Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Thị trường hàng hóa nguyên liệu trong nước tháng 4/2018
Cập nhật: 2-5-2018

VÀNG

Giá giữ mốc 37 triệu đồng mỗi lượng trong nhiều phiên của tháng 4


Trong tuần đầu tháng 4, mặc dù giá vàng thế giới đã có thời điểm tăng vọt, nhưng giá vàng trong nước vẫn tiếp diễn với trạng thái “lình xình” đi ngang. Giá giao động trong khoảng 36,62 – 36,68 triệu đồng/lượng (chiều mua vào) và 36,82 – 36,88 triệu đồng/lượng (chiều bán ra). Với mức giá trên, thị trường vàng vẫn chưa tạo được sức hấp dẫn trở lại với các nhà đầu tư. Ghi nhận tại các hệ thống kinh doanh vàng, nhìn chung xu hướng bán ra chiếm tới hơn 60 phần trăm lượng người tham gia giao dịch.

Bước sang tuần thứ 2, thị trường vàng trong nước tiếp tục chịu ảnh hưởng lớn từ các sự kiện quốc tế. Giá vàng tăng lên theo từng phiên và có xu hướng hạ nhiệt vào phiên cuối tuần 13/4, dao động trong khoảng 36,62 – 36,86 triệu đồng/lượng (chiều mua vào) và 36,82 – 37,06 triệu đồng/lượng (chiều bán ra). Tuy nhiên, theo nhận định của Doji, giao dịch vẫn chủ yếu xuất phát từ nhu cầu nhỏ lẻ, tích trữ của người dân. Lượng khách theo chiều bán vàng ra chiếm khoảng 60% trên tổng lượng khách hàng giao dịch tại hệ thống. 

Trung tuần tháng 4, giávàng trong nước vẫn giữ vững mốc giá trên 37 triệu đồng mỗi lượng trong suốt 5 phiên của tuần. Nhiều nhà đầu tư trong nước áp dụng chiến lược nghe ngóng đồng thời chờ thêm các tín hiệu và thông tin từ thị trường quốc tế để đưa ra chiến lược hợp lý.

Tuần cuối cùng của tháng, giá vàng có xu hướng giảm nhẹ qua các phiên. Mở cửa lúc 8h30 sáng 27/4, giá vàng miếng trong nước được Tập Đoàn Vàng bạc đá quý DOJI niêm yết ở mức: 36,61 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,69 triệu đồng/lượng (bán ra), giảm 60 ngàn đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với cuối giờ chiều phiên liền trước. Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn niêm yết giá vàng SJC ở mức 36,55 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,75 triệu đồng/lượng (bán ra). Theo Doji, diễn biến tăng giảm đan xen từ giá vàng thế giới đã tạo ra sức hút nhất định cho nhà đầu tư tham gia thị trường, cho dù đây là dịp nghỉ lễ của các nhà đầu tư trong nước. Ghi nhận tại hệ thống kinh doanh vàng, giao dịch khách mua vàng chiếm ưu thế (khoảng 70% trên tổng lượng khách tham gia giao dịch tại Doji).

Cũng tại thời điểm trên, giá vàng đang cao hơn 3,5% (45,5 USD/ounce) so với cuối năm 2017. Vàng thế giới quy đổi theo giá USD ngân hàng có giá 36,7 triệu đồng/lượng, chưa tính thuế và phí, thấp hơn khoảng 100 ngàn đồng/lượng so với vàng trong nước. 

ĐÔ LA

Tỷ giá trung tâm tăng mạnh, giá đô la tại ngân hàng ít biến động

Sự biến động của tỷ giá trung tâm xuất hiện ngay từ tuần đầu tiên của tháng 4 với mức chênh lệch cao thấp lên tới 29 đồng (22.448 – 22.477 đồng/USD). Tại các Ngân hàng thương mại lớn, tỷ giá giao dịch đồng USD biến động nhẹ. Cụ thể, đầu giờ sáng 6/4, đa số ngân hàng thương mại tăng tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ thêm 5 đồng so với cuối phiên liền trước, phổ biến ở mức 22.780 đồng (mua) và 22.850 đồng (bán). BIDV và ACB: 22.770 đồng (mua) và 22.840 đồng (bán). Vietcombank: 22.780 đồng (mua) và 22.850 đồng (bán). Techcombank: 22.760 đồng (mua) và 22.850 đồng (bán). So với trước Tết, tỷ giá đồng đô la Mỹ trong hệ thống ngân hàng tăng 95-105 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra. Giá USD trên thị trường chợ đen đứng ở mức: 22.795 - 22.815 đồng/USD.

Tuần thứ 2, tỷ giá trung tâm của NHNN cũng liên tục tăng mạnh và đứng ở mức cao, trong khoảng 22.472 – 22.492 đồng/USD. Nguyên nhân của việc tăng giá trên là do luồng thông tin trên thị trường quốc tế, đồng USD tăng khá nhanh trở lại sau những tuyên bố bất ngờ của ông Donald Trump về một thông điệp mang tính trì hoãn, tạm thời gạt mối lo về một cuộc đối đầu khốc liệt giữa Nga và Mỹ. Tuy nhiên, tại các Ngân hàng TM, giá đồng đô la nhìn chung vẫn ổn định. Đầu giờ sáng 13/4, đa số ngân hàng thương mại giữ tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ không đổi so với cuối phiên liền trước, phổ biến ở mức 22.755 đồng (mua) và 22.825 đồng (bán). Giá USD trên thị trường chợ đen đứng ở mức: 22.790 - 22.810 đồng/USD.

Đà tăng của tỷ giá trung tâm tiếp tục trong tuần thứ 3, dao động ở khoảng 22.477 – 22.498 đồng/USD. Nguyên nhân là do giới đầu tư lo ngại về sự bất định trên các thị trường tài chính, thương mại và chứng khoán trên thế giới; quan hệ thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc tiếp tục căng thẳng với những phát biểu đe dọa qua lại giữa 2 nền kinh tế lớn nhất thế giới đã khiến đồng USD tăng giá. Tuy nhiên, trước sự tăng nóng của tỷ giá, giá USD tại các NHTM nhìn chung vẫn ổn định. Đầu giờ sáng 20/4, đa số ngân hàng thương mại giữ tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ không đổi so với cuối phiên liền trước, phổ biến ở mức 22.740 đồng (mua) và 22.810 đồng (bán). 

Tuần cuối cùng của tháng 4 trước kỳ nghỉ lễ cũng là tuần tăng cao nhất của tỷ giá trung tâm khi tỷ giá đạt mức cao nhất tháng là 22.539 đồng/USD (vào sáng 27/4). So với trước Tết, tỷ giá đồng đô la Mỹ trong hệ thống ngân hàng tăng 60-75 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra. 

Giá USD trên thị trường chợ đen phổ biến ở mức: 22.805 - 22.825 đồng/USD.

 

THÉP

Giá thép xây dựng có chiều hướng giảm trong tháng 4/2018

Nếu như đầu năm giá sắt thép ở mức khoảng 13 triệu đồng/tấn. Tới cuối tháng 2 đã tăng lên mức 14 triệu đồng/tấn. Bước sang đầu tháng 3 giá sắt thép tiếp tục tăng lên 15 triệu đồng/tấn và đạt đỉnh điểm là 16 triệu đồng/tấn đối với thép Việt Nhật và 15,5 triệu đồng/tấn đối với một số hãng thép khác như Pomina, Hòa Phát, Miền Nam.

Đến tháng 4/2018 giá sắt thép đang có chiều hướng quay đầu giảm giá. Theo khảo sát thị trường giá sắt thép của một số hãng như Việt Nhật hiện đang ở mức 15,5 triệu đồng/tấn. Các hãng khác như Pomina, Miền Nam hay Hòa Phát đứng ở mức 15 triệu đồng/tấn. Như vậy giá thép đã hạ nhiệt với mức khoảng 500 nghìn đồng/tấn so với mức đỉnh hồi tháng 3.

Theo thông tin Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) vừa công bố trong tháng 4/2018, tình hình sản xuất và bán các sản phẩm thép tháng 3/2018 vừa qua tăng so với cùng kỳ năm 2017 và tăng so với tháng 2/2018. Tính chung Quý I/2018, sản lượng bán hàng và sản xuất của các thành viên VSA vẫn tiếp tục đà tăng trưởng khá cao so với cùng kỳ 2017, đáp ứng nhu cầu thép trong nước và xuất khẩu.

Cụ thể, riêng trong tháng 3/2018, sản xuất sản phẩm thép đạt 2.120.047 tấn, tăng 39% so với tháng trước, và tăng 21,6% so với cùng kỳ năm 2017. Bán hàng các sản phẩm thép đạt 1.820.892 tấn, tăng 26,6% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, thép xuất khẩu đạt 432.287 tấn, tăng gấp đôi so với cùng kỳ 2017.

Tính chung quý I/2018, sản xuất Thép đạt 5.771.452 tấn, tăng 25% so với quý I/2017. Hàng bán ra đạt 4.841.992 tấn, tăng 29% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu đạt 1.159.777 tấn, tăng 38,6% so với cùng kỳ 2017.

Theo ông Trần Thanh Hải- Vụ trưởng Vụ thị trường châu Á- châu Phi cho biết thời gian tới, bên cạnh mặt hàng hoa quả, dệt may, da giầy và thủy sản, mặt hàng thép cũng sẽ nằm trong định hướng tập trung xuất khẩu.

XI MĂNG

Tiêu thụ xi măng tại thị trường nội địa tăng trở lại trong tháng 4/2018

Thị trường xi măng tiếp tục phát đi tín hiệu đáng mừng khi sản lượng tiêu thụ nội địa đã có bước tăng trưởng trở lại.

Theo số liệu của Vụ Vật liệu Xây dựng (Bộ Xây dựng), ước tính sản phẩm xi măng tiêu thụ ở cả thị trường nội địa và xuất khẩu trong tháng 4 đạt khoảng 8,77 triệu tấn, tăng 0,81 triệu tấn so với tháng 3, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2017 và đạt 25% kế hoạch năm 2018. Lũy kế, ước tiêu thụ sản phẩm xi măng trong 4 tháng năm 2018 đạt khoảng 29,83 triệu tấn, tăng 13% so với cùng kỳ.

Dấu hiệu đáng mừng là sản lượng tiêu thụ tại thị trường nội địa đã tăng trưởng trở lại. Ước tiêu thụ trong nước tháng 4 khoảng 6,32 triệu tấn, tăng 5% so với cùng kỳ năm 2017. Đây là con số đáng khích lệ khi trong tháng 3, sản lượng xi măng tiêu thụ nội địa chỉ đạt 5,56 triệu tấn và giảm tới 11% so với tháng 3/2017. Trong đó, riêng Tổng Công ty công nghiệp xi măng Việt Nam (Vicem) tiêu thụ trong tháng 4 ước đạt khoảng 2,42 triệu tấn.

Lượng xi măng xuất khẩu trong tháng 4 vẫn giữ được đà tăng trưởng khá, ước đạt 2,45 triệu tấn, tăng 30% so với cùng kỳ năm 2017; xuất khẩu 4 tháng đầu năm 2018 ước đạt khoảng 9,98 triệu tấn, tăng 29% so với cùng kỳ.

Theo đánh giá của Vụ Vật liệu Xây dựng, sở dĩ trong tháng 4 sản lượng xi măng tiêu thụ trong nước tăng so với cùng kỳ năm ngoái do thời tiết thuận tiện cho xây dựng; giá bán xi măng tháng 4 nhìn chung nhích hơn tháng 3.

Về giá cả, theo thông tin từ Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính), trong 15 ngày đầu tháng 4/2018, giá xi măng có xu hướng tăng so với cuối tháng 3.

Cụ thể, báo cáo của Sở Tài chính các tỉnh, thành phố cho thấy, giá bán lẻ xi măng 15 ngày đầu tháng 04/2018 có xu hướng tăng so với cuối tháng 3/2018; tại các tỉnh miền Bắc, miền Trung hiện mức giá trung bình ở mức 1,15 triệu đồng/tấn; tại các tỉnh miền Nam giá bán trung bình ở mức 1,45 triệu đồng/tấn (giá bán giao trên phương tiện bên mua tại nhà máy).

XĂNG DẦU

Giá xăng có một lần tăng, một lần giữ nguyên, giá dầu tăng cả ở hai kỳ điều chỉnh

Trong kỳ điều chỉnh đầu tiên vào ngày 7/4, Liên Bộ Công Thương - Tài chính đã quyết định giữ nguyên mức trích lập Quỹ B́nh ổn giá xăng dầu đối với các mặt hàng xăng dầu như hiện hành. Cùng với đó, chi sử dụng Quỹ bình ổn giá đối với xăng E5 RON92 là 790 đồng/lít (kỳ trước chi sử dụng 669 đồng/lít); Dầu diesel 200 đồng/lít (kỳ trước chi sử dụng 177 đồng/lít); Dầu hỏa 200 đồng/lít (kỳ trước chi sử dụng 34 đồng/lít); Dầu mazut 0 đồng/kg (kỳ trước chi sử dụng 96 đồng/kg).

Sau khi thực hiện trích lập và chi sử dụng Quỹ Bình ổn, giá xăng E5 RON92 được phép tăng 592 đồng/lít; Dầu diesel 0.05S tăng 638 đồng/lít; Dầu hỏa tăng 521 đồng/lít; Dầu mazut 180CST 3.5S tăng 425 đồng/kg.

Như vậy, sau khi điều chỉnh, giá bán xăng E5 RON92 không cao hơn 18.932 đồng/lít; Dầu diesel 0.05S không cao hơn 16.354 đồng/lít; Dầu hỏa không cao hơn 15.081 đồng/lít; Dầu mazut 180CST 3.5S không cao hơn 12.953 đng/kg.

Tại kỳ điều chỉnh lần 2 trong tháng, kể từ 15h ngày 23/4, xăng E5 RON92 và xăng RON95-III giữ ổn định giá. Trong khi đó dầu diesel 0.05S tăng 380 đồng/lít, và dầu hỏa cũng tăng 500 đồng/lít. 

Như vậy, giá bán các mặt hàng xăng E5 RON92 không cao hơn 18.932 đồng/lít, xăng RON95-III không cao hơn 20.500 đồng/lít, dầu diesel 0.05S không cao hơn 16.734 đồng/lít, dầu hỏa: không cao hơn 15.581 đồng/lít, dầu mazut 180CST 3.5S không cao hơn 13.360 đồng/kg.

Giá etanol E100 đưa vào tính giá cơ sở mặt hàng xăng E5 RON92 theo Công văn số 420/BTC-QLG ngày 20 tháng 4 năm 2018 của Bộ Tài chính về điều hành kinh doanh xăng dầu là 14.488,33 đồng/lít (chưa có thuế GTGT).

GAS

Giá duy trì ở mức ổn định

Chiều ngày 31/3, các đơn vị đầu mối kinh doanh, phân phối mặt hàng gas tại Tp. Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phố phía Nam đã công bố giá gas tháng 4/2018 duy trì ở mức ổn định so với tháng 3/2018. 

Nguyên nhân giá gas trong tháng 4/2018 không biến động được các đơn vị kinh doanh cho biết, do giá gas thế giới bình quân tháng 4/2018 ở mức 472,5 USD/tấn, bằng với mức giá của tháng 3/2018. 

Tương tự, Chi hội gas miền Nam cũng thông báo, từ ngày 1/4/2018, giá gas bán lẻ tối đa đến tay người tiêu dùng của một số thương hiệu như Petrovietnam, Petrolimex, Gas Dầu khí, Sp Gas… không thay đổi so với tháng 3/2018. Cụ thể, giá gas bán lẻ đến tay người tiêu dùng tại Tp. Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phố khu vực phía Nam trong tháng 4/2018 sẽ dao động ở mức 317.000 đồng/bình 12kg đến 330.000 đồng/bình 12kg. 

Theo đó, các doanh nghiệp trong nước đã triển khai thông báo điều chỉnh giá gas đến các chi nhánh cửa hàng, đại lý bán lẻ, để đảm bảo tuân thủ quy luật thị trường và quyền lợi của người tiêu dùng.

Ô TÔ

Ô tô biến động trái chiều, có xe giảm trăm triệu 

Bước sang tháng 4 này, nhiều hãng ô tô cho biết sẽ không còn xe nhập để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, và hiện vẫn chưa đáp ứng đầy đủ cách thức để có thể nhập khẩu xe vào Việt Nam (như Honda).

Đại diện một số hãng xe cho biết, đối với các dòng xe nhập khẩu được ưa chuộng, như các mẫu xe nhỏ, các dòng SUV/crossover và đặc biệt là toàn bộ phân khúc bán tải, nhà cung cấp ở nước ngoài đã từ chối sản xuất đơn hàng cho thị trường Việt Nam, do lượng xe sản xuất ra vẫn đang nằm ở cảng mà chưa thể lên đường về Việt Nam. Một số hãng còn chưa dám đặt hàng xe vì không thể mạo hiểm khi chưa nắm chắc các thủ tục để đưa xe về Việt Nam.

Dù nguồn hàng không nhiều, nhưng các hãng cũng không mạo hiểm chơi nước cờ tăng giá xe, vì sợ ảnh hưởng tới hình ảnh thương hiệu và tạo ra những hiệu ứng không tốt từ người tiêu dùng. Tuy nhiên, phía các đại lí - đối tác phân phối xe - lại bắt đầu có động thái tự ý tăng giá hoặc "ép" khách mua các gói phụ kiện nếu muốn có xe sớm.

Chính vì vậy, trong tháng 4/2018 này, hầu hết các hãng xe đều không có thay đổi nhiều về giá bán niêm yết so với tháng 3/2018. Những thay đổi lớn nhất trong tháng lại đến từ các dòng xe lắp ráp và cá biệt một số mẫu xe nhập khẩu, nhưng là các model cũ.

Những mẫu xe được giảm giá bán trong tháng 4/2018 này phải kể đến Nissan Teana (nhập khẩu) với mức giảm hơn 100 triệu đồng, GM Việt Nam duy trì mức giảm giá cho hầu hết các mẫu xe lắp ráp trong nước như Aveo được duy trì mức giảm 60 triệu đồng, Spark được giảm 25 - 40 triệu đồng so với giá bán công bố, Cruze duy trì mức hỗ trợ là 40 triệu đồng hay Captiva với mức giảm 20 triệu đồng.

Trong khi đó, một số hãng xe lại có xu hướng ngược lại là tăng giá một số mẫu xe nhập khẩu, với lí do thực tế liên quan đến các thủ tục, tiêu chuẩn nhập khẩu mới, những cái tên đáng quan tâm là Honda, với cả 4 mẫu xe nhập khẩu từ Thái Lan hay Ssangyong với các mẫu Stavic số tự động (cả bản 7 chỗ và 9 chỗ)…

Về tình hình tiêu thụ, theo báo cáo mới nhất của Hiệp hội các Nhà sản xuất ôtô Việt Nam (VAMA) cho biết, tổng sản lượng bán hàng ôtô trên toàn thị trường tháng 3/2018 đã tăng 70% so với tháng liền trước, đạt 21.127 chiếc.

Trong đó, phân khúc xe du lịch đạt 12.858 chiếc, tăng 48%; phân khúc xe thương mại đạt 6.949 chiếc, tăng 109%; phân khúc xe chuyên dụng đạt 1.320 chiếc, tăng đến 222%.

Đây là bước hồi phục rất đáng chú ý của thị trường ôtô Việt Nam sau quãng thời gian 2 tháng đầu năm rơi vào tình trạng ảm đạm. Nguyên nhân cơ bản giúp thị trường có được bước hồi phục sức mua đáng kể là nhờ các hãng xe bắt đầu giải quyết được vấn đề nguồn cung.

Ở mảng nhập khẩu, sau khi giấy chứng nhận chất lượng kiểu loại ôtô (VTA) được Bộ Giao thông Vận tải chấp thuận, những lô xe nhập khẩu từ Thái Lan và Indonesia theo thuế suất 0% bắt đầu nối đuôi nhau cập cảng. Dù mật độ các lô xe nhập khẩu còn thưa thớt và số lượng xe ở mỗi lô chưa nhiều song cũng đủ làm "ấm" lại thị trường.

Cũng có bối cảnh tương tự ôtô nhập khẩu, các doanh nghiệp sở hữu nhà máy sản xuất, lắp ráp tại Việt Nam cũng đã có thể cung cấp xe ra thị trường nhiều hơn chứ không còn nhỏ giọt như 2 tháng đầu năm.

Nhờ vậy, theo báo cáo của VAMA, sản lượng bán hàng của các loại xe lắp ráp trong nước tháng 3/2018 đã tăng 76% so với tháng trước, đạt 18.777 chiếc. Trong khi đó, lượng xe nhập khẩu cũng đạt con số khích lệ 2.350 chiếc, tăng 37%.

Mặc dù nguồn cung đã bắt đầu được "giải tỏa" song trước mắt, tổng sức mua ôtô trên toàn thị trường được dự báo là sẽ chưa thể tăng trưởng đột biến. Lý do là cả ôtô nguyên chiếc lẫn linh kiện nhập khẩu vẫn đang chỉ ở giai đoạn khởi động và sẽ chỉ dồn dập về nước từ khoảng giữa năm 2018.

THỦY SẢN 

Mỹ áp thuế cao, doanh nghiệp xuất khẩu cá tra gặp khó

Mới đây, ngày 15/3, Bộ Thương mại Mỹ (DOC) đã có kết luận cuối cùng trong vụ việc rà soát hành chính lần thứ 13 (POR 13) về biện pháp chống bán phá giá cá tra, basa của Việt Nam (giai đoạn rà soát từ 1/8/2015 tới 31/7/2016). Căn cứ kết luận này, các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra, basa của Việt Nam sẽ bị áp dụng mức thuế chống bán phá giá từ 2,39-7,74 USD/kg cho giai đoạn rà soát nói trên.

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, hoạt động xuất khẩu cá tra của Việt Nam vào Mỹ đang phải chịu nhiều khó khăn. Không phải bây giờ xuất khẩu cá tra vào Mỹ mới gặp khó khăn mà trước đó năm 2017 các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra sang Mỹ cũng đã gặp khó rồi, xuất khẩu giảm gần 11%, xuống còn 387 triệu USD. Đáng chú ý, kể từ khi Chương trình Thanh tra cá da trơn có hiệu lực đã khiến xuất khẩu vào thị trường này bị đình trệ và sụt giảm trên 50% trong 3 tháng cuối năm ngoái.

Mặc dù có 62 doanh nghiệp đăng ký xuất khẩu cá tra sang Mỹ, nhưng thực tế chưa tới 10 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu và chỉ có 3 doanh nghiệp xuất khẩu với giá trị đáng kể. Theo dự báo của các doanh nghiệp, ngành cá tra vẫn khó đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường này trong thời gian tới.

Để tháo gỡ khó khăn trên, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cùng các bên liên quan đang tích cực phối hợp với Mỹ trong việc đánh giá điều kiện sản xuất tương đương giữa nghề nuôi và chế biến cá tra của Việt Nam với Mỹ. Hiện Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản (NAFIQAD) đã hoàn thiện Bản câu hỏi đánh giá tương đương (SRT) theo yêu cầu của Cơ quan Thanh tra và An toàn thực phẩm Mỹ (FSIS).

Mặt khác, Việt Nam vừa chính thức gửi yêu cầu tới Mỹ đề nghị tham vấn trong khuôn khổ Cơ chế giải quyết tranh chấp Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) liên quan tới biện pháp chống bán phá giá mà Mỹ áp dụng đối với cá tra, basa nhập khẩu từ Việt Nam.

Ngành tôm đối mặt áp lực nguồn cung


Theo thông tin từ Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), trong Quý I/2018, xuất khẩu tôm của cả nước ước đạt trên 719 triệu USD, tăng 16% so với cùng kỳ.Thời tiết thuận lợi, sản lượng tôm đạt cao trong khi nhu cầu thị trường cũng tăng cao đã hỗ trợ cho sản xuất và xuất khẩu tôm tăng mạnh trong thời gian này. 

Hiện xuất khẩu tôm Việt Nam sang thị trường này có nhiều điểm thuận lợi, do tôm Ấn Độ (đối thủ chính của Việt Nam tại thị trường EU) bị cảnh báo nhiễm kháng sinh và đối mặt với nguy cơ EU cấm nhập khẩu nên tôm Việt Nam được lựa chọn thay thế.

Bên cạnh đó, tôm Việt Nam có lợi thế được hưởng mức thuế ưu đãi thuế quan (GSP) từ EU, trong khi Thái Lan và Trung Quốc không có được điều này.

Theo ông Trương Đình Hòe, Tổng thư ký VASEP, Việt Nam có nhiều tiềm năng về phát triển nuôi trồng và chế biến tôm.

Nếu giải quyết tốt các vấn đề kháng sinh, truy xuất nguồn gốc và dịch bệnh thì dự báo trong năm 2018, xuất khẩu tôm sẽ tăng khoảng 10% so với năm 2017, có thể đạt mức 4,2 tỷ USD.

Tuy nhiên, do nguồn cung các nước đều tăng, cũng như lượng tồn kho tại các nước hiện còn nhiều nên năm 2018 có thể giá bán sẽ không cao, người nuôi sẽ chịu nhiều áp lực về giá thành cũng như giá bán.

Thực tế xuất khẩu từ các doanh nghiệp chế biến tôm cho thấy rõ xu hướng này. Ông Hồ Quốc Lực, Tổng giám đốc Công ty cổ phần thực phẩm Sao Ta (FIMEX VN) cho biết, so với các năm trước, trong Quý I/2018, các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu tôm không lo thiếu nguyên liệu sản xuất. Tuy nhiên, do áp lực của nguồn cung tôm trên thế giới tăng nên giá tôm xuất khẩu của các doanh nghiệp hiện đã giảm khoảng 5% so với thời điểm cuối năm 2017.

Tại thị trường nội địa, theo ghi nhận của phóng viên, giữa tháng 4, giá tôm nguyên liệu tại ĐBSCL tuy có giảm so với trước tết khoảng 2.000 đồng/kg, nhưng vẫn cao hơn so với cùng kỳ. Cụ thể, tôm sú 20 con/kg có giá khoảng 280.000-290.000 đồng/kg, tôm thẻ loại 100 con/kg khoảng 105.000 đồng/kg. Theo ngành chức năng các tỉnh ĐBSCL, với giá này người nuôi tôm đã có lợi nhuận khá.

LÚA GẠO

Nhiều khả năng giá sẽ còn tăng

Mấy tuần qua, giá lúa gạo tăng liên tục và hiện đang ở mức cao. Nhiều khả năng giá lúa gạo nội địa và xuất khẩu của Việt Nam sẽ còn tăng lên khi nhu cầu nhập khẩu từ nhiều nước khiến cho giá gạo trên từ các nước XK lớn có thể cùng tăng lên để thiết lập mặt bằng giá mới.

Thông tin từ các doanh nghiệp xuất khẩu gạo cho hay, sau mấy tuần tăng liên tục, giá gạo xuất khẩu loại 5% tấm của Việt Nam hiện đang được chào bán ở mức 430-440 USD/tấn, ngang ngửa với gạo cùng loại của Thái Lan.

Trên thị trường nội địa, giá lúa gạo hàng hóa ở ĐBSCL cũng liên tục tăng lên trong suốt mấy tuần qua. Bà Tư Lan, một thương lái ở An Giang, cho hay, giá lúa tươi IR 50404 hiện có giá bán tại ruộng từ 5.350-5.400 đ/kg, lúa OM 5451 giá tại ruộng 5.800 đ/kg, lúa khô IR 50404 tại nhà máy giá 6.400 đ/kg, lúa khô OM 5451 giá 6.700 đ/kg… Thông tin từ một số nhà máy xay xát gạo cho thấy, gạo nguyên liệu IR 50404 hiện ở mức 7.850-7.900 đ/kg, gạo nguyên liệu OM 5451 từ 8.450-8.650 đ/kg. Gạo thành phẩm 5% tấm loại IR 50404 từ 9.100-9.200 đ/kg. Tấm từ 7.550-7.650 đ/kg…

Theo ông Lâm Anh Tuấn, GĐ Cty TNHH Thịnh Phát (Bến Tre), giá gạo xuất khẩu và giá lúa gạo nội địa liên tục tăng trong những tuần qua, trước hết là do nguồn cung đã bắt đầu hạn hẹp. Vụ đông xuân ở ĐBSCL đang đi vào thời điểm cuối vụ. Ở Campuchia, người dân đang bận ăn Tết cổ truyền nên lúa Campuchia về Việt Nam giảm nhiều. Nguồn cung lúa nguyên liệu ở Campuchia hiện cũng không dồi dào.

Trong khi đó, nhu cầu xuất khẩu gạo lại đang tăng lên, nhất là sau khi có được những phiếu lớn. Indonesia sau khi ký phiếu mua 300.000 tấn gạo Việt Nam, lại đã ký tiếp một hợp đồng lớn khác với khối lượng 200.000 tấn. Cả 2 hợp đồng nói trên đều có giá tốt. Trong tuần này, Philippines lại mở thầu nhập khẩu 250.000 tấn gạo loại 25% tấm, giao hàng trong tháng 5 và tháng 6. Nhiều nguồn tin cho hay, Việt Nam và Thái Lan đã được mời tham gia cuộc đấu thầu này. Và nhiều khả năng Việt Nam sẽ lại trúng thầu một khối lượng không nhỏ trong đó. Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp cũng có thêm các hợp đồng thương mại.

Bên cạnh đó, yếu tố tâm lý cũng góp phần làm tăng giá lúa gạo. Yếu tố tâm lý đến từ việc khi Việt Nam liên tiếp có được những hợp đồng lớn từ Indonesia và nhiều khả năng tiếp tục trúng thầu bán gạo cho Philippines, thì nhu cầu thu mua gạo hàng hóa phục vụ xuất khẩu chắc chắn sẽ tăng lên.

Tuy nhiên, theo nhận định của một số doanh nhân ngành gạo, giá lúa gạo không tăng đột biến theo kiểu “sốt”, mà tăng lên từ từ. Bởi những hợp đồng lớn nói trên đều có thời gian giao hàng kéo dài. (500.000 tấn mà Indonesia đã ký mua của Việt Nam trong tháng 3 và tháng 4 này, có thời gian giao hàng từ tháng 5 tới tháng 7). Do đó, áp lực thu mua gạo hàng hóa để đáp ứng cho việc giao hàng sang Indonesia không quá lớn. Nếu nguồn cung từ vụ đông xuân đã cạn, các DN được phân bổ chỉ tiêu xuất khẩu sang Indonesia hoàn toàn có thể chờ gạo mới từ vụ hè thu để đấu trộn với gạo vụ đông xuân để ra gạo 15% tấm là chủng loại gạo mà Indonesia mua.

Nhiều khả năng giá lúa gạo của Việt Nam sẽ tiếp tục duy trì ở mức cao khi có thêm những hợp đồng lớn trong thời gian tới. Thậm chí, theo ông Lâm Anh Tuấn, giá gạo Việt Nam có thể còn tăng lên nữa khi giá gạo Thái Lan và gạo XK của một số nước khác cùng tăng lên và hình thành nên một mặt bằng giá mới trên thị trường lúa gạo thế giới. Tuy nhiên, khi chào bán gạo theo các hợp đồng thương mại, các DN Việt Nam cần phải tính toán lại giá bán một cách hợp lý hơn. Bởi trong những ngày qua, tuy giá gạo 5% tấm của Việt Nam được chào bán ngang với giá gạo cùng loại của Thái Lan, thì hầu như không DN nào bán được gạo với mức giá đó, vì nếu ngang giá, khách hàng sẽ chọn gạo Thái Lan.

CÀ PHÊ

Thị trường trầm lắng, giá cà phê tăng giảm quanh mức 37 nghìn đồng/kg

Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương) cho biết, giao dịch mặt hàng cà phê tại thị trường trong nước trong tháng 4 khá trầm lắng do người bán muốn giữ hàng lại khi giá ở mức thấp, trong khi các nhà nhập khẩu vẫn đang theo dõi nguồn cung từ thị trường Indonesia và Brazil. 

10 ngày đầu tháng 4, giá cà phê tại thị trường trong nước tăng do các nhà thu mua nhỏ lẻ thanh lý để chuyển vốn sang thị trường hạt tiêu. Chốt phiên giao dịch ngày 10/4/2018, giá cà phê tăng so với cuối tháng trước nhưng vẫn giảm so với ngày 10/3/2018. Cụ thể, tại tỉnh Lâm Đồng, so với ngày 31/3/2018, giá cà phê tăng từ 0,3 – 1,1%, lên mức 36.500 – 36.000 VNĐ/kg, nhưng so với ngày 10/3/2018 giá giảm từ 1,1 – 1,3%. Tại tỉnh Đắk Lắk, giá cà phê ở mức 36.900 – 37.000 VNĐ/kg, tăng 0,8% so với ngày 31/3/2018, nhưng vẫn giảm từ 0,8 – 1,3% so với cùng kỳ tháng trước.

Đến thời điểm gần cuối tháng 4/2018, giá cà phê nguyên liệu đang diễn biến khó lường. Vào sáng 27/4, giá cà phê Tây Nguyên dao động ở mức 36.800 – 37.100 đồng/kg. Cụ thể, tại huyện Bảo Lộc (Lâm Đồng) giá cà phê đang ở mức 36.800 đồng/kg, giá cà phê tại Di Linh, Lâm Hà thấp hơn ở mức 36.700 – 36.800 đồng/Kg. Giá cà phê tại tỉnh ĐắkLắk  giao dịch mức 37.000 đồng/kg. Còn tại Gia Lai giá cà phê đang bán ở mức 37.100 đồng/kg. Hiện giá cà phê Gia lai đang cao nhất.

Về tình hình xuất khẩu, theo thống kê mới nhất của TCHQ, khẩu cà phê trong 15 ngày đầu tháng 4/2018 đạt 81 nghìn tấn, trị giá 153,59 triệu USD, giảm 15% về lượng và giảm 16,4% về trị giá so với cùng kỳ tháng 3/2018, tăng 18,9% về lượng nhưng giảm 0,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017. Tính từ đầu năm đến giữa tháng 4/2018, xuất khẩu cà phê đạt 610,4 nghìn tấn, trị giá 1,182 tỷ USD, tăng 17,3% về lượng và tăng nhẹ 0,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017. 

Giá xuất khẩu bình quân mặt hàng cà phê trong nửa đầu tháng 4/2018 đạt 1.898 USD/tấn, giảm 1,7% so với cùng kỳ tháng 3/2018 và giảm 16,5% so với cùng kỳ năm 2017. Tính từ đầu năm đến nửa đầu tháng 4/2018, giá xuất khẩu bình quân cà phê đạt 1.937 USD/tấn, giảm 14,7% so với cùng kỳ năm 2017.

HẠT TIÊU

Giá hạt tiêu trở lại mốc 60.000 đồng/kg

Sau một thời gian giảm liên tục và xuống tới mức chỉ còn 50.000 - 52.000 đồng/kg vào cuối tháng 3, đầu tháng 4, trong mấy tuần qua, giá hạt tiêu đã liên tục theo xu hướng tăng lên và hiện đã trở về mốc 60.000 đồng/kg.

Cụ thể, tại Bà Rịa - Vũng Tàu, trung tuần tháng 4, giá hạt tiêu đã ở mức 63.000 đồng/kg. Tại các địa phương khác, giá hạt tiêu từ 60.000 - 62.000 đồng/kg.

Giá hạt tiêu tăng liên tục trong thời gian qua, có yếu tố từ sự đầu cơ của nhiều DN khi giá hạt tiêu đã xuống quá thấp. Bên cạnh đó là sự xuất hiện và cạnh tranh thu mua của thương lái Trung Quốc tại nhiều vùng trồng tiêu. Trong quý I, lượng hạt tiêu đã XK khá nhiều (60.033 tấn; tăng 17,5% về lượng so cùng kỳ 2017), nên các DN đang đẩy mạnh thu mua tiêu trở lại. Nhiều nông dân chủ động giữ tiêu lại khi giá xuống thấp, cũng góp phần đưa giá tiêu tăng lên.

Được biết, cho tới khi Indonesia ra hàng vụ mới sẽ thu hoạch vào khoảng tháng 7- tháng 8, hạt tiêu Việt Nam là nguồn cung duy nhất cho toàn cầu hiện nay. Đây cũng là cơ hội để các nhà kinh doanh hạt tiêu Việt Nam mở rộng thị phần hơn nữa. Còn nhà nông, phải thay đổi tư duy và nhất là phải hành động để hạt tiêu ở vùng mình, quê mình phải mang được thương hiệu là hàng đặc sản hay chi ít cũng là hàng chất lượng được mọi người tin dùng.

CAO SU

Giá trị xuất khẩu cao su giảm mạnh

Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết, từ đầu tháng 4/2018 đến nay, giá mủ cao su nguyên liệu tại khu vực Bình Phước dao động ở mức 10.700 - 12.100 đ/kg. Giá mủ nước tại vườn và nhà máy lần lượt ở mức 265 Đ/độ TSC và 270 Đ/độ TSC.

Theo Tổng cục Hải quan, 15 ngày đầu tháng 4/2018, lượng cao su xuất khẩu đạt 31.434 tấn, trị giá 45,34 triệu USD, giảm 5,2% về lượng và giảm 7,8% về trị giá so với 15 ngày trước đó; tăng 23,7% về lượng, nhưng giảm 8,7% về trị giá so với 15 ngày đầu tháng 4/2017. Lũy kế đến hết ngày 15/4/2018, lượng cao su xuất khẩu đạt 292.324 tấn, trị giá 431,03 triệu USD, tăng 6,4% về lượng, nhưng lại giảm 22,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

Giá xuất khẩu cao su trung bình 15 ngày đầu tháng 4/2018 ở mức 1.442 USD/tấn, thấp hơn 2,8% so với mức giá xuất khẩu trung bình 15 ngày trước đó và thấp hơn 26,2% so với mức giá xuất khẩu trung bình 15 ngày đầu tháng 4/2017. Lũy kế đến ngày 15/4/2018, giá xuất khẩu cao su trung bình ở mức 1.475 USD/tấn, thấp hơn 27,5% so với mức giá xuất khẩu trung bình cùng kỳ năm 2017. 

Trên thị trường thế giới, giá cao su thiên nhiên từ đầu năm đến nay ở mức thấp do nguồn cung dư thừa, mặc dù 3 nước sản xuất chủ chốt gồm Thái Lan, Malaysia và Indonesia thỏa thuận cắt giảm lượng xuất khẩu. Thời điểm hạn chế xuất khẩu đã qua và có thể các nước sản xuất sẽ tăng xuất khẩu kể từ tháng 4/2018. 

HẠT ĐIỀU

Nhân điều tăng giá

Các doanh nghiệp ngành điều cho biết từ đầu tháng 4 các đơn hàng nhập khẩu điều nhân từ Mỹ và EU bắt đầu quay trở lại sau hơn 3 tháng tạm ngưng.

Giá chào mua từ 4,4 - 4,5 USD/kg, tăng khoảng 15 cent/kg so với hồi đầu năm.

Còn theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, quý I.2018 xuất khẩu điều đạt 73.000 tấn tăng 31% về khối lượng, giá trị đạt 740 triệu USD, tăng 44% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. Giá điều xuất khẩu bình quân đạt 10.261 USD/tấn, cao hơn 12,5% so với cùng kỳ năm trước. Mỹ, Trung Quốc và Hà Lan vẫn duy trì là 3 thị trường nhập khẩu điều lớn nhất của VN chiếm thị phần lần lượt là 30%, 17% và 14% tổng giá trị xuất khẩu hạt điều.

Theo các doanh nghiệp, trong 3 tháng vừa qua dù không có đơn hàng mới nhưng xuất khẩu vẫn tăng là do doanh nghiệp xuất theo các đơn hàng cũ; mặt khác những đơn vị nhỏ bắt buộc phải tìm mọi cách đẩy hàng ra để xoay vòng dòng tiền.

Ông Lê Nhật Khoa, Phó giám đốc Công ty Phúc An (Bình Phước), nhận xét: "Giá điều nhân tăng thì thị trường điều nguyên liệu nhập khẩu cũng tăng. Năm ngoái họ chào giá khoảng 1.900 USD/tấn thì nay đã tăng lên 2.200 USD".

Mấy năm gần đây giá điều thô tăng trung bình khoảng 200 USD/tấn. Dù Việt Nam là nhà cung cấp điều lớn nhất thế giới nhưng bản chất chỉ là gia công do phụ thuộc đầu vào và đầu ra, chúng ta cũng chưa đi vào chế biến sâu để tạo giá trị gia tăng cho hạt điều.

Trong vài tháng gần đây, ngành chế biến điều xuất khẩu đang phải đau đầu với việc thiếu hụt nguồn nguyên liệu. Đầu năm nay, ngành điều đã kỳ vọng sản xuất trong nước sẽ được mùa, với sản lượng ước khoảng 400-500 ngàn tấn. Tuy nhiên, thời tiết không thuận lợi, cộng với việc thiếu kinh nghiệm cũng như khả năng chăm sóc của nhiều hộ trồng điều, đã khiến cho vụ điều 2017/2018 bị mất mùa trên diện rộng ở nhiều địa bàn như Đạ Tẻ, Đạ Huai, Cát Tiên (Lâm Đồng), Bù Gia Mập (Bình Phước)… Do đó, sau chuyến đi khảo sát các vùng điều trọng điểm, các chuyên gia của Vinacas đã đưa ra ước tính mới cho rằng sản lượng điều vụ 2017/2018 của cả nước chỉ có thể đạt khoảng 300.000 tấn.

Điều thô xuất khẩu cũng bị giảm mạnh về chất lượng khi tỷ lệ nhân thu hồi thấp hơn năm ngoái. Vì vậy, với sản lượng điều nội địa năm nay ước tính khoảng 300 ngàn tấn và 1 triệu tấn điều thô nhập khẩu, dự kiến lượng nhân điều phục vụ xuất khẩu trong năm nay chỉ vào khoảng 270 ngàn tấn. Do thiếu nguyên liệu, nên dù thị trường xuất khẩu đang rất tốt, nhiều nhà máy điều đang có nguy cơ phải tạm ngừng sản xuất.

(TTGCVT /T.Hiền tổng hợp) 

 

 

 

Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (024) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (024) 39762593 
Email:ttgcvattu1989@gmail.com