Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Thị trường hàng hóa nguyên liệu trong nước tháng 1 - 2/2018
Cập nhật: 1-3-2018

VÀNG

Giá vàng hai tháng đầu năm sôi động, có nhiều phiên vượt mốc 37 triệu đồng/lượng


Nhìn lại năm 2017, thị trường vàng thế giới có nhiều thời điểm biến động mạnh về giá nhưng thị trường vàng trong nước vẫn ảm đạm gần như suốt năm cho dù cũng có lúc đi theo xu hướng của thế giới nhưng không đáng kể. Bước sang năm 2018, trước những biến động tiềm ẩn của chính trị thế giới, giá vàng được dự báo có nhiều khả năng tăng cao hơn so với năm 2017. 

Trong tháng 1/2018, nhìn chung giá vàng diễn biến ổn định quanh mức giá 36,3 – 36,7 triệu đồng mỗi lượng. Vào trung tuần tháng 1 (15/1), giá vàng đã gây bất ngờ với nhiều nhà đầu tư khi giá đã vụt tăng lên mốc 37 triệu đồng mỗi lượng. Tuy nhiên, trái với kỳ vọng sẽ tiếp tục tăng, chỉ ngay phiên tiếp theo đó, giá vàng lại liên tục sụt giảm. Theo Doji, xu hướng giằng co chưa tạo đà kích thích nhu cầu của giới đầu tư. Do quan ngại rủi ro trước các thông tin đa chiều từ thị trường thế giới đã tác động phần lớn tới tâm lý người yêu mến quý kim vàng trong nước. Trong nhiều phiên, số lượng khách theo chiều bán vàng ra chiếm chủ đạo tới 65% trên tổng số lượng giao dịch.

Thời điểm gần cuối tháng 1, tiếp đà hậu thuẫn từ giá vàng thế giới, giá vàng trong nước đã có những bước tiến khá vững chắc khi lại vượt lên trên ngưỡng 37 triệu đồng – mức cao nhất trong 4 tháng đã qua. Khoảng cách giữa hai thị trường trong nước và quốc tế ngày càng thu hẹp: trên 100 nghìn đồng mỗi lượng (chưa bao gồm phí và thuế). Với diễn biến này, nhịp mua bán trong các phiên khá hài hòa khi nhu cầu giao dịch được nhà đầu tư chú trọng ở cả hai chiều mua bán.

Bước sang tháng 2/2018, nhìn chung giá vàng trong nước diễn biến tích cực hơn nhờ nhu cầu mua vàng vật chất gia tăng và nhiều nhà đầu tư vàng đang nhắm tới các sản phẩm cho ngày Vía Thần Tài (ngày 25-2 tức mùng 10 Tết). Đúng thời điểm mở cửa sáng sớm ngày 25/2, giá vàng ghi nhận mức cao nhất trong tháng ở mức 36,80 triệu đồng/lượng (mua vào) - 37,50 triệu đồng/lượng (bán ra). Không khí giao dịch tại các cửa hàng vàng trở nên nhộn nhịp – điều thường thấy trong nhiều năm trở lại đây với quan điểm mua vàng vào ngày này, cả năm sẽ gặp may mắn, làm ăn suôn sẻ. Những phiên cuối cùng của tháng 2, ngay sau ngày vía Thần Tài, giá vàng có xu hướng giảm nhiệt dần, thị trường vàng trở lại trạng thái trầm lắng thường nhật trước đó. Ngày 28/2 – ngày cuối cùng của tháng 2, giá vàng SJC đứng trụ ở mức 36,8 triệu đồng mỗi lượng.

ĐÔ LA

Tỷ giá trung tâm biến động, giá USD tại ngân hàng nhìn chung ổn định

Thời điểm hai tháng đầu năm 2018 cũng là thời điểm sát Tết nguyên đán. Với khoảng thời gian này, thông thường tỷ giá đồng USD thường tăng mạnh do nhu cầu nhập khẩu hàng hóa tăng cao của doanh nghiệp phục vụ cho dịp Lễ tết và các biến động không ngừng của thị trường tài chính thế giới.  Tuy nhiên khác với nhiều năm trước, trong tháng 1 và tháng 2/2018, tỷ giá trung tâm hầu như không có trạng thái tăng nóng, mặc dù có nhiều phiên, tỷ giá trung tâm đã được điều chỉnh tăng mạnh bởi độ nhạy cảm của đồng USD trước các thông tin tài chính thế giới.

Trái ngược với sự lên xuống của tỷ giá trung tâm, giá giao dịch đồng bạc xanh tại các NHTM, thường chỉ dao động trong khoảng từ 22.675 đồng (mua) và 22.745 đồng (bán).

Trong tháng 1, mức cao nhất của tỷ giá trung tâm là 22.441 đồng/USD – mức thấp nhất là 22.386. Và tháng 2, mức cao nhất là 22.463 đồng/USD – mức thấp nhất là 22.423 đồng/USD. Với mức tỷ giá trung tâm cao nhất 22.463 (sáng 28/2), giá mua bán USD tại các NHTM cũng biến động mạnh. Vietcombank và BIDV niêm yết ở mức: 22.715 đồng (mua) và 22.785 đồng (bán). Vietinbank: 22.712 đồng (mua) và 22.782 đồng (bán). Giá USD trên thị trường chợ đen đứng ở mức: 22.760 - 22.780 đồng/USD.

Một điểm đáng chú ý trong tháng 2/2018 là vào ngày 8-2, Ngân hàng  Nhà nước đã bất ngờ điều chỉnh mức giá mua vào - bán ra USD áp dụng cho các Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước. Theo đó, mức giá mua vào USD giảm 10 VND, xuống còn 22.700 VND; mức giá USD bán ra cũng giảm xuống 23.088 VND so với mức 23.098 VND trước đó, mức giá này vẫn dưới trần biên độ. Đây là lần thứ hai Ngân hàng Nhà nước giảm giá mua vào USD kể từ tháng 10/2017. Sau khi NHNN điều chỉnh giá mua - bán USD, tại các ngân hàng thương mại cũng đồng loạt điều chỉnh giảm mạnh tỷ giá VND/USD. Cụ thể, sáng 9-2, ngân hàng Vietcombank niêm yết giá USD ở mức 22.660 - 22.730 VND/USD (mua vào - bán ra), ngang giá hôm 8-2. Tại BIDV, giá đồng USD được ngân hàng này niêm yết ở mức 22.650 - 22.720 VND/USD (mua vào - bán ra), giảm 10 đồng so với hôm 8-2.

Một thông tin đáng mừng trong tháng đầu năm 2018, vào sáng ngày 6/2/2018, Thống đốc NHNN Việt Nam Lê Minh Hưng đã cho biết, đến thời điểm trên, tổng dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã lên tới con số xấp xỉ 57 tỷ USD. “Có được kết quả đó là nhờ sự kiên định nhất quán của NHNN trong điều hành các công cụ chính sách tiền tệ, đặc biệt là liên quan đến thị trường ngoại tệ, tỷ giá”, Thống đốc NHNN cho biết thêm.

THÉP

Tiêu thụ chậm, thị trường thép xây dựng tháng đầu năm khá ảm đạm 

 

Trong năm 2017, ngành thép Việt Nam đã chứng kiến sự tăng trưởng tốt nhờ vào các chỉ số tăng trưởng mạnh của GDP, ngành công nghiệp chế biến chế tạo, ngành xây dựng và sự hồi phục của ngành bất động sản, tạo tiền đề cho sự tăng trưởng trong năm 2018. Sản xuất các sản phẩm thép đạt hơn 22 triệu tấn năm 2017 tăng 23,5% so với năm trước đó; bán hàng sản phẩm thép các loại đạt 18,92 triệu tấn, tăng 20,7%. Trong đó, tăng mạnh nhất là tôn mạ và màu, ống thép và thép xây dựng, riêng CRC giảm nhẹ.

Năm 2017, ngành thép cũng đã đạt được kết quả trong việc giảm nhập khẩu và tăng xuất khẩu. Nhập khẩu nguyên liệu và sản phẩm thép năm 2017 ước tính đạt 19,918 triệu tấn, giảm 14,2%; trong đó, thép thành phẩm nhập khẩu đạt 14,985 triệu tấn, giảm 14,5%.

Bước sang năm 2018, theo Bộ Công Thương, do nhu cầu thấp, thị trường thép xây dựng trong nước tháng ​1 và tháng 2 năm 2018 khá ảm đạm. Thực tế chỉ các dự án cũ tiếp tục nhập thép để thi công, còn lại có rất ít dự án mới được khởi công. Trong khi đó, tại thị trường dân dụng, do là giai đoạn cuối năm âm lịch, nên nhu cầu tiêu thụ thép xây dựng trong dân cư thấp.

Cũng trong tháng 1/2018, giá trên thị trường thép xây dựng nội địa có diễn biến tương đối ổn định.

Giá thép tại các nhà máy sản xuất ở mức 11.400 – 14.200 đồng/kg. Giá bán lẻ tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung dao động ở mức 11.400 – 14.000 đồng/kg, tại các tỉnh miền Nam là 11.600 – 14.200 đồng/kg.

Bộ Công Thương cho biết, mặc dù giá vật tư nguyên liệu có xu hướng tăng nhưng do tiêu thụ chậm, sản lượng bán ra thấp hơn so với tháng trước nên các nhà sản xuất vẫn cố gắng giữ giá để cạnh tranh.

Dự báo toàn ngành thép năm 2018 sẽ tăng trưởng sản xuất khoảng 20-22% so với năm 2017. Trong đó, thép xây dựng tăng 10%, thép cuộn cán nóng 154%, thép lá cuộn cán nguội 5%, thép ống hàn 15%, tôn mạ vàng và sơn phủ màu 12%.

Trên bình diện xuất nhập khẩu, trong tháng 1/2018, theo thống kê của TCHQ, kim ngạch nhập khẩu sắt thép các loại trong nước đạt 1,16 triệu tấn, trị giá 809 triệu USD, tăng 5,1% về lượng và tăng 7,6% về trị giá so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước giảm 3,9% về lượng tuy nhiên tăng 24% về trị giá. Trong đó, sắt thép xuất xứ Trung Quốc đạt 304 triệu USD, giảm 9%; xuất xứ Hàn Quốc 139 triệu USD, tăng 32,7%; xuất xứ Nhật Bản 130 triệu USD, tăng 71,9% so với cùng kỳ năm trước; …Lũy kế đến 15/2, lượng sắt thép nhập khẩu đạt xấp xỉ 1,2 tỷ USD, cao hơn so với cùng kỳ năm 2017 (đạt 1,1 tỷ USD).

XI MĂNG

Ngay từ đầu năm 2018, giá xi măng đã giảm 17%

Với 17,3 triệu tấn xi măng, clinker được xuất khẩu đã đưa xi măng trở thành một trong những ngành xuất khẩu cán đích sớm trong năm 2017. Tuy nhiên, nhìn lại tiêu thụ nội địa, thị trường chính của ngành chỉ tăng khoảng 1%, một mức tăng rất thấp. Thị trường xi măng nội địa năm 2017 có thể gói gọn trong 2 từ "khá tối". Cả năm 2017, lượng xi măng tiêu thụ nội địa chỉ đạt hơn 60 triệu tấn.

Theo ông Nguyễn Quang Cung, Chủ tịch Hiệp hội Xi măng Việt Nam, kết quả xuất khẩu vượt chỉ tiêu của ngành xi măng trong năm 2017 rất đáng ghi nhận, bởi hơn một năm qua, doanh nghiệp phải chịu thuế xuất khẩu xi măng 5%, gây khó trong việc cạnh tranh với các đối tác trong khu vực.  

Ông Nguyễn Quang Cung cũng cho biết xuất khẩu xi măng, clinker trong năm 2018 dự báo sẽ tiếp tục thuận lợi, nhờ việc điều chỉnh chính sách sản xuất vật liệu xây dựng của Trung Quốc, còn trong nước là sự ủng hộ của Chính phủ, với quyết định đưa thuế xuất khẩu xi măng 0% từ 1/2/2018 và được hoàn thuế VAT tại Nghị định số 146/2017/NĐ-CP.

Bên cạnh việc Trung Quốc điều chỉnh chính sách, chúng ta đưa thuế xuất khẩu xi măng về 0% - động thái có lợi cho xuất khẩu xi măng, clinker Việt Nam đã giúp giá xuất khẩu tăng từ cuối năm 2017 và những ngày đầu tháng 1/2018, với mức tăng từ 5 - 7 USD/tấn.

Về giá cả, theo Tổng Công ty Công nghiệp xi măng Việt Nam, ước lượng sản xuất và tiêu thụ của toàn ngành xi măng 15 ngày đầu tháng 1/2018 ổn định so với cùng kì tháng trước. Sản lượng sản xuất đạt khoảng 3,5 triệu tấn, tiêu thụ đạt 3,1 triệu tấn. Giá xi măng giảm từ 10.000 – 170.000 đồng/tấn (tương ứng giảm từ 0,62 – 17%). Nguyên nhân do nhu cầu xuất khẩu giảm, lượng tồn kho tăng cao, các nhà máy đã vượt công suất sản xuất nên giảm được chi phí.

Theo báo cáo của Sở Tài chính các tỉnh, thành phố, giá bán lẻ xi măng có biến động giảm, tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung hiện phổ biến từ 0,95 – 1,45 triệu đồng/tấn, tại các tỉnh miền Nam là 1,26 – 1,75 triệu đồng/tấn.

Giá xi măng xuất khẩu tại Hòn Gai ổn định ở mức 46,5 USD/tấn, giá clinker xuất khẩu ở mức 30 USD/tấn FOB Cẩm Phả.

Với tình hình kinh tế cả nước vẫn còn nhiều khó khăn, tuy nhiên đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, giao thông, thủy lợi vẫn được Chính phủ quan tâm, thị trường BĐS có dấu hiệu phục hồi tích cực, nhu cầu xây dựng của người dân vẫn nhiều. Trên cơ sở dự kiến sản lượng xi măng tiêu thụ năm 2017, Bộ Xây dựng tính toán nhu cầu tiêu thụ xi măng toàn ngành năm 2018 khoảng 83 - 85 triệu tấn, tăng 4 - 6% so với năm 2017; trong đó tiêu thụ nội địa khoảng 66 - 67 triệu tấn, xuất khẩu 17 - 18 triệu tấn.

Trong khi đó, năm 2017 có 3 dây chuyền sản xuất xi măng mới với công suất thiết kế 9,1 triệu tấn xi măng/năm đi vào vận hành. Như vậy, đến cuối năm 2017 cả nước có 83 dây chuyền sản xuất xi măng với tổng công suất đạt 98,56 triệu tấn, hoàn toàn có khả năng sản xuất đủ xi măng, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ năm 2018 (bao gồm cả xi măng tiêu thụ nội địa và clinker, xi măng xuất khẩu).

XĂNG DẦU

Giá xăng đã có 1 lần tăng, 1 lần giảm và 2 lần giữ nguyên trong hai tháng đầu năm 2018

Chiều 4/1 liên Bộ Công Thương Tài chính đã phát đi thông báo về điều chỉnh giá bán lẻ các mặt hàng xăng, dầu trong nước. Đây là kỳ điều hành đầu tiên sau khi xăng sinh học E5 RON 92 được thay thế hoàn toàn xăng RON 92 trên toàn quốc từ 1/1/2018. 

Theo đó, do xăng RON 92 không còn được bán trên thị trường nên mức chi Quỹ với mặt hàng này được rút về 0 đồng. Nhà điều hành quyết định tăng mức chi Quỹ bình ổn giá với mặt hàng xăng E5 RON 92 thêm 311 đồng một lít so với kỳ trước, lên mức 857 đồng một lít để giữ nguyên giá bán lẻ mặt hàng này. Sau điều hành mỗi lít xăng E5 vẫn có mức giá tối đa 18.243 đồng một lít.

Liên Bộ cũng quyết định tăng giá bán các mặt hàng dầu, trong đó tăng 360 đồng một lít với dầu diesel; 495 đồng một lít dầu hoả và 235 đồng một kg dầu madut. Sau điều chỉnh, giá xăng E5 RON 92 không cao hơn 18.243 đồng một lít; dầu diesel 15.529 đồng một lít; dầu hoả 14.112 đồng một lít và madut 12.617 đồng một kg. 

Cùng với đó, mức chi Quỹ bình ổn giá các mặt hàng dầu cũng có sự điều chỉnh tăng, giảm tuỳ mặt hàng. Cụ thể, mức chi với dầu diesel giảm về còn 400 đồng một lít, tăng chi với dầu madut thêm 70 đồng, lên 150 đồng một kg; và giữ nguyên mức chi quỹ với dầu hoả là 460 đồng một lít. 

Cơ sở thay đổi giá bán lẻ xăng dầu trong nước được cơ quan quản lý đưa ra trên cơ sở bình quân giá thành phẩm xăng dầu thế giới 15 ngày trước đó ở mức gần 73,78 USD một thùng RON 92 (xăng nền để pha chế xăng E5 RON 92), 77,47 USD một thùng dầu diesel… 

Tại kỳ điều chỉnh lần này mức thuế nhập khẩu bình quân gia quyền cũng thay đổi theo tính toán của Bộ Tài chính, xăng ở mức 10% (tăng 1,44% so với kỳ trước); dầu diesel 1,03%, dầu hoả 0,11% và dầu madut 3,26%. 

Tỷ trọng xăng từ nguồn nhập khẩu và nguồn sản xuất trong nước để tính thuế tiêu thụ đặc biệt trong giá cơ sở quý I/2018 lần lượt là 51,36% và 48,64%. Đáng chú ý, giá ethanol E100 đưa vào tính giá cơ sở ở mức 14.315 đồng một lít (chưa gồm thuế VAT), tăng khá mạnh so với kỳ điều hành trước đó 15 ngày. 

Tại kỳ điều chỉnh lần 2 trong tháng 1/2018, Liên bộ Công Thương – Tài chính đã đồng ý cho các DN đầu mối tăng giá bán xăng E5 RON92 thêm 429 đồng/lít, dầu diesel 0.05S thêm 430 đồng/lít; dầu hỏa thêm 448 đồng/lít; dầu mazut thêm 148 đồng/kg.  

Như vậy, đây là lần tăng giá đầu tiên đối với mặt hàng xăng trong năm 2018. Tại kỳ điều hành trước, mỗi lít xăng sinh học E5 RON 92 được giữ nguyên, trong khi giá các mặt hàng dầu đồng loạt tăng 235 - 495 đồng một lít/kg.

Tại kỳ điều chỉnh ngày 3/2/2018, Liên Bộ Công thương – Bộ Tài Chính lại quyết định giữ ổn định giá tất cả các mặt hàng xăng dầu.

Cụ thể, Xăng E5 Ron 92 giữ ổn định giá, sau khi thực hiện trích lập và chi sử dụng Quỹ bình ổn, xăng E5 Ron 92 tối đa không cao hơn 18.672 đồng/lít. Dầu diesel 0.05S giá bán không cao hơn 15.959 đồng/lít; Dầu hỏa giá bán không cao hơn 14.560 đồng/lít; Dầu mazut 180CST 3.5S giá bán không cao hơn 12.765 đồng/kg.

Bộ Công thương cho biết, thời gian gần đây, giá thành phẩm xăng dầu thế giới có xu hướng tăng và đứng ở mức cao. Giá thành phẩm thế giới xăng RON92 (xăng nền để pha chế xăng E5 RON92) ngày 02 /02/ 2018 đứng ở mức 79,850 USD/thùng, là mức giá cao nhất trong vài năm trở lại đây.

Bình quân giá thành phẩm xăng dầu thế giới trong 15 ngày trước 3/2 là: 78,039 USD/thùng xăng RON92 (xăng nền để pha chế xăng E5 RON92); 81,978 USD/thùng dầu diesel 0.05S; 82,177 USD/thùng dầu hỏa; 387,121 USD/tấn dầu mazut 180CST 3.5S.

Theo đó, cơ quan điều hành cho phép giữ nguyên mức trích lập Quỹ bình ổn giá xăng dầu đối với các mặt hàng xăng dầu như hiện hành. Chi sử dụng quỹ bình ổn với xăng E5 RON92 1.141 đồng/lít (kỳ trước chi sử dụng 857 đồng/lít); Xăng RON95 400 đồng/lít; Dầu diesel 678 đồng/lít (kỳ trước chi sử dụng 400 đồng/lít); Dầu hỏa là 710 đồng/lít (kỳ trước chi sử dụng 460 đồng/lít); dầu mazut 320 đồng/kg (kỳ trước chi sử dụng 150 đồng/kg).

Ngay sau kỳ nghỉ lễ Tết Nguyên đán, tại kỳ điều chỉnh lần thứ 2 trong tháng 2/2018, theo thông báo của liên Bộ Công thương – Tài chính, từ 15h chiều 21/2, ngoại trừ giá dầu hỏa giữ nguyên thì các loại xăng và dầu khác đều giảm trên dưới 300 đồng/lít, kg.

Cụ thể, Xăng E5 Ron 92 giảm 332 đồng/lít, sau khi thực hiện trích lập và chi sử dụng Quỹ bình ổn, xăng E5 Ron 92 tối đa không cao hơn 18.340 đồng/lít. Dầu diesel 0.05S giá bán không cao hơn 15.716 đồng/lít (giảm 243 đồng);  Dầu hỏa giá bán không cao hơn 14.560 đồng/lít (không đổi so với kỳ trước); Dầu mazut 180CST 3.5S giá bán không cao hơn 12.528 đồng/kg (giảm 237 đồng/kg).

Cơ quan điều hành cho phép giữ nguyên mức trích lập Quỹ bình ổn giá xăng dầu đối với các mặt hàng xăng dầu như hiện hành. Đồng thời chi sử dụng quỹ bình ổn với xăng E5 RON92 600 đồng/lít (kỳ trước chi sử dụng 1.141 đồng/lít);; xăng RON95 0 đồng/lít (kỳ trước chi sử dụng 400 đồng/lít); Dầu diesel 0 đồng/lít (kỳ trước chi sử dụng 678đồng/lít); Dầu hỏa là 105 đồng/lít (kỳ trước chi sử dụng 710đồng/lít); dầu mazut là 0 đồng/kg (kỳ trước chi sử dụng 320 đồng/kg).

Tới thời điểm cuối tháng 2/2018, một đề xuất đã gây nhiều chú ý đối với mặt hàng xăng dầu, có ảnh hưởng trực tiếp đến mặt hàng này đó là việc Bộ Tài chính đề xuất tăng thuế bảo vệ môi trường với xăng kịch khung, lên 4.000 đồng/lít. Nếu được thông qua, kể từ ngày 1/7/2018, mỗi lít xăng sẽ được tính thêm 1.000 đồng thuế môi trường.

Lý giải của đề xuất tăng thuế xăng dầu, Bộ Tài chính cho biết do thuế nhập khẩu đang giảm mạnh. Hiện mức thuế đối với xăng là 20%, dầu là 7% và khi thực hiện các cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu thì mức thuế với xăng sẽ giảm xuống một nửa, chỉ còn 10%, và các loại dầu về 0%.

Theo Bộ Tài chính, với việc áp dụng mức thuế nhập khẩu ưu đãi trên, số thu từ hoạt động nhập khẩu xăng dầu liên tục giảm qua các năm khi các nhà nhập khẩu chuyển sang nhập các thị trường có mức thuế ưu đãi đặc biệt. Bên cạnh đó, giá bán lẻ xăng dầu ở Việt Nam đang thấp hơn so với nhiều nước trong khu vực ASEAN. Thông qua việc điều chỉnh thuế bảo vệ môi trường nói trên, Bộ Tài chính dự tính sẽ thu về được 57.312 tỷ đồng/năm, tăng khoảng 15.684,2 tỷ đồng/năm.

GAS

Giá gas đứng yên trong tháng 1 và đồng loạt giảm mạnh 20.000 đồng/bình trong tháng 2/2018. 

 

Tháng 12/2017, giá gas đã tăng trở lại sau khi đứng yên vào tháng 11. Theo đó, từ ngày 1-12, giá gas Saigon Petro tăng 1.000 đồng/bình 12 kg nên giá bán lẻ đến người tiêu dùng là 350.000 đồng/bình 12 kg. Công ty Gas Pacific Petro, Citi Petro, Elf gas… cũng tăng 1.000 đồng/bình 12 kg. Giá bán lẻ đến người tiêu dùng không vượt quá 358.000 đồng/bình 12 kg. Mức giá này được giữ nguyên trong tháng 1/2018

Bước sang tháng 2/2018,  giá gas đồng loạt giảm mạnh đến 20.000 đồng/bình 12 kg. Đây là lần đầu tiên trong năm 2018 giá gas giảm mạnh như vậy. Đại diện Công ty TNHH một thành viên Dầu khí TP.HCM cho biết từ ngày 1-2, giá gas Saigon Petro giảm 20.000 đồng/bình 12 kg nên giá bán lẻ đến người tiêu dùng là 330.000 đồng/bình 12 kg. Công ty Gas Pacific Petro , Citi Petro, Elf gas… cũng giảm 20.000 đồng/bình 12 kg. Giá bán lẻ đến người tiêu dùng không vượt quá 338.000 đồng/bình 12 kg.

Các công ty gas cho biết do giá gas thế giới tháng 2 công bố 515 USD/tấn, giảm 65 USD/tấn so với tháng 1. Vì vậy, các công ty điều chỉnh giảm tương ứng.

Ô TÔ

Thị trường ô tô đầu năm 2018: Nhập khẩu ô tô rơi “tự do”

Số liệu thống kê mới nhất từ VAMA cho thấy, thị trường ô tô trong tháng đầu tiên của năm 2018 đạt doanh số 26.037 chiếc. Doanh số này khiến thị trường sụt giảm khoảng 7% so với tháng trước đó và tăng 28% so với cùng kỳ năm trước. Trong số 26.037 chiếc xe bán ra có 18.371 chiếc ô tô du lịch; 7.363 xe thương mại và 303 xe chuyên dụng. Như vậy, Doanh số xe du lịch tăng 25%; xe thương mại giảm 38% và xe chuyên dụng giảm 78% so với tháng trước.

Thị trường ô tô rõ ràng bị tác động bởi những thay đổi lớn của chính sách. Cùng với mức thuế nhập khẩu của một số dòng xe từ ASEAN về 0% và thuế TTĐB của các dòng xe động cơ dưới 2.0 giảm thêm 5%, hai Nghị định của Chính phủ là Nghị định 116 cho xe nhập khẩu và Nghị định 125 ưu đãi thuế linh kiện cho xe lắp ráp cùng có hiệu lực từ 1/1/2018.

Số liệu thống kê chi tiết cho thấy trong số hơn 26.000 chiếc xe được bán ra thì sản lượng của xe lắp ráp trong nước đạt 20.586 xe, tăng 3% so với tháng trước và tăng 44% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong khi đó, lượng xe nhập khẩu nguyên chiếc là 5.451 xe, giảm 30% so với tháng trước và giảm 9% so với cùng kỳ năm ngoái.

Về tình hình nhập khẩu ô tô nguyên chiếc, theo báo cáo sơ bộ của Tổng cục Thống kê cho biết, ước tính kim ngạch nhập khẩu ôtô nguyên chiếc tháng 1/2018 chỉ đạt khoảng 1.000 chiếc về lượng và 94 triệu USD về giá trị. So với tháng liền kề trước đó, kim ngạch nhập khẩu ôtô tháng đầu năm nay được hình dung như một cú rơi từ đỉnh núi xuống đáy vực thẳm.

Không chỉ "rơi" tự do khi so với tháng liền trước mà so với cùng kỳ năm ngoái, kim ngạch nhập khẩu ôtô nguyên chiếc tháng đầu năm 2018 cũng sụt giảm đến 86,2% về lượng và giảm 38% về giá trị.

Cú sụt giảm không tưởng của kim ngạch nhập khẩu ôtô nguyên chiếc tháng 1/2018 xuất phát chủ yếu từ những tác động của Nghị định 116 của Chính phủ. Có hai điểm quan trọng được xem là "nút thắt" tại Nghị định 116 khiến cho ôtô nhập khẩu rơi vào cảnh bế tắc.

Đầu tiên là yêu cầu về các thủ tục, giấy tờ thậm chí siết chặt hơn so với Thông tư 20 của Bộ Công Thương trước đây đối với các doanh nghiệp nhập khẩu ôtô. Trong đó, khó khăn nhất là yêu cầu về giấy chứng nhận chất lượng kiểu loại ôtô (VTA), loại văn bản mà các hãng xe phản hồi là "hiếm gặp" ở các nước xuất khẩu ôtô. Nút thắt thứ hai là quy định về kiểm định ngẫu nhiên đối với từng kiểu loại xe trong một lô xe nhập khẩu.

Ngay sau khi Nghị định 116 được ban hành, nhiều doanh nghiệp cho rằng rất khó để đáp ứng các thủ tục. Trong khi, quy định về kiểm định theo lô xe nhập khẩu sẽ khiến các doanh nghiệp mất thêm rất nhiều thời gian chờ đợi (khoảng trên dưới 2 tháng) và chi phí cũng bị đội lên rất cao. Do đó, ngoài việc xe nhập khẩu bị ách tắc thì ngay từ cuối năm 2017, nhiều doanh nghiệp cho biết đã dừng các đơn hàng nhập khẩu.

"Hàng rào" được dựng lên bởi Nghị định 116 và cụ thể hóa tại Thông tư 03 của Bộ Giao thông Vận tải đã ngăn ôtô nhập khẩu về nước, đặc biệt là các là các loại xe chở người dưới 10 chỗ ngồi.

Thống kê của Tổng cục Hải quan cho biết, kim ngạch nhập khẩu ôtô nguyên chiếc 15 ngày đầu tháng 1/2018 chỉ đạt 60 chiếc với giá trị trên 5,6 triệu USD. Trong đó, lượng xe du lịch chở người dưới 10 chỗ ngồi chỉ có vẻn vẹn… 6 chiếc với giá trị kim ngạch 282.708 USD.

Theo đánh giá của các doanh nghiệp nhập khẩu ôtô, sau khi Bộ Giao thông Vận tải ban hành Thông tư 03 hướng dẫn thực hiện Nghị định 116, dù một số hãng xe có thể đáp ứng các thủ tục thì cũng phải mất 4-5 tháng nữa ôtô mới có thể được nhập khẩu về đến Việt Nam. Đồng thời, quy định về kiểm định cũng sẽ khiến giá thành xe nhập khẩu bị chênh lên cao so với trước đây.

Từ thực tế này, bức tranh ôtô nhập khẩu trong khoảng thời gian nửa đầu năm 2018 được dự báo là sẽ rất ảm đạm cho dù nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng tăng cao sau quãng thời gian cả năm 2017 "kìm nén" chờ thuế.

Tuy nhiên, trái ngược với kỳ vọng của nhiều người, giá xe ô tô trong 2 tháng đầu năm 2018 không có dấu hiệu giảm nhiều. Ngoài GM Việt Nam công bố giảm giá bán, hầu hết hãng ô tô còn lại như Toyota, Ford, Honda, Nissan, Thaco… gần như “án binh bất động”, tính từ thời điểm ồ ạt giảm giá mạnh vào cuối năm 2017. Theo đại diện các hãng xe này, bảng giá ô tô công bố hiện tại đã được doanh nghiệp tính toán giảm căn cứ theo mức thuế nhập khẩu của khu vực ASEAN từ ngày 1-1.

Do đó, mức giá ô tô của năm 2018 hiện sẽ giữ nguyên, chưa điều chỉnh gì thêm nếu không có chính sách vĩ mô tích cực nào tác động thêm. Trước diễn biến trên, các hãng ô tô đã chủ động gửi thông báo tới khách hàng cáo lỗi và cắt đơn hàng trong những tháng đầu năm vì lo ngại không có nguồn cung xe nhập khẩu về do vướng quy định. Trong khi đó, các chuyên gia và giới kinh doanh ô tô nhận định, việc ô tô nhập khẩu khan hiếm do vướng quy định là có thật, nhưng cũng không loại trừ “chiêu bài” của các hãng. Bởi khi ô tô nhập khẩu khan hiếm, các hãng và đại lý ô tô lắp ráp trong nước sẽ tận dụng khoảng trống thị trường để giảm giá, tặng quà nhằm hút khách trong dịp cuối năm, Tết Nguyên đán. Do đó, trong thời gian tới thị trường ô tô nội địa sẽ có những đợt giảm giá khuyến mại để kích cầu, đặc biệt đối với các dòng xe bán chậm và sắp lỗi mốt.

THỦY SẢN 

Xuất khẩu thủy sản tăng mạnh trong tháng đầu năm 2018



Theo báo cáo mới nhất của Bộ NN&PTNT, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nông lâm thủy sản đã đạt 6,1 tỷ USD trong 2 tháng đầu năm 2018, tăng hơn 30% so với cùng kỳ năm 2017 và mang về giá trị thặng dư 820 triệu USD. Trong đó, riêng xuất khẩu thuỷ sản ước đạt gần 1,2 tỷ USD, tăng 29,5% so với cùng kỳ năm 2017.

Tại thị trường trong nước, theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, sản lượng tôm sú trong nước tháng 1/2018 ước đạt 13.700 tấn, tăng 3% so với cùng kỳ; trong đó, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ước đạt 13.200 tấn, tăng 1% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng tôm thẻ ước đạt 17.600 tấn, tăng 10% so với cùng kỳ; trong đó, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ước đạt  6.100 tấn, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2017. Sản lượng nuôi cá tra của các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long ước đạt 90.200 tấn, tăng 0,2% so với cùng kỳ năm trước. 

Trong hai tháng đầu năm 2018, giá cá tra và giá tôm nguyên liệu ổn định ở mức cao. Theo đó, giá cá tra mua tại hầm, quầng trên địa bàn tỉnh An Giang tuần tính đến ngày 08/01/2018 ổn định so với 2 tuần trước đó và tăng từ 9.700 – 10.400 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước. Tới thời điểm gần cuối tháng 2/2018, giá cá tra tại Đồng bằng sông Cửu Long đã tăng kỷ lục trên 30.000 đồng/kg, tùy hình thức thanh toán. Đây là mức giá rất cao trong nhiều năm qua, giúp người nuôi lãi đậm. Tuy nhiên, dù có giá cao nhưng việc tìm mua cá nguyên liệu với các doanh nghiệp vào thời điểm này không hề dễ. Đại diện một doanh nghiệp chế biến thủy sản có trụ sở tại thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang cho biết, mỗi ngày, công ty này cần đến 200 tấn cá tra. Do nhu cầu xuất khẩu đang cao nên đơn vị đã tăng giá mua và tìm đến nhiều vùng nuôi nhưng vẫn phải chịu cảnh thiếu hụt nguồn nguyên liệu. Do thiếu nguồn cung nên đã đẩy giá cá tra giống tại Đồng bằng sông Cửu Long lên rất cao. Hiện cá giống loại 30 con/kg đang có giá khoảng 2.000 đồng/con, tương đương khoảng 60.000 đồng/kg. Tuy nhiên, dù người nuôi chấp nhận mức giá này nhưng việc tìm mua cá giống cũng không dễ.

Giá tôm nguyên liệu trong tháng 1/2018 có xu hướng tăng so với cuối năm 2017 do nhu cầu tiêu dùng và nhu cầu nguyên liệu của các nhà máy tăng, theo báo cáo của Bộ NN & PTNT. Cụ thể, tại Bạc Liêu, giá tôm sú loại 20 - 40 con/kg tăng thêm 15.000 - 20.000 đ/kg lên mức giá 160.000 - 260.000 đ/kg so với tháng trước; giá tôm thẻ ướp đá cỡ 50 con/kg tăng 1.000 đ/kg lên 128.000 đ/kg, cỡ 60 con/kg tăng 6.000 đ/kg lên 124.000 đ/kg. Tại Sóc Trăng, giá tôm sú tăng 5.000 - 15.000 đ/kg cho các cỡ từ 10 - 40 con/kg lên mức giá 189.000 - 322.000 đ/kg. 

Về kế hoạch trong năm 2018, Tổng cục Thuỷ sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho biết, ngành phấn đấu kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 8,5 tỷ USD, tăng 1,2% so với năm 2017. Đồng thời, tổng sản lượng thủy sản đạt 7 triệu tấn, giảm 3,8% so với năm 2017; trong đó, sản lượng khai thác đạt 3 triệu tấn (giảm 13,3%, chủ yếu giảm khai thác ven bờ), sản lượng nuôi trồng đạt 4 triệu tấn (tăng 3,7% so với năm 2017).  Ngành thuỷ sản cũng đưa ra mục tiêu sản lượng tôm nước lợ phấn đấu đạt 720.000 tấn, tăng 13,1%, sản lượng cá tra đạt 1,3 triệu tấn, tăng 4% so với năm 2017... 

LÚA GẠO

Đầu năm xuất khẩu gạo đã tăng đột biến

Theo Bộ NN&PTNT, ước tính khối lượng gạo xuất khẩu tháng 1 đạt 524 nghìn tấn với giá trị 249 triệu USD, tăng 56,5% về khối lượng và tăng tới 74,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. Nguyên nhân là nhờ các đơn hàng được triển khai ngay trong tháng 1, cộng với việc Việt Nam trúng thầu xuất khẩu gạo sang Indonesia đã nâng kim ngạch XK gạo, tạo tiền đề thuận lợi ngay từ thời điểm đầu năm 2018.

Đáng chú ý, giá gạo xuất khẩu cũng có dấu hiệu tăng đáng kể. Cụ thể, gạo 5% tấm của Việt Nam đã tăng 45 USD/tấn trong tháng 1, từ mức 390 – 395 USD/tấn lên 420 – 430 USD/tấn (FOB cảng Sài Gòn). Nguyên nhân là do triển vọng thương mại gạo với Philippines và Indonesia.

Trong tháng 2/2018, ước mặt hàng gạo xuất khẩu đạt 369.000 tấn với giá trị đạt 179 triệu USD. Như vậy, trong 2 tháng đầu năm nay, mặt hàng gạo xuất khẩu ước đạt 861.000 tấn với giá trị đạt 419 triệu USD, tăng 17,2% về lượng và gần 34% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái.

Trong tháng đầu năm, trái ngược với sự tăng giá xuất khẩu kể trên, thị trường lúa gạo tại các tỉnh ĐBSCL khá trầm lắng. Đa số các địa phương đã hết lúa tươi, giá lúa ít biến động.

Theo hệ thống cung cấp giá tại địa phương, giá lúa tại một số tỉnh ĐBSCL cụ thể như sau: Tại Vĩnh Long, lúa khô giống IR50404 giữ ở mức 5.300 đ/kg. Tại Bạc Liêu, giá bán buôn của Công ty Lương thực Bạc Liêu ổn định ở mức 6.500 đ/kg…

Trước đó, năm 2017 được xem là một năm thành công đối với ngành gạo, khi kim ngạch xuất khẩu đạt 6 triệu tấn, vượt xa con số dự kiến từ đầu năm (5 triệu tấn), giá trị đạt 2,66 tỷ USD, tăng 22,4% về khối lượng và 23,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Xuất khẩu gạo năm 2017 tăng trưởng mạnh chủ yếu là do tác động của biến đổi khí hậu khiến nguồn cung gạo tại một số nước giảm. Qua đó, làm tăng nhu cầu nhập khẩu gạo từ các thị trường tiêu thụ chính như Trung Quốc, Malaysia, Philippines, Hàn Quốc… Đặc biệt, việc mở rộng xuất khẩu gạo tới các thị trường mới như Bangladesh, Iraq… cũng góp phần đưa xuất khẩu gạo của Việt Nam tăng mạnh vượt kỳ vọng trong năm 2017.

Tuy nhiên, một thông tin đáng lưu ý trong những tháng đầu năm 2018 đó là việc doanh nghiệp Việt đang tồn tới hơn 760.000 tấn gạo. Trong số gạo tồn, Tổng công ty lương thực Miền Nam chiếm gần 209.000 tấn, Tổng công ty Lương thực miền Bắc gần 107.000 tấn, còn lại là của các doanh nghiệp khác thuộc Hiệp hội lương thực Việt Nam.

Năm 2018, nhiều dự báo cho thấy thị trường gạo thế giới sẽ sôi động hơn. Lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam năm 2018 có thể tăng thêm 400.000 tấn so năm 2017. Gạo xuất khẩu của Việt Nam sẽ tăng lên chủ yếu nhờ nhu cầu ở Đông Nam Á, nhất là tại Philippines.

CÀ PHÊ

Xuất khẩu cà phê tháng đầu năm tăng mạnh cả về lượng và giá trị

Theo tính toán từ số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong tháng đầu năm 2018 mặc dù giá cà phê xuất khẩu giảm 13,5% so với cùng kỳ năm trước và giảm 2,9% so với tháng 12/2017, đạt 1.952 USD/tấn, nhưng lượng và kim ngạch xuất khẩu lại tăng rất mạnh.  

Cụ thể, xuất khẩu cà phê ra thị trường nước ngoài tháng 1/2018 tăng 43,4% về lượng và tăng 23,7% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2017, đạt 200.745 tấn, thu về trên 391,92 triệu USD; So với tháng cuối năm 2017 cũng tăng 26,8% về lượng và tăng 23,1% về kim ngạch.

Xuất khẩu cà phê sang Đức đứng đầu về lượng và kim ngạch, với 28.866 tấn, tương đương 52,48 triệu USD, chiếm trên 14% trong tổng lượng và trong tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê của cả nước, (tăng 24,1% về lượng và tăng 3,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017).

Thị trường lớn thứ 2 tiêu thụ cà phê Việt Nam là Mỹ, chiếm trên 12% trong tổng lượng và tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê của cả nước, đạt 24.330 tấn, trị giá 47,64 triệu USD tăng 20,3% về lượng và tăng 2% về giá trị so với cùng kỳ.  

Ông Đỗ Hà Nam, Phó chủ tịch Hiệp hội Cà phê-Ca cao (Vicofa), Chủ tịch Hội đồng Quản trị Intimex Group, cho biết, nhu cầu thị trường hiện đang vững và giá cả tương đối ổn định. Song người dân vẫn trong tình trạng giữ hàng không muốn bán ra, vì bà con kỳ vọng mức giá cao hơn, còn các nhà thương mại nước ngoài đang trong tình thế kinh doanh không có hiệu quả nên cũng không muốn đẩy mạnh giao dịch. Hiện nay, nguồn hàng từ các nhà máy rang xay có vẻ như đang trong tình trạng thiếu lượng hàng tạm trữ, nên có nhận định "xu hướng thị trường có cơ hội lên giá".

Xuất khẩu cà phê tháng 1/2018 có tăng so với cùng kỳ năm 2017 nhưng không cao, vì lượng hàng năm rồi còn khá lớn do xuất khẩu năm rồi giảm mạnh. Quý 4/2017 là quý đầu vụ mới sẽ tạo áp lực lên tháng 1/2018, đến tháng 2, lượng xuất khẩu sẽ giảm mạnh do nghỉ Tết Nguyên đán. Lượng cà phê xuất khẩu giảm mạnh trong những ngày Tết sẽ tạo lợi thế về mặt thị trường cho nước ngoài do lượng hàng cung không đủ cầu, khi đó các nhà rang xay bắt buộc đẩy mạnh mua vào, như vậy có khả năng giá sàn giao dịch bật lên.

Theo dự báo mới nhất của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), tồn kho cà phê toàn cầu sẽ giảm 2,76 triệu bao trong niên vụ 2017-2018, tương đương khoảng 29,27 triệu bao, mức thấp nhất kể từ cuối niên vụ 2011-2012. Riêng tồn kho cà phê của Việt Nam đến cuối niên vụ 2017-2018 dự báo giảm 70.000 bao xuống còn 1,11 triệu bao. Song, USDA vẫn lạc quan về sản lượng cà phê của vụ thu hoạch hiện tại ở Việt Nam, khi nâng dự báo sản lượng thêm 1,3 triệu bao lên kỷ lục 29,9 triệu bao, nhưng trên thực tế chúng ta đánh giá chỉ đạt khoảng 26 - 26,5 triệu bao giảm khoảng 3 triệu bao so với nhận định của USDA.

Về giá cả, thời điểm cuối tháng 1/2018, giá cà phê robusta tăng so với 2 tuần trước và cuối tháng 12/2017, tuy nhiên vẫn còn cách xa mức 47.650 đồng/kg trong tháng 1/2017. Tại tỉnh Lâm Đồng, giá cà phê robusta đứng ở mức 36.500 đồng/kg. Tại tỉnh Đắk Lắk đạt mức 36.800 – 36.900 đồng/kg. 

Tháng 1/2018, ước tính giá xuất khẩu bình quân mặt hàng cà phê đạt 1.943 USD/tấn, giảm 3,4% so với tháng12/2017 và giảm 13,9% so với tháng 1/2017. Tháng 12/2017, giá xuất khẩu bình quân cà phê đạt mức 2.011 USD/tấn, giảm 6,8% so với tháng 11/2017 và giảm 9,6% so với cùng kỳ năm 2016. 

Tới cuối tháng 2/2018, giá cà phê có xu hướng đi ngang trong nhiều phiên giao dịch và ở quanh mức 36.600 – 37.000 đồng/kg. Trong đó cao nhất là ở Ia Grai (Gia Lai) vẫn giữ được mốc 37.000 đồng/kg.

HẠT TIÊU

Năm 2018 xuất khẩu hạt tiêu sẽ khó khăn

Theo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), từ đầu tháng 1đến hết tháng 2/2018, giá hạt tiêu tại thị trường trong nước tiếp tục biến động theo xu hướng giảm. Hiện giá hạt tiêu trung bình từ 61.000 - 64.000 đồng/kg, giảm 7.000-8.000 đồng/kg so với đầu tháng và chỉ bằng một nửa so với cùng kỳ năm 2017.

Năng suất hạt tiêu năm 2018 cũng giảm mạnh do mưa kéo dài trong năm 2017 dẫn đến việc không thể tiến hành cắt nước, kích hoa cho hồ tiêu và khiến nhiều vườn tiêu dễ bị sâu bệnh. Tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, sản lượng hồ tiêu chỉ đạt 60-70%.

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, 15 ngày đầu tháng 1/2018 lượng hạt tiêu xuất khẩu đạt 6.654 tấn, trị giá 28,16 triệu USD, tăng 71% về lượng và tăng 0,3% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Giá xuất khẩu hạt tiêu trung bình trong kỳ ở mức 4.232 USD/tấn, giảm 41,3% so với mức giá xuất khẩu trung bình cùng kỳ năm 2017. 

Theo ước tính, tháng 1/2018 lượng hạt tiêu xuất khẩu đạt 12 nghìn tấn, trị giá 51 triệu USD, tăng 43,5% về lượng, nhưng giảm 17,5% về trị giá so với tháng 1/2017. Giá xuất khẩu hạt tiêu trung bình tháng 1/2018 ở mức 4.250 USD/tấn, giảm 42,5% so với mức giá xuất khẩu trung bình tháng 1/2017.

Dự báo, năm 2018 xuất khẩu hạt tiêu sẽ tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn khi cung đang vượt cầu. Diện tích tiêu tăng nhanh ở Việt Nam và một số nước khác đã làm sản lượng toàn cầu tăng mạnh. Sản lượng tiêu thế giới năm 2016 đạt 434.000 tấn, đến năm 2017 đã tăng lên 510.000 tấn. 

Theo Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam, năm 2018, mặc dù năng suất hạt tiêu tại một số nước sản xuất lớn, trong đó có Việt Nam, có thể giảm, nhưng do diện tích cho thu hoạch vẫn tăng nên tổng nguồn cung toàn cầu vẫn sẽ cao hơn 2017 và cao hơn nhu cầu. Điều này khiến giá thế giới có xu hướng không tăng. Bên cạnh đó, xuất khẩu hạt tiêu Việt Nam sẽ khó khăn do rào cản kỹ thuật từ các nước nhập khẩu như Hoa Kỳ, EU... 

Tuy nhiên, trước phản đối của Việt Nam và Ấn Độ, sau quá trình đàm phán tích cực của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Công Thương, EC đã giữ nguyên mức MRLs Metalaxyl ở mức 0,1ppm đến hết năm 2018. Do đó, nếu không kiểm soát tốt về chất lượng, Việt Nam sẽ mất dần thị phần tại EU cũng như tại Hoa Kỳ, Ấn Độ.

CAO SU

Tín hiệu tích cực của thị trường cao su đầu năm mới



Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu cao su của Việt Nam tháng 01/2018 giảm 19,8% về lượng và giảm 18,8% về trị giá so với tháng 12/2017, với khối lượng đạt 135,8 nghìn tấn, trị giá 198,63 triệu USD. So với cùng kỳ năm 2017, xuất khẩu cao su tuy nhiên vẫn tăng 45,7% về lượng và tăng 10,8% về trị giá.

 

Giá xuất khẩu cao su của Việt Nam trong tháng 01/2018 đạt bình quân 1.462,7 USD/tấn, tăng 1,2% so với tháng 12/2017 nhưng giảm 23,9% so với cùng kỳ năm 2017.

 

Tháng 01/2018, Trung Quốc là thị trường xuất khẩu cao su lớn nhất của Việt Nam với khối lượng đạt 74,99 nghìn tấn, trị giá 108,83 triệu USD, giảm 33,7% về lượng và giảm 33,1% về trị giá so với tháng 12/2017, tăng 18,2% về lượng nhưng giảm 13,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017. Trung Quốc chiếm 54,8% tổng khối lượng cao su xuất khẩu của Việt Nam, giảm mạnh so với mức tỷ trọng 70% của cùng kỳ năm 2017.

 

Đáng chú ý, trong tháng 01/2018, một số thị trường tăng nhập khẩu cao su của Việt Nam so với cùng kỳ năm 2017 như Ấn Độ tăng 470,4%, Malaysia tăng 166,3%, Tây Ban Nha tăng 171,1%, Nga tăng 218,8%...

 

Hiện Trung Quốc đang là nước tiêu thụ cao su lớn nhất thế giới, theo thống kê của Hải quan Trung Quốc trong năm 2017, nhập khẩu cao su của Trung Quốc đạt 18,75 tỷ USD, tăng 36,7% so với năm 2016. Trong đó, Việt Nam đứng thứ 4 về cung cấp cao su cho Trung Quốc với kim ngạch tăng 57,8% so với năm 2016. Trong năm 2017, thị phần nhập khẩu cao su của Trung Quốc từ Việt Nam đã tăng lên đạt 8% so với mức 7,4% của năm 2016. Thị phần nhập khẩu cao su của Trung Quốc từ một số thị trường khác cũng tăng như: Thái Lan, Malaysia, Indonesia...

Theo Cục Xuất nhập khẩu, tháng 02/2018, giá mủ cao su nguyên liệu tại Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh không thay đổi, giá thu mua mủ cao su tạp và mủ nước giao dịch lần lượt đạt 280 Đ/độ TSC và 285 Đ/độ TSC (ngày 09/02/2018). 

HẠT ĐIỀU

Nguồn cung hạn chế, giá hạt điều sẽ tiếp tục “leo thang”

Tháng 1/2018, giá hạt điều trong nước biến động tăng – theo Bộ NN & PTNT. Cụ thể, tại Bình Phước, giá điều nhân loại W240 tăng lên 280.000đ/kg từ mức giá 250.000 đ/kg; loại W320 tăng 20.000đ/kg lên mức giá 260.000đ/kg so với tháng trước đó.

Tại Đồng Nai, giá hạt điều khô mua xô giao động ở mức 41.000đ/kg – 42.000đ/kg. Thời gian qua, hạt điều tăng giá bởi nhu cầu tăng thu mua nguyên liệu từ các nhà máy phục vụ dịp Tết Nguyên đán sắp tới.

Bộ NN&PTNT dự báo, thời gian tới, giá điều vẫn giữ xu hướng tăng do nguồn cung hạn chế vào thời điểm giáp hạt.

Về mặt xuất khẩu, trong tháng đầu tiên của năm, khối lượng hạt điều xuất khẩu ước đạt 25 nghìn tấn với giá trị 256 triệu USD, tăng 39,9% về khối lượng và tăng 56,5% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Bình quân mỗi tấn hạt điều xuất khẩu có giá 10.254 USD, tăng 1,3% so với tháng cuối năm.

Giá hạt điều xuất khẩu bình quân năm 2017 đạt 9.955,1 USD/tấn, tăng 21,5% so với năm 2016. Hoa Kỳ, Hà Lan và Trung Quốc vẫn duy trì là 3 thị trường nhập khẩu điều lớn nhất của Việt Nam, chiếm thị phần lần lượt là 34,7%, 15,4% và 13,3% tổng giá trị xuất khẩu hạt điều.

Bước sang tháng 2, giá điều trong nước biến động mạnh do các nhà máy tăng cường thu mua nguyên liệu dịp Tết Nguyên đán. Điều nhân cỡ vừa tại Bình Phước tăng 30.000 đồng so với tháng trước, lên mức 280.000 đồng một kg. Cỡ trung từ 300-320 hạt một pound (454 gram) tăng khoảng 20.000 đồng, lên mức 260.000 đồng một kg. Dự báo thời gian tới, giá hạt điều sẽ tăng nhẹ do nhu cầu tiêu thụ cho vụ mùa mới của Việt Nam và Ấn Độ tăng trong khi vụ mùa thu hoạch tại Tây Phi khá muộn.

 (TTGCVT /T.Hiền tổng hợp) 

 

 

Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (024) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (024) 39762593 
Email:ttgcvattu1989@gmail.com