Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Thị trường hàng hóa nguyên liệu trong nước tháng 3/2018
Cập nhật: 2-4-2018

VÀNG

Giá vàng ít biến động, tăng giảm nhẹ quanh mốc 37 triệu đồng một lượng


Các thông tin về giá vàng thế giới liên tục biến động trong tháng 3 đã không ảnh hưởng nhiều đến giá vàng trong nước. Có thể nói, tháng 3/2018 thị trường vàng trong nước tiếp tục ghi nhận diễn biến “lình xình” của giá vàng khi mức giá bán ra gần như không vượt qua mốc 37 triệu đồng mỗi lượng. Duy nhất vào tuần cuối cùng của tháng 3, giá vàng có xu hướng tăng nhẹ lên mốc 37 triệu đồng, các tuần còn lại, giá vàng chỉ xoay quanh mức 36,7 – 36,8 triệu đồng mỗi lượng.

Với mức tăng giảm trong biên độ hẹp, đã khiến cho các nhà đầu từ khó đoán định được xu hướng tiếp theo của giá vàng. Chính vì vậy, bầu không khí giao dịch tại các điểm kinh doanh vàng lớn khá ảm đạm. Theo khảo sát của Doji, nhìn chung lượng khách theo chiều bán vàng ra hầu như chiếm khoảng 65% trên tổng lượng khách tham giao dịch tại hệ thống. Điều này chứng tỏ, thời điểm hiện tại vàng chưa phải là kênh đầu tư sinh lời tốt và các nhà đầu tư chưa mặn mà với kim loại quý này.

Kết thúc tháng 3/3018, giá vàng SJC của công ty Vàng Bạc đá quý Sài Gòn tại thời điểm mở cửa sáng 30/3 đứng ở mức 36,56- 36,75 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra). Quy đổi theo tỷ giá tại Vietcombank cùng thời điểm, giá vàng trong nước hiện đắt hơn giá thế giới khoảng 40 nghìn đồng/lượng (chưa tính thuế và các khoản phí).

ĐÔ LA

Tỷ giá trung tâm trong tháng 3 nhiều biến động, giá USD tại ngân hàng ổn định


Trái ngược với sự bình lặng của giá vàng, tỷ giá trung tâm của NHNN trong tháng 3 liên tục biến động. Mức cao nhất của tỷ giá trong tháng là 22.463 đồng/USD. Mức thấp nhất của tỷ giá trung tâm là 22.440 đồng/USD. Sự biến động của tỷ giá trong tháng 3 là bởi giá đồng USD trên thị trường thế giới đã liên tục tăng giảm bởi các thông tin kinh tế - chính trị, tác động lớn đến tỷ giá trung tâm của NHNN.

Tuy nhiên, mặc cho tỷ giá trung tâm biến thiên, giá giao dịch đồng bạc xanh tại các Ngân hàng thương mại nhìn chung tương đối ổn định. Đa số các ngân hàng như Vietcombank, Techcombank, Agribank, BIDV đều niêm yết giá giao dịch USD ở mức từ 22.725 – 22.795 đồng/USD. Điều này đã phản ảnh các ngân hàng đều có nguồn ngoại tệ đầy đủ đáp ứng tốt nhu cầu mua bán của thị trường.

THÉP

Giá thép tăng trong tháng 3


Tháng 3 là thời gian các công trình xây dựng tiếp tục triển khai trở lại, điều này đã tác động làm giá cả thị trường thép xây dựng tăng nhẹ. Bên cạnh đó giá nguyên liệu nhập khẩu tăng cùng những tác động từ Trung Quốc (thị trường sản xuất thép lớn nhất thế giới) cũng đã tác động không nhỏ tới giá thép xây dựng trong nước.

Khảo sát tại các cửa hàng vật liệu xây dựng lớn trên đường Phan Trọng Tuệ (Thanh Trì, Hà Nội) cho thấy, giá thép vẫn giữ ở mức cao từ cuối năm 2017 và còn có khả năng tăng tiếp. Chủ cửa hàng sắt thép Dung Chúc chia sẻ, thép lên giá từ năm ngoái đến giờ, đặc biệt là thép xây dựng. Còn thép ống thì cũng tăng giá tùy loại, có loại lên ít, có loại lên nhiều.

Tại một cửa hàng thép khác chuyên nhập thép của các công ty thép Việt Đức, Hòa Phát..., chủ cửa hàng cho biết, giá thép xây dựng đã tăng mạnh từ mức 11.500 đồng/kg cuối năm 2016 lên mức 15.300 - 15.400 đồng/kg hiện nay. Đà tăng diễn ra liên tục và dự báo sẽ còn tăng tiếp. "Nếu không tính thời điểm năm 2008 khi thị trường bất động sản bùng nổ khiến giá thép lên mức 19.000 đồng/kg thì mức giá hiện nay là cao nhất".

Còn theo ghi nhận tại thị trường TP.HCM, giá bán lẻ thép xây dựng tháng 3 đang dao động ở mức từ 17.500 đồng đến 18.000 đồng/kg, tăng từ 2.000 đồng đến 2.500 đồng/kg so với thời điểm trước Tết. Các DN xây dựng cho biết, biên độ tăng giá của mặt hàng thép năm nay cao hơn hẳn mọi năm. Thông thường những năm trước, giá thép chỉ tăng khoảng 1.000 đồng/kg.

Các nhà máy thép liên tục trong trạng thái hết hàng, khi lượng thép đưa ra đến đâu đều tiêu thụ hết đến đấy. Giá bị đẩy lên cao ngay ngày đầu tiên của tháng 3 khi tăng thêm 300 đồng/kg. Tại các đại lý thép và nhà phân phối, lượng đơn hàng tăng cao đột biến, nhiều nơi không còn đủ lượng để cung cấp cho khách hàng. Một số khách hàng lớn sau khi có thông tin tăng giá đã đặt trước để mua một số lượng lớn, gây khan nguồn cung trên thị trường. Mặt khác, một số đại lý cho biết giá sẽ còn tiếp tục tăng cao nên đã chủ động găm hàng chờ tăng giá.

Là nước tiêu thụ khoảng một nửa số vật liệu thô của thế giới và sản xuất thép nhiều nhất thế giới, những động thái của thị trường Trung Quốc ảnh hưởng lớn đến thị trường thép thế giới. Chiến dịch chống ô nhiễm môi trường và hạn chế dư thừa năng suất thép của chính phủ Trung Quốc đã khiến giá nhôm, thép và quặng sắt tăng mạnh.

Tại thị trường Việt Nam, ngành thép phải nhập khẩu một lượng lớn nguyên liệu và bán thành phẩm như quặng sắt, than mỡ để phục vụ cho sản xuất trong nước. Do giá nguyên liệu thế giới tăng nên các nhà sản xuất thép trong nước cũng phải tăng giá bán sản phẩm.

Nhận định về biến động giá thép, đại diện Hiệp hội Thép cho rằng, tình hình rất khó dự báo. Theo ông Sưa,  tình hình thị trường thép đang khá phức tạp vì giá cả nguyên liệu cho sản xuất thép thế giới đang có chiều hướng tăng mà việc tăng giá này ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường thép Việt Nam vì chúng ta phải nhập nhiều nguyên liệu như quặng sắt, sắt thép… nên bất kỳ động thái thay đối giá thế giới đều ảnh hưởng tới Việt Nam. Do vậy, việc giá thép thế giới tăng buộc DN Việt Nam phải có sự điều chỉnh phù hợp để cân đối lợi nhuận. Bên cạnh đó, nhu cầu tiêu thụ của thị trường thép dự báo cao hơn năm 2017 nên mặt hàng này cũng có tiềm năng tăng giá.

Về phía DN thép, ông Đỗ Duy Thái, Tổng Giám đốc Công ty TNHH và sản xuất Thép Việt (Pomina) cũng cho biết, hiện giá bán thép tại nhà máy đang dao động ở mức trên 14.000 đồng/kg chưa có VAT. Theo ông Thái, giá thép hiện nay rất khó dự báo vì còn phụ thuộc vào cung cầu thế giới và diễn biến giá cả hằng ngày.

Liên quan đến việc Tổng thống Mỹ Donald Trump vừa tuyên bố sẽ đánh thuế cao đối với thép và nhôm NK từ một số nước trong đó có Việt Nam vào thị trường Mỹ nhằm bảo vệ ngành luyện kim trong nước liệu có tác động đến giá thép ngoài thị trường, ông Sưa cho biết, có thể sẽ có những tác động nhất định đến giá thép tuy nhiên tác động này đối với thị trường trong nước là không lớn vì sản lượng thép XK qua thị trường Mỹ không nhiều. Trong trường hợp, Mỹ không thay đổi quyết định về việc áp thuế đối với thép NK từ Việt Nam thì sẽ chỉ làm giảm tính cạnh tranh và có ảnh hưởng nhất định đối với các DN XK mặt hàng này qua thị trường Hoa Kỳ.

Mặc dù vậy, đại diện Hiệp hội Thép cũng cho rằng, xét trên tổng thể thì việc xuất khẩu thép của Việt Nam cũng không có biến động mạnh vì ASEAN mới chính là thị trường tiêu thụ lớn nhất của thép Việt Nam (chiếm khoảng 60%) trong khi Hoa Kỳ chỉ chiếm khoảng 11,1%. Đặc biệt, trong hai năm trở lại đây, lượng thép XK vào Hoa Kỳ cũng đang có xu hướng giảm, năm 2016 XK gần 1 triệu tấn nhưng đến 2017 giảm xuống chỉ còn 500 ngàn tấn (tổng XK thép cả nước năm 2017 đạt 4,7 triệu tấn). Do vậy, trong ngắn hạn, nếu mất thị trường Mỹ thì về cơ bản các DN XK thép của Việt Nam cũng sẽ không gặp khó khăn nhiều vì lực cầu nội địa và nội khối ASEAN vẫn mang lại dư địa tăng trưởng khả quan.

Nhận định về tiềm năng XK của ngành thép vào thị trường Mỹ trong thời gian tới, các chuyên gia cho rằng, tình hình là khá khả quan vì các DN Việt Nam đang từng bước chủ động được nguồn nguyên liệu. Nếu như trước đây các DN XK thép cán nguội và tôn mạ vào thị trường Mỹ phải phụ thuộc hoàn toàn vào nguyên liệu NK từ Trung Quốc do ngành sản xuất nội địa không có khả năng cung ứng thép cán nóng (Đây chính là lý do các nhà máy tôn mạ Việt Nam nằm trong danh sách xem xét áp thuế của Mỹ). Tuy nhiên, sang năm 2017, ngành thép nội địa Việt Nam đã sản xuất gần 10 triệu tấn thép thô và gần 1,3 triệu tấn thép cán nóng HRC, đều là những sản phẩm phù hợp quy định về xuất xứ của Mỹ. Từ năm 2018 trở đi, năng lực sản xuất thép cuộn cán nóng của Việt Nam dự kiến sẽ đủ để tạo nên C/O (giấy chứng nhận xuất xứ, nguồn gốc hàng hóa) do có nhiều dự án mới của các DN đi vào hoạt động.

XI MĂNG

Tiêu thụ xi măng trong nước giảm mạnh


Vụ Vật liệu Xây dựng (Bộ Xây dựng) cho biết, ước sản phẩm xi măng tiêu thụ cả ở thị trường nội địa và xuất khẩu trong tháng 3/2018 đạt khoảng 7,96 triệu tấn, tăng 0,34 triệu tấn so với tháng liền kề trước đó. Tuy nhiên, sản lượng tiêu thụ sản phẩm xi măng hết tháng 3 chỉ tương đương so với cùng kỳ năm 2017 và đạt 25% kế hoạch năm 2018.

Điều đáng lưu ý là tiêu thụ có diễn biến trái chiều, trong khi sản lượng tiêu thụ sản phẩm xi măng ở thị trường nội địa giảm thì thị trường xuất khẩu vẫn giữ được đà tăng trưởng.

Cụ thể, ước sản lượng sản phẩm xi măng tiêu thụ tại thị trường nội địa tháng 3/2018 đạt khoảng 5,56 triệu tấn, tuy vẫn tăng 0,54 triệu tấn so với tháng trước đó nhưng lại giảm 11% với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, riêng Tổng Công ty công nghiệp xi măng Việt Nam (Vicem) tiêu thụ tháng 3/2018 ước đạt khoảng 2,1 triệu tấn.

Chiều ngược lại, sản lượng xuất khẩu sản phẩm xi măng tháng 3/2018 ước đạt khoảng 2,4 triệu tấn, tăng 30% so với cùng kỳ năm 2017; tính chung xuất khẩu sản phẩm xi măng trong Quý I/2018 ước đạt khoảng 7,51 triệu tấn, tăng 28 % so với cùng kỳ.

Lũy kế, ước tiêu thụ sản phẩm xi măng trong 3 tháng đầu năm 2018 đạt  khoảng 20,97 triệu tấn, tăng 15 % so với cùng kỳ.

Các chuyên gia trong lĩnh vực vật liệu xây dựng cho rằng, sở dĩ có những diễn biến trái chiều trên thị trường tiêu thụ sản phẩm xi măng ở thị trường nội địa và xuất khẩu vì thị trường tiêu thụ nội địa vẫn còn ảnh hưởng của Tết nguyên đán Mậu Tuất trong khi đó xuất khẩu sản phẩm xi măng vẫn giữ được đà tăng trưởng trong tháng 2 do Trung Quốc đang dừng sản xuất.

Về giá bán, trong tháng 3 giá xi măng nhìn chung vẫn ổn định như các tháng trước đó. Theo báo cáo của Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính), giá xi măng tại nhà máy Tổng Công ty Công nghiệp Xi măng Việt đứng ở mức khoảng từ 850.000 – 1.615.000 đồng/tấn (đã có VAT). Còn theo báo cáo của các tỉnh, thành phố, giá bán lẻ ximăng phổ biến từ 950.000 - 1.450.000 đồng/tấn tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung, tại các tỉnh miền Nam phổ biến từ 1.260.000 - 1.750.000 đồng/tấn.

Giá xi măng xuất khẩu tại Hòn Gai tháng 03/2018 ổn định so với tháng 2/2018 ở mức 46,5 USD/tấn; giá clinker xuất khẩu ở mức 30 USD/tấn FOB Cẩm Phả.

XĂNG DẦU

Giá xăng dầu tháng 3: cả 2 lần điều chỉnh đều giữ nguyên giá


Tại kỳ điều chỉnh ngày 8/3, Liên Bộ Công Thương - Tài chính đã quyết định chi quỹ bình ổn giá xăng với mức 704 đồng/lít với xăng E5; dầu diesel 92 đồng/lít; dầu hỏa 453 đồng/lít, dầu mazut 52 đồng/kg.

Theo thông báo cho biết, từ 15h cùng ngày, giá các mặt hàng xăng dầu giữ nguyên ở mức 18.340 đồng một lít với xăng E5 RON92; Dầu diesel 0.05S không cao hơn 15.716 đồng/lít; Dầu hỏa: không cao hơn 14.560 đồng/lít còn dầu mazut 180CST 3.5S: không cao hơn 12.528 đồng/kg.

Qua theo dõi, giám sát, giá xăng RON95 trên thị trường thế giới kỳ điều hành này tăng so với kỳ trước (kỳ trước bình quân là 75,897 USD/thùng, kỳ này bình quân là 76,187 USD/thùng). Liên Bộ Công Thương - Tài chính đề nghị các thương nhân chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu ở mức 80 đồng/lít xăng RON95 và giữ ổn định giá bán xăng RON95 như hiện hành.

Tại kỳ điều chỉnh lần thứ 2 trong tháng, vào ngày 23/3, Liên Bộ Tài chính - Bộ Công thương cũng đã quyết định không tăng giá xăng, dầu.

Theo đó, kể từ 15h chiều, giá xăng E5 RON92 không cao hơn 18.340 đồng/lít; Dầu diesel không cao hơn 15.716 đồng/lít; Dầu hỏa không cao hơn 14.560 đồng/lít; Dầu mazut không cao hơn 12.528 đồng/kg. Còn giá xăng RON95 hiện nay đang phổ biến ở mức 20.180 đồng/lít.

Liên Bộ Công Thương - Tài chính quyết định giữ nguyên mức trích lập Quỹ Bình ổn giá xăng dầu đối với các mặt hàng xăng dầu như hiện hành.Chi sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu với xăng E5 RON92 là 669 đồng/lít (kỳ trước chi sử dụng 704 đồng/lít); Dầu diesel 177 đồng/lít (kỳ trước chi sử dụng 92 đồng/lít); Dầu hỏa 34 đồng/lít (kỳ trước chi sử dụng 453 đồng/lít); Dầu mazut 96 đồng/kg (kỳ trước chi sử dụng 52 đồng/kg);

Sau khi thực hiện trích lập và chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu như trên, giữ ổn định giá bán các mặt hàng xăng dầu.

Qua theo dõi, giám sát, giá xăng RON95 trên thị trường thế giới bình quân kỳ điều hành là 76,183 USD/thùng (giảm 0,004 USD/thùng), tuy nhiên tỷ giá ngoại tệ để tính giá CIF và tỷ giá ngoại tệ tính thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt kỳ này đều tăng 0,1% so với kỳ trước nên giá bán xăng RON95 trên thị trường kỳ này tăng so với kỳ trước.

Liên Bộ Công Thương - Tài chính đề nghị các thương nhân chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu ở mức 92 đồng/lít xăng RON95 và giữ ổn định giá bán xăng RON95 như hiện hành.

Về tình hình nhập khẩu mặt hàng được coi là “quan trọng” có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế, cho đến hiện tại Việt Nam đang nhập xăng dầu nhiều nhất từ Malaysia. Malaysia đang "soán" ngôi của Singapore, Hàn Quốc, trở thành nước cung cấp xăng dầu nhiều nhất cho Việt Nam với trị giá 415 triệu USD trong 2 tháng.

Trong một diễn biến khác, Việt Nam vừa chính thức ký kết Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) vào ngày 9/3/2018. Trong 11 nước tham gia CPTPP có Singapore  Malaysia – hai nước mà Việt Nam đang nhập khẩu xăng dầu nhiều nhất.

Theo cam kết từ CPTPP, các nước thành viên sẽ tiến tới việc cắt giảm thuế suất bằng 0% trong vòng 7 năm. Điều này sẽ mở ra cơ hội nhập khẩu xăng dầu với mức giá rẻ hơn trước.

Tuy nhiên, thuế nhập khẩu giảm có kéo giá xăng dầu trong nước giảm theo? Khó có thể đưa ra câu trả lời chính xác, nhất là trong bối cảnh Bộ Tài chính vừa đưa ra lấy ý kiến việc tăng thuế môi trường lên kịch khung 4.000 đồng/lít.

GAS

Giá gas tiếp tục giảm từ đầu tháng 3


Theo thông báo phát đi của một số doanh nghiệp kinh doanh đầu mối tại TP.HCM, kể từ sáng 1-3, giá gas bán lẻ tiếp tục được điều chỉnh giảm 1.083 đồng/kg (giá đã bao gồm VAT), tương đương 13 nghìn đồng/bình 12 kg so với giá tháng trước đó.

Với mức điều chỉnh trên, giá bán lẻ gas ra thị trường kể từ đầu tháng 3 sẽ là 317 nghìn đồng/bình 12 kg.

Theo đại diện Saigon Petro, việc giá gas bán lẻ tiếp tục giảm trong tháng 3 là do giá giao dịch gas thế giới bình quân tháng 3/2018 giảm 42,5 USD/tấn so với tháng trước đó, xuống còn 472,5 USD/tấn.

Như vậy, đây là lần giảm thứ 2 liên tiếp của mặt hàng gas, kể từ đầu năm 2018 đến nay.

Ở tháng trước, giá gas bán lẻ cũng điều chỉnh giảm 20 nghìn đồng/bình 12 kg. Nguyên nhân chủ yếu là do giá nhập khẩu giảm. 

Ô TÔ

Lượng ôtô nguyên chiếc nhập khẩu trong tháng 3/2018 ước tính tăng gấp 25 lần so với tháng trước



"Cơn khát" xe nhập khẩu đã được giải tỏa phần nào kể từ tháng 3. Theo nhận định của một số nhà kinh doanh ô tô, nhiều khả năng kim ngạch nhập khẩu ôtô nguyên chiếc tháng 3/2018 là cú nhảy vọt cả về lượng lẫn giá trị so với tháng liền trước.

Cụ thể, theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, lượng ôtô nguyên chiếc (CBU) nhập khẩu về nước trong tháng 3 ước đạt khoảng 5.000 chiếc, trong khi giá trị kim ngạch đạt 115 triệu USD.

Con số này cách rất xa so với con số thực hiện đã được thống kê đầy đủ của tháng 2 khi chỉ có vẻn vẹn 200 chiếc về lượng (thấp hơn đến 25 lần) và 14 triệu USD về giá trị (thấp hơn 8,2 lần).

Không có lý giải nào thuyết phục hơn cho cú nhảy vọt này ngoài cuộc đổ bộ của ôtô nhập khẩu mang xuất xứ từ các nước nội khối ASEAN. Sau khi Bộ Giao thông Vận tải chấp thuận giấy chứng nhận chất lượng kiểu loại ôtô (VTA) do Chính phủ Thái Lan và Indonesia cung cấp, các doanh nghiệp đã bắt đầu tiến hành nhập khẩu những lô xe đầu tiên để hưởng thuế suất 0%. Mặc dù thời gian hoàn thành thủ tục theo quy định tại Nghị định 116 của Chính phủ chưa lâu song ngay đầu tháng 3/2018, những lô xe đầu tiên đã cập cảng.

Đáng chú ý, đây cũng mới chỉ là khởi đầu cho một cuộc đổ bộ của ôtô ASEAN. Dự tính bắt đầu từ tháng 4/2018, ôtô xuất xứ Thái Lan và Indonesia mới thực sự tràn vào thị trường Việt Nam với quy mô lớn. Do đó, chắc chắn kim ngạch nhập khẩu ôtô CBU nói chung vào các tháng tới đây sẽ còn tăng mạnh.

Như vậy, khoảng 1-2 tháng nữa, người tiêu dùng sẽ có thêm những lựa chọn xe nhập khẩu, hưởng thuế suất 0%, bên cạnh những chiếc xe lắp ráp trên thị trường và có thể hưởng lợi từ giá bán xe tốt hơn. 

Cũng theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, tổng kim ngạch nhập khẩu ôtô CBU cộng dồn quý 1/2018 ước đạt 5.600 chiếc và 150 triệu USD, thu hẹp tỷ lệ sụt giảm so với cùng kỳ năm ngoái xuống còn 88,9% về lượng và 69,4% về giá trị.

THỦY SẢN 

Giá cá tra chạm mức kỷ lục


Ngày 1.3, khảo sát tại các địa phương ĐBSCL cho thấy, giá cá tra đã tăng kỷ lục trên 30.000 đồng/kg, tăng khoảng 3.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm ngoái. Đây được xem là mức giá rất cao trong nhiều năm qua, giúp người nuôi lãi đậm.

Theo các doanh nghiệp thủy sản, việc giá cá tra tăng cao là do cá nguyên liệu đang khan hiếm. Do nhu cầu xuất khẩu đang cao, nên nhiều doanh nghiệp đã tăng giá mua và tìm đến nhiều vùng nuôi nhưng vẫn phải chịu cảnh thiếu hụt nguồn nguyên liệu.

Hiện giá cá tra nguyên liệu tăng khiến giá cá tra giống cũng tăng theo, ở mức 45.000 đồng đến 50.000 đồng/kg (thời điểm giữa năm 2017 giá cá tra giống chỉ 17.000 đồng – 18.000 đồng/kg).

Xuất khẩu cá tra của Việt Nam trong tháng 3 có thể nói đã phải đón nhận một tin “SỐC” gây nhiều bất lợi. Ngày 17-3, nguồn tin của Pháp Luật TP.HCM tại Mỹ cho biết Bộ Thương mại Mỹ (DOC) đã ra quyết định cuối cùng của kỳ xem xét hành chính lần thứ 13 (POR 13) thuế chống bán phá giá cá tra phi lê đông lạnh nhập khẩu từ Việt Nam (giai đoạn từ 1-8-2015 đến 31-7-2016) với mức thuế tăng cao nhất từ trước đến nay.

Cụ thể, theo quyết định cuối cùng này của Mỹ, có 9 doanh nghiệp nằm trong nhóm được hưởng mức thuế riêng biệt phải chịu thuế chống bán phá giá vào Mỹ với mức dao động từ 3,87 USD/kg.

Theo các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra thuộc nhóm này, mức thuế quyết định cuối cùng của Mỹ cao gấp 1,6 lần so với mức thuế mà Mỹ đưa ra trong quyết định sơ bộ POR13 hồi tháng 9-2017, cao gấp 4,9 lần so với mức thuế suất riêng lẻ trong kỳ xem xét hành chính lần thứ 12 (POR12) trước đó.

Chưa dừng lại ở đó, mức thuế chống bán phá giá còn được Mỹ áp cao ngất ngưỡng đối với hai doanh nghiệp xuất khẩu cá tra Việt Nam là Cadovimex II Seafoods và Hoang Long Seafoods lên tới 7,74 USD/kg. Đây là mức thuế cao nhất từ trước đến giờ, chưa từng xảy ra trong việc Mỹ áp thuế chống bán phá giá cho Việt Nam.

Mức thuế 7,74 USD/kg cao 3,2 lần so với mức thuế mà Mỹ đưa ra trong quyết định sơ bộ POR13 trước đó, cao gấp 9,7 lần so với mức thuế kỳ POR12 trước đó mà cá tra Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ phải chịu.

 “Đây là mức thuế cao nhất khủng khiếp đối với con cá tra Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ. Với mức thuế này thì coi như cá tra Việt Nam hết đường xuất khẩu sang Mỹ vì hiện tại giá xuất khẩu cá tra sang thị trường này đã là 4-5 USD/kg, xuất để làm gì nữa”, đại diện một DN cá tra phải thốt lên như vậy.

Đại diện phía hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (Vasep), ông Trương Đình Hòe, Tổng thư ký cho biết trải qua 13 kỳ xem xét hành chính trong vụ kiện CBPG thì đây là lần đầu tiên DOC đã có những điều chỉnh hoàn toàn thiếu cơ sở pháp lý và bỏ qua các quy định thông thường từ trước đến nay khi đưa ra quyết định sơ bộ vừa qua. Hiệp hội VASEP thay mặt cho các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu cá tra Việt Nam phản đối quyết định thiếu công bằng của DOC trong quyết định của kỳ xem xét hành chính lần thứ 13 vừa được công bố.

Giá tôm cao vẫn bất an


Từ cận và sau Tết nguyên đán 2018 đến nay, giá tôm ở Cà Mau và Bạc Liêu "nhảy múa" liên tục. Trước Tết, giá tôm nguyên liệu bất ngờ giảm 10.000-20.000 đồng/kg. Sau Tết, giá mặt hàng lại tăng từ vài ngàn đến 10.000 đồng/kg.

Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Cà Mau (CASEP), trong tháng 3 tại Cà Mau và Bạc Liêu, giá tôm sú loại 30 con/kg  trung bình là 220.000 - 225.000 đồng/kg, loại 40 con 195.000 - 200.000 đồng/kg. Giá tôm thẻ ướp đá cỡ 100 con/kg là 102.000 đồng/kg, tôm thẻ ôxy 104.000 đồng/kg. Nhìn chung, giá tôm ở đây tăng khoảng 10.000 đồng/kg so với vài tháng trước.

Nguyên nhân giá tôm tăng chủ yếu là do thị trường khan hiếm vì phần lớn người nuôi mới bắt đầu vào vụ mới. Riêng tôm thẻ chân trắng đang được thị trường Trung Quốc hút hàng nên càng khan hiếm. Tuy nhiên, việc thương lái Trung Quốc lùng mua tôm mà không xem xét về dư lượng hóa chất khiến người nuôi chủ quan, lơ là nuôi tôm sạch.

Ông Võ Hồng Ngoãn - người nuôi tôm lâu năm ở xã Vĩnh Trạch Đông, TP Bạc Liêu - nhận định: "Trước Tết, tôm giảm giá đột ngột có thể do cơ quan quản lý Trung Quốc tập trung xử lý việc trốn thuế qua biên mậu khiến thương lái ngưng thua mua. Bình thường thương lái Trung Quốc mua tôm cỡ lớn giá rất cao khiến các DN chế biến trong nước không thể cạnh tranh. Khi thương lái ngưng mua, giá giảm mạnh làm người nuôi hoang mang và nghĩ DN chế biến ép giá".

Mặt khác, theo một số doanh nhân ngành xuất khẩu tôm, năm 2018, con tôm sẽ gặp thách thức lớn trên thương trường quốc tế. Đó là sự đòi hỏi ngày càng nghiêm ngặt hơn về vệ sinh an toàn thực phẩm. Theo đó, quy định về sự minh bạch và truy xuất nguồn gốc từng gói hàng sẽ chặt chẽ hơn. "Điều lo nhất là hiện có đến 90% tôm nuôi trong điều kiện nhỏ lẻ, manh mún, khó kiểm soát chất lượng. Do vậy, giải pháp cấp thiết là dồn điền để tạo ra các trang trại nuôi tôm lớn hoặc hợp tác hóa" - một doanh nhân chế biến thủy sản đề xuất.

Các chuyên gia dự báo nếu thời tiết tốt, chắc chắn sản lượng tôm nuôi 2018 sẽ tăng mạnh. Tuy nhiên, năm 2018, sản lượng tôm toàn thế giới cũng có thể sẽ tăng mạnh. Nếu tất cả dự báo đúng, người nuôi tôm có thể phải đứng trước nguy cơ trúng mùa rớt giá.

LÚA GẠO

Xuất khẩu gạo quý I/2018: Tăng trưởng ấn tượng


Theo thông tin từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong quý 1/2018, cả nước xuất khẩu ước đạt 1,36 triệu tấn gạo với giá trị đạt 669 triệu USD, tăng 9,4% về khối lượng và tăng 24% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. Đây được xem mức tăng trưởng ấn tượng nhất của ngành gạo Việt Nam trong vài năm gần đây.

Về thị trường, Trung Quốc vẫn tiếp tục đứng vị trí thứ nhất về thị trường nhập khẩu gạo của Việt Nam trong 2 tháng đầu năm với 24,4% thị phần. Tuy nhiên, khối lượng xuất khẩu gạo sang thị trường này trong 2 tháng đầu năm đã giảm 18,7% xuống còn 196.200 tấn. Còn các thị trường có giá trị xuất khẩu gạo tăng mạnh là Iraq (gấp 5,7 lần), Malaysia (gấp 2,7 lần), Gana (gấp 2,05 lần), Hồng Kông (73,5%) và Singapore (33,9%).

Theo ông Nguyễn Ngọc Nam - Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) và nhiều doanh nghiệp, sở dĩ xuất khẩu gạo của Việt Nam trong quý 1/2018 tăng mạnh là do lượng phiếu đăng ký xuất khẩu từ năm 2017 chuyển qua còn nhiều.

Tính đến cuối năm 2017, còn khoảng 630.000 tấn gạo đã đăng ký xuất khẩu được chuyển sang năm 2018. Đây là một trong những yếu tố quan trọng tạo đà cho xuất khẩu gạo sôi động ngay đầu năm nay. Bên cạnh đó, nhiều nước nhập khẩu gạo có nhu cầu ngay từ đầu năm trong khi nguồn cung gạo của các nước xuất khẩu lại hạn chế đã khiến thị trường trở nên nhộn nhịp hơn trong quý 1 so với cùng kỳ.

Ông Phạm Thái Bình, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Nông nghiệp công nghệ cao Trung An (Cần Thơ) cho biết mặc dù đến thời điểm này thu hoạch vụ Đông Xuân chưa nhiều, nhưng rõ ràng mức độ xuất khẩu gạo của Việt Nam đã đạt những con số khá ấn tượng trong quý 1/2018.

Đáng chú ý, giá trị gạo xuất khẩu Việt Nam đang đi đúng hướng, theo hướng phân khúc gạo chất lượng cao. Trong 3 tháng đầu năm nay, hầu hết các chủng loại gạo xuất khẩu đều có giá bán tăng cao so với năm trước đó. Nhiều loại gạo thơm, nếp, gạo chất lượng cao có giá trị tăng rất cao, có loại tăng đến 30%. Thậm chí, một số chủng loại gạo có giá bán cao hơn so với gạo Thái Lan cùng loại và hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu của các nước nhập khẩu.

Mặc dù thị trường có nhiều khởi sắc trong quý 1/2018, tuy nhiên, theo đánh giá của một số doanh nghiệp chế biến xuất khẩu gạo, lượng hợp đồng thương mại đăng ký xuất khẩu mới của doanh nghiệp lại không nhiều. Nguyên nhân chính của tình trạng này là do giá lúa gạo nội địa tăng quá cao khiến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp kém hiệu quả.

Ông Nguyễn Thanh Long, Giám đốc điều hành Công ty trách nhiệm hữu hạn Gạo Việt (Thành phố Hồ Chí Minh) cho hay trong 3 tháng đầu năm 2018, lượng gạo xuất khẩu của doanh nghiệp chỉ ước đạt 75% so với cùng kỳ năm 2017. Mặc dù xuất khẩu gạo năm nay có giá bán tốt hơn nhưng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp cũng không cao, do giá nguyên liệu tăng cao.

CÀ PHÊ

Thị trường cà phê có tín hiệu lạc quan trở lại


Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương) cho biết, thời tiết hiện nay khá thuận lợi đối với người trồng cà phê tại tỉnh Gia Lai và tỉnh Lâm Đồng. Mặc dù chưa chính thức vào mùa mưa, nhưng theo kinh nghiệm của người trồng cà phê, các trận mưa trên Tây Nguyên sẽ kích thêm mưa tại nhiều vùng khác nhau. Theo đó, niên vụ cà phê 2017/2018 được dự báo sẽ tốt cả về sản lượng và chất lượng, đồng thời giúp người nông dân tiết kiệm chi phí.

Theo Hiệp hội cà phê Buôn Ma Thuột, ước lượng xuất khẩu cà phê của tỉnh Đắk Lắk trong niên vụ 2017/2018 sẽ chỉ đạt từ 30 - 40%. Trước đó, do nhu cầu tiêu thụ vào dịp Tết Nguyên đán tăng mạnh, tồn kho hiện chỉ còn 50% và người dân chỉ bán cầm chừng cho đến hết niên vụ. Hiện lượng mua xuất khẩu không tăng mạnh, chủ yếu giao về các kho chế biến nằm gần cảng xuất khẩu.

Giá cà phê trong nước trong 10 ngày giữa tháng 3/2018 giảm theo giá cà phê toàn cầu. Tại tỉnh Lâm Đồng, giá cà phê giảm từ 0,8 – 1,3%, xuống còn 36.600 – 36.700 VNĐ/kg. Tại tỉnh Đắk Lắk, giá cà phê giảm từ 1,1 – 1,3%, xuống còn 36.800 – 36.900 VNĐ/kg.

Đến thời điểm cuối tháng 3/2018, giá cà phê nhân xô tại Đắk Lắk đứng ở mức 36.800 VNĐ/kg, tại Gia Lai là 37.000 VNĐ/kg và tại Lâm Đồng là 36.200 VNĐ/kg.

Theo Tổng cục Hải quan, xuất khẩu cà phê trong 15 ngày đầu tháng 3/2018 đạt 95,2 nghìn tấn, trị giá 183,74 triệu USD, tăng 4,4% về lượng và tăng 5% về trị giá so với cùng kỳ tháng trước, tăng 18,3% về lượng và tăng 0,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017. Tính từ đầu năm đến giữa tháng 3/2018, xuất khẩu cà phê đạt 424,9 nghìn tấn, trị giá 825 triệu USD, tăng 16,2% về lượng, nhưng giảm 0,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

Giá xuất khẩu bình quân mặt hàng cà phê trong nửa đầu tháng 3/2018 ở mức 1.929,9 USD/tấn, tăng 0,6% so với cùng kỳ tháng trước, giảm 14,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Tính từ đầu năm đến nửa đầu tháng 3/2018, giá xuất khẩu bình quân cà phê đạt 1.941,6 USD/tấn, giảm 14,3% so với cùng kỳ năm ngoái.

Còn trong báo cáo mới nhất của Bộ NN & PTNT, xuất khẩu cà phê tháng 3 năm 2018 ước đạt 190 nghìn tấn với giá trị đạt 367 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu cà phê 3 tháng đầu năm ước đạt 520 nghìn tấn và 1 tỷ USD, tăng 15,1% về khối lượng nhưng giảm 1,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017.

HẠT TIÊU


Theo báo cáo của ngành NN&PTNT Việt Nam, khối lượng tiêu xuất khẩu tháng 3/2018 ước đạt 24 nghìn tấn, với giá trị đạt 88 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu tiêu 3 tháng đầu năm 2018 ước đạt 54 nghìn tấn và 203 triệu USD, tăng 5,5% về khối lượng nhưng giảm 37,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. Giá tiêu xuất khẩu bình quân 2 tháng đầu năm 2018 đạt 3.822 USD/tấn, giảm 44,7% so với cùng kỳ năm 2017.

Giá hồ tiêu nguyên liệu trong nước tính đến cuối tháng 3 cũng giảm tới 17.000 – 19.000 đồng/kg so với cuối năm 2017. Cụ thể, ngày 29/3 giá hồ tiêu tại Đăk Lăk ngày 30/3 đứng ở mức 50.000 vnđ/kg, tại Bà Rịa – Vũng Tàu là 56.000vnd/kg và Đồng Nai là 54.000 vnđ/kg.

Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA) đã ước báo năng suất hồ tiêu năm nay giảm mạnh, có thể lên tới 30% do thời tiết không thuận lợi và nhiều diện tích trồng tiêu bị sâu bệnh các loại làm mất trắng hoặc cho thu hoạch không đáng kể.

CAO SU

Tháng 3/2018, Việt Nam xuất khẩu 86 nghìn tấn cao su, giá trị đạt 130 triệu USD


Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, khối lượng xuất khẩu cao su tháng 3/2018 ước đạt 86 nghìn tấn với giá trị đạt 130 triệu USD. Với ước tính này, khối lượng xuất khẩu cao su 3 tháng đầu năm 2018 của Việt Nam đạt 272 nghìn tấn và 403 triệu USD, tăng 8,9% về khối lượng nhưng giảm 20,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017.

Giá cao su xuất khẩu bình quân 2 tháng đầu năm 2018 đạt 1.471 USD/tấn, giảm 27,3% so với cùng kỳ năm 2017.

Trung Quốc, Ấn Độ, và Malaysia là 3 thị trường tiêu thụ cao su lớn nhất của Việt Nam trong 2 tháng đầu năm 2018, chiếm thị phần lần lượt 53,4%, 8,4% và 6,9%. Các thị trường có giá trị xuất khẩu cao su trong 2 tháng đầu năm 2018 tăng mạnh là Ấn Độ (gấp 3,8 lần), Malaysia (29%) và Indonesia (18,1%).

Ở chiều ngược lại, khối lượng nhập khẩu cao su trong tháng 3/2018 đạt 62 nghìn tấn với giá trị đạt 113 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị cao su nhập khẩu 3 tháng đầu năm đạt 157 nghìn tấn với giá trị 279 triệu USD, tăng 29,3% về khối lượng và tăng 5,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017.

Bốn thị trường nhập khẩu cao su chủ yếu trong 2 tháng đầu năm 2018 là Hàn Quốc, Campuchia, Nhật Bản và Thái Lan chiếm 53,7% thị phần. Trong 2 tháng đầu năm 2018, giá trị cao su ở một số thị trường nhập khẩu chính giảm. Trong đó, thị trường có giá trị nhập khẩu giảm mạnh nhất là thị trường Nga với mức giảm là 38,4%, tiếp đến là thị trường Capuchia (-26,2%) và thị trường Nhật Bản (-20,8%). Ngược lại, một số thị trường có giá trị nhập khẩu tăng. Trong đó, thị trường có giá trị nhập khẩu trưởng mạnh nhất so với cùng kỳ năm 2017 là Malaixia (gấp hơn 2 lần), Trung Quốc ( 52,3%) và Thái Lan ( 17%).

HẠT ĐIỀU

Nguồn cung hạn chế đẩy giá điều trong nước tăng cao


Theo Cục Xuất nhập khẩu Bộ Công Thương, tại tỉnh Bình Phước, vụ mùa thu hoạch hạt điều đã bắt đầu ngay sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán. Mặc dù vụ thu hoạch đến muộn hơn so với mọi năm, nhưng người trồng điều đang kỳ vọng năng suất sẽ cao hơn nhờ thời tiết thuận lợi và giá hạt điều cũng ở mức cao để bù đắp cho hai vụ trước mất mùa nặng.

Giá hạt điều khô mua xô dao động quanh mức 40.000 – 45.000 đồng/kg. Giá hạt điều nhân cỡ vừa tại Bình Phước tăng 30.000 đồng/kg so với tháng trước, hiện ở mức 280.000 đồng/kg; giá hạt điều cỡ trung từ 300 – 320 hạt một pound (454 gram) tăng 20.000 đồng/kg, lên mức 260.000 đồng/kg.
Dự báo thời gian tới, giá hạt điều sẽ biến động theo xu hướng tăng do nguồn cung hạn chế vào thời điểm giáp hạt, trong khi nhu cầu thu mua nguyên liệu xuất khẩu lớn.

Giá hạt điều thế giới đầu tháng 3/2018 biến động không đồng nhất, tăng/giảm tùy chủng loại. Tại Ấn Độ, giá hạt điều loại WW240 và WW320 giảm lần lượt 1,4% và 0,9%, xuống còn 895 Rs/kg và 807,5 Rs/kg. Trong khi đó, giá hạt điều loại WW210 tăng 0,5%, lên mức 985 Rs/kg. Giá hạt điều loại WW180 giữ ổn định ở mức 1.087,5 Rs/kg. Tại Việt Nam, giá hạt điều LWP, WW320 và W450 ổn định ở mức 3,7 USD/lb, 4,7 USD/lb và 4,475 USD/lb

(TTGCVT /T.Hiền tổng hợp) 

 

Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (024) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (024) 39762593 
Email: ttgcvattu@yahoo.com