và vượt so với kế hoạch đề ra. Trong đó, xuất khẩu sản phẩm xi măng có thể "về đích" sớm khi mới chỉ trong 5 tháng đã tiêu thụ 13,76 triệu tấn/18 – 19 triệu tấn kế hoạch của cả năm.

Nguyên nhân xuất khẩu xi măng tăng trưởng tốt là do sự phát triển mạnh của ngành vật liệu xây dựng Việt Nam và một phần do Chính phủ Trung Quốc ra chính sách đóng cửa hàng loạt nhà máy xi măng từ ngày 15/11/2017 đến 15/3/2018 vì ô nhiễm môi trường. Có nhiều khả năng Trung Quốc tiếp tục gia hạn lệnh đóng cửa các nhà máy xi măng, không chỉ ở khu vực xung quanh Bắc Kinh mà còn ở nhiều thành phố khác, như vậy Trung Quốc sẽ tiếp tục thiếu xi măng, clinker, đây là cơ hội cho ngành xuất khẩu xi măng của Việt Nam.

Về giá cả, tại thị trường tiêu thụ nội địa, theo báo cáo của Tổng công ty Công nghiệp xi măng Việt Nam, giá xi măng tháng 5/2018 cơ bản ổn định như tháng 4/2018. Từ tháng 4, nhu cầu tiêu thụ tăng mạnh do bắt đầu vào mùa xây dựng, nhưng các công ty xi măng ngoài VICEM đã thực hiện chính sách bán hàng kéo dài, giữ ổn định giá bán, giảm giá, hoặc tăng chiết khấu để tăng thị phần tiêu thụ trên thị trường. Tại miền Bắc, miền Trung hiện giá trung bình ở mức 1,15 triệu đồng/tấn; các tỉnh miền Nam giá trung bình ở mức 1,45 triệu đồng/tấn.

XĂNG DẦU

Giá xăng dầu tăng mạnh trong cả hai kỳ điều chỉnh của tháng 5

Vào 15h00’ chiều ngày 8/5,  Liên Bộ Công Thương – Tài chính đã có thông báo điều chỉnh giá bán lẻ xăng – dầu. Theo đó, sau khi thực hiện trích lập và chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu, giá các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường được điều chỉnh đối với xăng E5 RON92 tăng 508 đồng/lít lên mức 19.440 đồng/lít; Giá xăng RON95-III tăng 411 đồng/lít lên mức 20.911 đồng/lít;  Giá dầu diesel 0.05S tăng 373 đồng/lítl lên mức 17.107 đồng/lít; giá dầu hỏa tăng 336 đồng/lít lên mức 15.917 đồng/lít; Giá dầu mazut 180CST 3.5S tăng 399 đồng/kg lên mức 13.759 đồng/kg.

Liên Bộ quyết định giữ nguyên mức trích lập Quỹ Bình ổn giá xăng dầu đối với các mặt hàng xăng dầu như hiện hành. Chi sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu đối với mặt hàng xăng E5 RON92 là 958 đồng/lít (kỳ trước chi sử dụng 958 đồng/lít); Xăng RON95 là 451 đồng/lít (kỳ trước chi sử dụng 451 đồng/lít); Dầu diesel là 200 đồng/lít (kỳ trước chi sử dụng 200 đồng/lít); Dầu hỏa là 200 đồng/lít (kỳ trước chi sử dụng 200 đồng/lít)./.

Tại kỳ điều chỉnh lần thứ 2 sau đó 15 ngày, tức là vào ngày 23/5, giá xăng, dầu bán lẻ trong nước lại đồng loạt tăng tiếp 500-678 đồng một lít, kg tuỳ loại, theo thông báo của liên Bộ Công Thương - Tài chính.

Mỗi lít xăng E5 RON92 tăng 500 đồng, xăng RON 95 tăng 600 đồng; dầu diesel thêm 587 đồng; dầu hoả đắt hơn 523 đồng và mỗi kg dầu madut tăng 678 đồng. 

Sau điều chỉnh, giá xăng E5 RON92 không cao hơn 19.940 đồng; xăng RON95 là 21.511 đồng; dầu diesel 17.694 đồng; dầu hoả 16.440 đồng một lít và madut là 14.437 đồng một kg.

Cùng với đó, nhà điều hành tăng chi Quỹ bình ổn giá xăng dầu với xăng 380-467 đồng một lít; giảm chi Quỹ 100 đồng mỗi lít với dầu hoả. Riêng dầu diesel và madut mức trích quỹ không đổi so với kỳ điều hành trước.

Lý giải giá xăng, dầu trong nước tăng mạnh, liên Bộ cho biết, do tình hình bất ổn chính trị tại khu vực Trung Đông và sụt giảm nguồn cung dầu từ Venezuela, giá thành phẩm xăng dầu thế giới gần đây tăng rất cao. Giá xăng RON92 (xăng nền để pha chế xăng E5 RON92) cao nhất trong vài năm trở lại đây, mức 89,780 USD một thùng, tăng gần 7%. 

GAS

Gas tăng 10.000 đồng/bình 12 kg

Chiều 30-4, Chi hội Gas miền Nam cho biết giá mặt hàng này nhập khẩu theo phiếu (CP) tháng 5 vừa thông báo ở mức bình quân 502,5 USD/tấn, tăng 30 USD/tấn so với tháng trước.

Do đó, ở kỳ điều chỉnh giá từ ngày 1-5, nhiều công ty gas đầu mối chốt giá bán lẻ trong nước tăng 10.000 đồng/bình 12 kg (đã có thuế GTGT). Giá bán lẻ gas tối đa đến người tiêu dùng khu vực TP HCM của một số thương hiệu, loại dùng trong gia đình 12 kg/bình như sau: PetroVietnam gas 327.000 đồng, Dầu khí gas 356.000 đồng, Petrolimex gas 334.500 đồng.

Giá gas đã giữ ổn định trong 2 tháng liền (3 và 4) do giá gas thế giới không biến động.

Ô TÔ

Thuế nhập khẩu xe và linh kiện về 0%, giá ô tô tăng giảm trái chiều



Đầu tháng 5/2018, thị trường ô tô Việt Nam đang có những diễn biến trái chiều nhau, khi giá một số mẫu xe nhập khẩu có chiều hướng điều chỉnh giảm thì nhiều mẫu xe lắp ráp trong nước lại tăng giá.

Theo giới kinh doanh xe, việc thị trường tăng giảm trái ngược nhau ở thời điểm hiện tại là do các hãng bắt đầu nhập khẩu được xe với mức thuế ưu đãi 0%. Bên cạnh đó, những mẫu xe giảm giá cũng chủ yếu là xe có doanh số không cao tại Việt Nam nên muốn kích cầu và cạnh tranh bằng cách đưa ra giá bán ưu đãi. Còn các xe tăng giá chủ yếu do lượng xe lắp ráp hiện đang rơi vào tình trạng cầu không đủ cung. Đồng thời, lượng xe nhập khẩu về nước vẫn ở mức cầm chừng, khách hàng không có nhiều lựa chọn…

Theo tính toán của các doanh nghiệp, khi xe nhập khẩu với mức thuế ưu đãi 0%, giá xe sẽ giảm từ 20 - 25% so với trước đây. Tuy nhiên, Nghị định 116/2017/NĐ-CP ban hành và có hiệu lực cùng thời điểm yêu cầu doanh nghiệp nhập khẩu phải đáp ứng rất nhiều điều kiện khắt khe khiến xe nhập khẩu khó về Việt Nam.

Ông Toru Kinoshita, Chủ tịch Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA) cho rằng, năm 2018 được xem như cột mốc quan trọng nhất của thị trường ô tô Việt, đó là Việt Nam phải cắt giảm thuế nhập khẩu theo hiệp định ATIGA của ASEAN. Trên thực tế, ATIGA không có ảnh hưởng tới sản xuất lắp ráp xe trong nước. Tuy nhiên, khi thuế nhập khẩu xe nguyên chiếc từ ASEAN về 0% cũng là lúc Nghị định 116/2017/NĐ-CP có hiệu lực, không doanh nghiệp nào có thể nhập được xe về.

Theo tiết lộ của một số doanh nghiệp, những lô xe nhập khẩu từ trước năm 2018 hiện nguồn cung không còn nhiều nên doanh nghiệp đang nỗ lực hoàn tất thủ tục nhập khẩu để đưa xe về phân phối. Dự kiến sau khi hoàn thành thủ tục, đến đầu quý‎ 3 tới doanh nghiệp mới có thể có xe bàn giao cho khách hàng.

Trong khi xe nhập khẩu về Việt Nam khó khăn, nguồn cung khan hiếm từ đầu năm đến nay thì xe sản xuất lắp ráp trong nước dù được giảm 5% thuế tiêu thụ đặc biệt và được hưởng thuế nhập khẩu linh kiện ưu đãi 0% theo Nghị định 125/2017/NĐ-CP, nhưng một số nhà sản xuất lại tăng giá bán ở một số mẫu xe. Cụ thể, đầu tháng 5, Nissan Việt Nam bất ngờ tăng thêm 10 triệu đồng đối với mẫu Sunny XL, lên mức 438 triệu đồng và tăng 11 triệu đồng đối với bản XV, lên mức 479 triệu đồng…

Còn theo thống kê của VAMA trong 4 tháng đầu năm nay cũng cho thấy, tổng doanh số bán hàng của toàn thị trường ô tô Việt Nam đạt 80.681 xe các loại, giảm 7% so với cùng kỳ năm trước. Xét về xuất xứ xe, trong khi doanh số bán hàng của xe lắp ráp trong nước tăng 8% thì xe nhập khẩu giảm tới 47% so với cùng kỳ năm ngoái, điều này thể hiện có rất ít xe nhập khẩu nguyên chiếc về Việt Nam từ đầu năm đến nay...

THỦY SẢN 

Giá cá tra tăng kỷ lục, doanh nghiệp lo khó cạnh tranh



Theo Bộ NN&PTNT, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản tháng 5/2018 ước đạt 3,2 tỷ USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu 5 tháng đầu năm đạt 15,6 tỷ USD, tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính ước đạt 8,25 tỷ USD, tăng 9,6%; giá trị xuất khẩu thuỷ sản ước đạt 3,12 tỷ USD, tăng 9,7% và giá trị xuất khẩu các mặt hàng lâm sản chính ước đạt 3,4 tỷ USD, tăng 8,7%.

Về ngành hàng cá tra, trong tháng 5/2018 tại Đồng bằng Sông Cửu Long, giá nguyên liệu cá tra tiếp tục trở thành “cơn sốt” trong bối cảnh nguồn cung khan hiếm khi lập đỉnh mới, trung bình ở mức 28.000-30.000 đồng, có nơi được đẩy lên đến 32.500 đồng một kg. Riêng giá cá tra giống cũng đã tăng gấp 2-3 lần, dao động từ 70.000 đến 80.000 đồng một kg tùy loại.

Theo Vasep, đến cuối tháng 4, giá cá tra nguyên liệu loại 1 đã lên mức 33.500 đồng một kg - mức tăng cao kỷ lục. Nhiều doanh nghiệp lo ngại, tại một số thị trường nhập lớn ở châu Mỹ, giá cá tra trung bình xuất khẩu tăng đột biến khiến khách hàng khó chấp nhận và bị cạnh tranh gay gắt hơn các sản phẩm cá thịt trắng.

Đặc biệt, Mỹ áp dụng thuế chống bán phá giá cao kỷ lục và EU đang giơ thẻ vàng đối với Việt Nam nên việc xuất khẩu cá tra sẽ càng thêm khó khăn.

Lãnh đạo doanh nghiệp sản xuất cá tra tại Hậu Giang cho biết đang phải gồng mình khi cùng lúc gặp nhiều yếu tố bất lợi. “Chúng tôi đang chuyển hướng xuất khẩu sang ASEAN, Nhật Bản để thích ứng. Hơn một tháng nay chúng tôi cũng thấy gặp thuận lợi hơn khi các thị trường này chấp nhận giá tăng do nguyên liệu đầu vào", lãnh đạo doanh nghiệp này nói.

Công ty Tradex Foods Canada cũng thừa nhận giá cá tra đang tăng gấp đôi so với cùng kỳ năm ngoái và leo thang trong những tháng tới. Do đó, các doanh nghiệp Việt sẽ gặp khó khi giá xuất khẩu cạnh tranh. Hiện, một số có xu hướng chuyển từ thị trường Mỹ sang Trung Quốc, Hàn Quốc và ASEAN.

Tuy nhiên, theo Vasep, điều đáng lo ngại khi xuất khẩu sang Trung Quốc chính là việc bất ổn về nhu cầu và phương thức thanh toán. Cụ thể, thời gian qua, giá xuất bằng đường chính ngạch cao hơn 1 USD một kg so với các sản phẩm tiểu ngạch. Do đó, Vasep đã có văn bản kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nhanh chóng có chương trình kiểm tra các cơ sở gia công, sơ chế cá tra hiện nay để bảo đảm chất lượng cá tra xuất khẩu. 

Hiện tại, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) cũng cho biết, xuất khẩu cá tra sang thị trường Mỹ vẫn tăng do giá nguyên liệu trong nước tăng từ 5.000 - 6.000 đồng một kg so với cùng kỳ năm trước. Hiện, chỉ còn dưới 3 doanh nghiệp trong số 14 doanh nghiệp xuất sản phẩm sang Mỹ.

Tôm thẻ chân trắng giảm giá mạnh

Hiệp hội chế biến xuất khẩu thủy sản Việt Nam (Vasep) cho biết, những ngày này, đồng bằng sông Cửu Long lao xao vì giá tôm thương phẩm giảm giá hàng ngày. Từ đầu tháng 5 đến nay, giá tôm chân trắng và tôm sú tại tỉnh Sóc Trăng cũng như trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đang giảm dần và hiện ở mức thấp nhất trong vòng 2 năm qua. Cụ thể, thương lái ở Sóc Trăng thu mua tôm thẻ loại 100 con/kg chỉ còn khoảng 70.000 - 80.000 đồng/kg, giảm từ 20.000- 30.000 đồng/kg so với đầu năm 2018. Tôm thẻ loại 60 con/kg giá cũng rất thấp, ở mức gần 100.000 đồng/kg.

Có rất nhiều lý do được đưa ra để giải thích cho việc giá tôm giảm tuy nhiên theo đánh giá đây chỉ là đợt giảm giá mang tính thời điểm và theo xu hướng giảm chung của thế giới. 

Cũng theo Vasep, theo nhiều chuyên gia ngành tôm trên thế giới, sau khi giá tôm giảm mạnh, người nuôi tại Thái Lan, Ấn Độ sẽ giảm thả nuôi, nguồn cung dự báo giảm. Sang quý III, các nhà máy trong nước tăng cường mua nguyên liệu cùng với nhu cầu "ấm lên" từ các thị trường NK, giá tôm sẽ bắt đầu tăng lên. Nhu cầu tiêu thụ tôm của Mỹ được dự báo vẫn tốt với niềm tin tiêu dùng cao và triển vọng kinh tế tích cực. Nhập khẩu tôm của các thị trường NK chính cũng được dự báo sẽ tăng trong cuối quý II hoặc đầu quý III năm nay.

LÚA GẠO

Xuất khẩu tăng 40%, gạo Việt còn nhiều cơ hội? 

Theo Bộ NN&PTNT, khối lượng gạo xuất khẩu tháng 5 ước đạt 452 nghìn tấn với giá trị đạt 347 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu gạo 5 tháng đầu năm ước đạt 2,66 triệu tấn và 1,45 tỷ USD, tăng 13,9% về khối lượng và tăng 40% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017.

Đáng chú ý, giá gạo xuất khẩu bình quân 4 tháng đầu năm đã đạt 503 USD/tấn, tăng tới 12,9% so với cùng kỳ năm trước. Trung Quốc vẫn tiếp tục đứng vị trí thứ nhất về thị trường nhập khẩu gạo của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm với 33,5% thị phần. 

Tại thị trường nội địa, tính chung 5 tháng đầu năm, giá lúa có xu hướng tăng do nhu cầu tiêu thụ tăng. Trong đó, lúa thường tăng 100 – 200 đ/kg; lúa chất lượng cao tăng 400 – 500 đ/kg.

Khảo sát của phóng viên cho thấy giá gạo trắng 5% tấm đã vượt hơn 10.000 đồng/kg. Riêng giá lúa khô loại thường ở ĐBSCL đang dao động từ 6.700 - 6.800 đồng/kg, lúa khô hạt dài khoảng 6.900 - 7.000 đồng/kg.

Suốt từ đầu năm đến nay, xuất khẩu gạo liên tục đón những tín hiệu tích cực. Bộ NN&PTNT dự báo, đến hết tháng 6 tới, giá lúa gạo trong nước vẫn tiếp tục diễn biến tích cực do triển vọng xuất khẩu gạo trở lại sang Philippines.

Về lý do xuất khẩu gạo khả quan ngay từ đầu năm, đặc biệt là sự bứt phá trong giá xuất khẩu, theo Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hà Công Tuấn, mấu chốt là bởi cơ cấu xuất khẩu thay đổi, chất lượng gạo tăng lên. Trước đây, Việt Nam chủ yếu XK gạo thường IR 50404. Năm 2017, tới 81% gạo xuất khẩu là gạo nếp, tám thơm, gạo jasmine... Hiện nay, gạo xuất khẩu phần lớn là loại gạo ngon. Có thể nói, định hướng nhiều năm tái cơ cấu ngành hàng lúa gạo nhằm nâng cao chất lượng gạo của Việt Nam đã bước đầu có hiệu quả.

ĐƯỜNG

Tồn kho hơn 680.000 tấn, giá mía giảm mạnh


Thông tin từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho biết, tính đến ngày 15-4, trên cả nước có 10 nhà máy kết thúc vụ sản xuất 2017-2018. Toàn bộ các nhà máy mía ép được 11.759.781 tấn mía, sản xuất được 1.114.225 tấn đường. So với cùng kỳ năm trước, lượng mía ép tăng 1.167.350 tấn, lượng đường tăng 146.389 tấn.

Lượng đường tồn tại kho các nhà máy đến giữa tháng 4 là 680.969 tấn, cao hơn cùng kỳ năm trước 37.292 tấn. Lượng đường các nhà máy bán ra từ 15-3 đến 15-4 là 219.424 tấn, cao hơn cùng kỳ năm trước 70.817 tấn.

Giá bán buôn đường kính trắng loại 1 (có VAT) tại các nhà máy ở miền Bắc dao động từ 11.000 - 12.000 đồng/kg, miền Trung Tây Nguyên dao động từ 10.500 –11.000 đồng/kg, miền Nam dao động từ 11.200 - 11.800 đồng/kg, so với cùng kỳ năm trước thì giá đường năm giảm mạnh, giảm 5.000 - 5.500 đồng/kg.

Giá thu mua mía tại ruộng khu vực miền Bắc 850.000 - 1.100.000 đồng/tấn, miền Trung Tây Nguyên 800.000 - 900.000 đồng/tấn và miền Nam từ 800.000 - 950.000 đồng/tấn. Với giá này, so với cùng kỳ năm trước thì giá mía khu vực miền Bắc không giảm, khu vực miền Trung, Tây Nguyên và miền Nam bị giảm mạnh từ 150.000 - 200.000 đồng/tấn.

Trong khi đường trong nước ế ẩm, nhiều nhà máy sản xuất đường rơi vào cảnh “sống dở chết dở”, ngành mía đường còn thêm trầy trật vì đường lậu, đường giả. Năm nay, lượng đường sản xuất của Thái Lan khoảng 12 triệu tấn, tăng hơn 2 triệu tấn so với vụ trước. Do lượng đường Thái Lan lớn nên đã xuất lậu sang các quốc gia lân cận như Trung Quốc, Việt Nam, Campuchia, Lào, Myanmar…

Ngoài đường lậu, thời gian qua, một lượng lớn đường lỏng được nhập khẩu vào Việt Nam. Hiện có 3 quốc gia đang xuất khẩu tới 80% lượng đường lỏng vào Việt Nam với thuế suất 0% là: Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan. Thông thường, đường lỏng Trung Quốc nhập về Việt Nam phải chịu mức thuế 13%, thế nhưng, để “lách” khoản thuế này, đường lỏng Trung Quốc được tuồn qua các nước ASEAN, sau đó mới xuất vào Việt Nam để được miễn thuế.

Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, năm 2015 có 67.384 tấn đường lỏng vào Việt Nam; năm 2016 đã tăng lên 70.090 tấn; đến năm 2017 tăng vọt lên tới 89.434 tấn… Điều đáng nói, loại đường này được bán với mức giá thấp, không chỉ ảnh hưởng đến ngành mía đường trong nước mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng Việt Nam.

Để giảm bớt khó khăn cho ngành đường, Hiệp hội mía đường Việt Nam kiến nghị cần đưa ra các giải pháp để hạn chế nhập khẩu mặt hàng đường lỏng này. Đồng thời, kiến nghị Cục Quản lý Thị trường, Tổ công tác đặc biệt, Bộ Công Thương phối hợp với các bộ, ngành có liên quan thuộc Ban chỉ đạo 389 Quốc gia triển khai có hiệu quả các giải pháp chống buôn lậu hàng giả, gian lận thương mại mặt hàng đường.

CÀ PHÊ

Xuất khẩu cà phê thu về 1,6 tỷ USD trong 5 tháng

Thị trường cà phê trong nước biến động giảm trong 5 tháng đầu năm 2018. So với cuối năm 2017, giá cà phê vối nhân xô các tỉnh Tây Nguyên giảm 400 – 600 đồng/kg. Cụ thể, tại thời điểm cuối tháng 5, giá cà phê tại Lâm Đồng giao dịch từ 35.300-35.500 đồng/kg; các tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Kon Tum giá cà phê dao động từ 35.900 - 36.200 đồng/kg.

Đây là vùng giá thấp nhất trong gần 2 tháng qua, do đó người trồng cà phê Việt Nam vẫn chưa sẵn sàng bán cà phê ở mức giá hiện hành.

Theo phân tích của Bộ NN&PTNT, giá cà phê giảm là do thời tiết tại Brazil đang rất thuận lợi cho vụ cà phê hiện tại. Bên cạnh đó, Indonesia đã bắt tay vào thu hoạch vụ mới, gây áp lực lên giá cà phê.

Dự báo, giá cà phê trong tháng 6 sẽ khó khởi sắc do hiện tại thị trường cà phê chưa thấy có tín hiệu làm giá cà phê tăng lên. Nguồn cung cấp cà phê toàn cầu trong nửa cuối năm nay vẫn dồi dào. Các yếu tố thời tiết có thể đe doạ nguồn cung toàn cầu trong thời gian trung hạn và ngắn hạn nhưng khả năng không có tác động nghiêm trọng. 

Cũng theo báo cáo mới nhất của Bộ NN&PTNT, xuất khẩu cà phê trong tháng 5/2018 ước đạt 135 nghìn tấn với giá trị đạt 265 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu cà phê 5 tháng đầu năm 2018 ước đạt 820 nghìn tấn và 1,6 tỷ USD, tăng 16% về khối lượng nhưng giảm tăng 0,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017.

Giá cà phê xuất khẩu bình quân 4 tháng đầu năm 2018 đạt 1.936 USD/tấn, giảm 14,8% so với cùng kỳ năm 2017. Đức và Hoa Kỳ tiếp tục là hai thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2018 với thị phần lần lượt là 13,3% và 11,1%.

Các thị trường có giá trị xuất khẩu cà phê trong 4 tháng đầu năm 2018 tăng mạnh là: Indonesia (gấp 9,4 lần), Nga (76,8%), Philippin (59,3%) và Nhật Bản (14,8%).

HẠT TIÊU

Giá xuất khẩu vẫn tiếp tục giảm

Trong 5 tháng đầu năm 2018, thị trường hồ tiêu trong nước biến động theo xu hướng giảm là chủ đạo. So với cuối năm 2017, giá hồ tiêu tại thời điểm cuối tháng 5 tại Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai và Đồng Nai giảm 11.000 – 13.000 đồng/kg xuống còn 58.000 – 59.000 đồng/kg; giá tiêu tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu chỉ còn 60.000 đồng/kg.  

Theo Bộ NN&PTNT, giá tiêu giảm do nguồn cung vẫn dồi dào trong khi nhu cầu yếu. Dự báo, thị trường hồ tiêu trong tháng 6 vẫn trầm lắng do cung vượt cầu quá lớn.

Trên thị trường xuất khẩu, trong tháng 5 Việt Nam đã xuất khẩu được 22 nghìn tấn tiêu, với giá trị đạt 70 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu tiêu 5 tháng đầu năm 2018 ước đạt 108 nghìn tấn và 377 triệu USD, tăng 5,4% về khối lượng nhưng giảm 37,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017.

Giá tiêu xuất khẩu bình quân 4 tháng đầu năm 2018 đạt 3.537 USD/tấn, giảm 42% so với cùng kỳ năm 2017. Các thị trường xuất khẩu tiêu lớn nhất của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2018 là Hoa Kỳ, Ấn Độ, Pakistan và Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất với 39,2% thị phần

Dự báo thời gian tới, áp lực dư cung giảm, nhu cầu tiêu thụ hạt tiêu đen tại Trung Quốc tăng sẽ tác động tích cực lên thị trường hạt tiêu toàn cầu. Theo Hiệp hội Nông dân trồng hạt tiêu Ấn Độ dự báo, sản lượng hạt tiêu đen của nước này sẽ đạt khoảng 55.000 – 60.000 tấn trong niên vụ 2017/2018, thấp hơn kỳ vọng trước đó là 65.000 – 70.000 tấn. Tại Việt Nam, niên vụ 2017/18 cả nước đã thu hoạch trên 70% diện tích, năng suất giảm khoảng 30 – 40%

CAO SU

Lượng xuất khẩu tăng 17,4% nhưng giá trị giảm 12,4% cùng kỳ

Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, khối lượng xuất khẩu cao su của Việt Nam tháng 5 năm 2018 ước đạt 93 nghìn tấn với giá trị đạt 133 triệu USD. Với giá trị này, khối lượng xuất khẩu cao su 5 tháng đầu năm 2018 ước đạt 424 nghìn tấn và 620 triệu USD, tăng 17,4% về khối lượng nhưng giảm 12,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017.

Giá cao su xuất khẩu bình quân 4 tháng đầu năm 2018 đạt 1.469 USD/tấn, giảm 27,1% so với cùng kỳ năm 2017.

Trung Quốc, Ấn Độ, và Malaysia là 3 thị trường tiêu thụ cao su lớn nhất của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2018, chiếm thị phần lần lượt 58,1%, 7,5% và 4,6%. Các thị trường có giá trị xuất khẩu cao su trong 4 tháng đầu năm 2018 tăng mạnh là Ấn Độ (gấp 2,3 lần) và Indonesia (16%).

Ở chiều ngược lại, khối lượng nhập khẩu cao su trong tháng 5/2018 ước đạt 46 nghìn tấn với giá trị đạt 86 triệu USD. Tổng khối lượng và giá trị cao su nhập khẩu 5 tháng đầu năm 2018 đạt 234 nghìn tấn với giá trị 423 triệu USD, tăng 17% về khối lượng nhưng giảm 5.5% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017.

Bốn thị trường nhập khẩu cao su chủ yếu trong 4 tháng đầu năm 2018 là Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan và Campuchia chiếm 46,2% thị phần.

Trong 4 tháng đầu năm 2018, giá trị cao su ở một số thị trường nhập khẩu chính giảm. Trong đó, thị trường có giá trị nhập khẩu giảm mạnh nhất là Nga (-26,6%), Hàn Quốc (-20,9%) và Hoa Kỳ (-16,9%). Ngược lại, một số thị trường có giá trị nhập khẩu tăng mạnh là Malaixia (+72%) và Indonesia (+11,1%).

HẠT ĐIỀU

Xuất khẩu hạt điều tăng cả về lượng và giá trị trong 5 tháng đầu năm 2018

Theo Bộ NN & PTNT, khối lượng xuất khẩu hạt điều 5 tháng đầu năm 2018 ước đạt 139 nghìn tấn và 1,37 tỷ USD, tăng 19,1% về khối lượng và tăng 22,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. Hoa Kỳ, Hà Lan và Trung Quốc vẫn duy trì là 3 thị trường nhập khẩu điều lớn nhất của Việt Nam chiếm thị phần lần lượt là 36,4%, 13,4% và 11,5% tổng giá trị xuất khẩu hạt điều. Bốn tháng đầu năm 2018, trừ Úc, tất cả các thị trường xuất khẩu hạt điều chính của Việt Nam đều tăng mạnh.

Trong tháng 5, giá điều nguyên liệu trên thị trường trong nước diễn biến trái chiều. Tại Bình Phước, giá điều tươi tiếp tục giảm 800 đồng/kg từ 30.000 đồng/kg xuống còn 22.000 đồng/kg; trong khi đó điều khô tăng 600 đồng/kg lên mức 47.000 đồng/kg.

Tại Đồng Nai, giá hạt điều khô tăng 300 đ/kg, từ 46.000 đ/kg lên 49.000 đ/kg. Giá điều nhân tại Bình Phước ổn định, với điều nhân loại W240 ở mức 285.000 đ/kg; điều nhân loại W320 ở mức 275.000 đ/kg. Trong 5 tháng đầu năm, giá điều khô trong nước diễn biến không đồng nhất, với giá tăng tại Đồng Nai từ 700 – 800 đ/kg, và giảm tại Bình Phước từ 300 – 400 đ/kg.

(TTGCVT /T.Hiền tổng hợp) 

 

 


Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (024) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (024) 39762593 
Email:ttgcvattu1989@gmail.com