Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Thị trường hàng hóa thế giới 2 tháng đầu năm 2018
Cập nhật: 1-3-2018

Hai tháng đầu năm, thị trường hàng hóa biến động mạnh. Giá dầu tiếp tục tăng do nhu cầu mạnh lên và nguồn cung của các nước OPEC tiếp tục được kiểm soát. Vàng và bạch kim cũng tăng khá, trong đó bạch kim tăng 8%. Giá một số mặt hàng như kẽm hay cobalt lập kỷ lục cao nhất hàng chục năm. Những hàng hóa khác chịu tác động từ sự thăng trầm của USD.  

Vàng

Giá tăng mạnh trong tháng 1 và giảm trở lại trong tháng 2


Trong tháng 1, đồng USD yếu đi đã hỗ trợ kim loại quý có 2 tuần đầu tháng tăng liên tiếp, giảm trong trung tuần tháng 1 và tăng trở lại vào tuần cuối tháng.

Tuần đầu năm mới 2018, giá vàng giao ngay tăng khoảng 1,3%, là tuần tăng thứ 4 liên tiếp do đồng USD yếu đi. Phiên giao dịch cuối tuần (5/1) , giá vàng giao ngay giảm 0,2% xuống 1.319,70 USD/ounce; vàng giao tháng 2/2018 tăng 70 US cent (0,05%) lên 1.322,30 USD/ounce.

Đồng USD có lúc rơi xuống mức thấp nhất trong bốn tháng so với đồng euro, trước tâm lý lạc quan của thị trường về triển vọng tăng trưởng của kinh tế Khu vực sử dụng đồng euro (Eurozone).

Tuần tiếp theo, giá vàng tăng 1%, là tuần thứ 5 liên tiếp tăng giá - dài nhất kể từ tháng 4/2017. Phiên giao dịch cuối tuần (12/1) , giá vàng giao ngay tăng 1,2%, lên 1.338,39 USD/ounce, sau khi có thời điểm giữa phiên lên mức cao nhất kể từ tháng 9/2017 là 1.339,31 USD/ounce.

Đồng USD giảm giá vào cuối tuần đã hỗ trợ giá vàng tăng lên. Chiến lược gia Daniel Ghali, thuộc TD Securities cho biết, mặc dù Mỹ đang đi đến kết thúc chính sách nới lỏng định lượng, song việc các ngân hàng trung ương khác cũng thắt chặt chính sách tiền tệ có thể sẽ hạn chế đà lên giá của đồng USD trong năm nay. Giá vàng khá nhạy cảm với chính sách tiền tệ của Mỹ, do lãi suất tăng sẽ làm tăng chi phí cơ hội của việc nắm giữ vàng.

Trung tuần tháng 1, giá vàng giảm tuần đầu tiên trong 6 tuần, giảm 0,3% do lo ngại Chính phủ Mỹ phải đóng cửa và dữ liệu kinh tế Mỹ khá ảm đạm.

Tuần cuối tháng 1, giá vàng lên mức cao nhất 17 tháng, 1.366,07 USD/ounce, sau báo cáo cho thấy tăng trưởng kinh tế Mỹ chậm lại gây áp lực giảm giá đồng USD. Đồng USD yếu đi khiến vàng trở nên rẻ hơn đối với những nhà đầu tư nắm giữ những loại tiền khác. Chứng khoán thế giới tăng giá tuần thứ 10 liên tiếp.

Tính chung trong tháng 1, giá vàng tăng gần 3% - mức mạnh nhất kể từ tháng 8/2017, là tháng tăng thứ ba liên tiếp.

Phiên giao dịch cuối tháng, giá vàng giảm nhẹ sau khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) thông báo duy trì lãi suất ở mức 1,25-1,5%, và nhận định lạm phát sẽ tăng trong năm nay.

Trong cuộc họp chính sách cuối cùng của Chủ tịch Fed Janet Yellen với tư cách là người đứng đầu Ngân hàng trung ương Mỹ tổ chức trong hai ngày 31/1-1/2, Fed quyết định duy trì lãi suất, song phát đi thông điệp về khả năng nâng lãi suất trong cuộc họp chính sách vào tháng 3/2018. Đồng USD phiên này mạnh lên sau tuyên bố của Fed.

Nỗi lo về lạm phát thông thường là nhân tố hỗ trợ giá vàng, vốn được coi là công cụ để chống giá tăng, song khả năng Fed tăng lãi suất để chống lại lạm phát làm giảm sức hút của vàng do đây là tài sản không sinh lời.

Bước sang tháng 2, xu hướng giảm giá lại là chủ đạo trên thị trường vàng. Kim loại quý này giảm 1,5% trong tuần đầu tháng, giảm 1,3% trong tuần tiếp theo, tăng 3% - mức tăng mạnh nhất kể từ ngày 29/4/2016, theo số liệu thống kê của WSJ Market Group Data, trong bối cảnh đồng USD suy yếu trong trung tuần tháng 2 để rồi giảm mạnh trong tuần cuối tháng, mất 1,4%, ghi dấu tuần giảm mạnh nhất kể từ đầu tháng 12/2017, còn giá vàng giao kỳ hạn giảm 1,7%. Phiên giao dịch 23/2, giá vàng giao ngay giảm 0,2% xuống 1.328,74 USD/ounce, ghi dấu phiên giảm giá thứ năm trong vòng sáu phiên liên tiếp; vàng giao tháng 4/2018 cũng hạ 0,2% xuống 1.330,30 USD/ounce.

Tháng này giá đã giảm trong nhiều phiên bất chấp sự biến động chính trị và những diễn biến liên quan đến hoạt động đấu giá bán trái phiếu chính phủ do Bộ Tài chính Mỹ thực hiện. Những đồn đoán về việc Mỹ đẩy nhanh lộ trình nâng lãi suất trong năm nay gây sức ép lên các mặt hàng như vàng. Ngoài ra, lợi suất trái phiếu chính phủ của Mỹ tăng cao lại góp phần nâng đỡ đồng USD, thường dao động nghịch chiều với giá vàng. Bên cạnh đó, nhu cầu mua vàng vật chất sụt giảm đáng kể, khi thị trường chủ chốt Trung Quốc nghỉ Tết Nguyên đán kéo dài.

Giới phân tích dự đoán giá kim loại quý này sẽ vẫn trồi sụt trong thời gian tới, khi biên bản cuộc họp gần đây nhất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cho thấy các nhà hoạch định chính sách của Fed vẫn còn quan ngại về lạm phát, nhưng đồng thời cũng ủng hộ việc tiếp tục nâng lãi suất.

Theo nhà phân tích Jonathan Butler của Mitsubishi, các yếu tố chính sẽ ảnh hưởng đến thị trường vàng trong năm 2018 bao gồm: tiến độ bình thường hóa chính sách lãi suất của các ngân hàng trung ương, diễn biến của thị trường chứng khoán toàn cầu, những ảnh hưởng lâu dài của chương trình cải cách thuế tại Mỹ và diễn tiến của tình hình lạm phát.

Chuyên gia James Butterfill, thuộc ETF Securities, dự báo giá vàng sẽ tiếp tục dao động trong khoảng từ 1.200-1.300 USD/ounce trong sáu tháng tới.  

Đồng

Thị trường ổn định do triển vọng tăng trưởng sản xuất toàn cầu


Thị trường kim loại đồng thế giới 2 tháng đầu năm giữ ở mức ổn định, được hậu thuẫn bởi lạc quan về triển vọng sản xuất toàn cầu, nhưng chịu áp lực giảm bởi nhu cầu giảm tại Trung Quốc do kỳ nghỉ tết Nguyên đán vào giữa tháng 2/2018.

Phiên cuối tháng 1, giá đồng đạt 7.312,5 USD/tấn, mức cao nhất 4 năm do các nhà đầu tư kỳ vọng tín hiệu tích cực từ việc xây dựng cơ sở hạ tầng trong thông điệp Liên bang Tổng thống Mỹ Donald Trump. Tăng trưởng trong lĩnh vực sản xuất của Trung Quốc tháng 1 duy trì ở mức cao. Chỉ số quản lý sức mua (PMI) trong tháng 1/2018 của nước này đạt 51,5, mức cao nhất trong 4 tháng và vượt ngưỡng 50 điểm.

Hoạt động sản xuất của Nhật Bản tăng với tốc độ nhanh nhất trong gần 4 năm trong tháng 1/2018, với tăng trưởng sản lượng và việc làm hậu thuẫn sự hồi phục vững chắc nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới.

Tuần giữa tháng 2, giá đồng tại London thiết lập tuần tăng mạnh nhất trong hơn 1 năm, tăng 6,8%, do tăng trưởng sản xuất toàn cầu và đồng USD liên tục suy yếu.

Giá đồng tại Sở giao dịch kim loại London (LME) ngày 16/2 tăng 0,5% lên 7.214 USD/tấn, sau khi tăng nhẹ trong phiên trước đó. Sở giao dịch kỳ hạn Thượng Hải đóng cửa ngày thứ 2 liên tiếp và sẽ mở cửa trở lại trong ngày thứ năm (22/2). Singapore, Hong Kong, Malaysia, Indonesia, Philippine và Việt Nam cũng đóng cửa ngày thứ sáu (16/2) cho tuần nghỉ lễ.

Tuần cuối tháng 2, giá đồng hướng tới tuần giảm nhẹ, khi đồng USD trong tuần này tăng do gia tăng kỳ vọng Mỹ tăng lãi suất. Tuy nhiên, nhu cầu tăng đã thúc đẩy triển vọng tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Phiên 23/2, giá đồng tại Sở giao dịch kim loại London (LME) giảm 0,3% xuống còn 7.144 USD/tấn, sau khi tăng nhẹ phiên trước đó. Giá đồng tại Sở giao dịch kỳ hạn Thượng Hải (ShFE) tăng 1,4% lên 53.530 NDT (tương đương 8.434 USD)/tấn).

Số lượng người Mỹ nộp đơn xin trợ cấp thất nghiệp giảm xuống mức thấp nhất gần 45 năm trong tuần trước đó, cho thấy tăng trưởng việc làm trong tháng 2/2018 mạnh mẽ và nền kinh tế vững chắc.

Kẽm

Giá cao nhất 1 thập kỷ do cung khan hiếm

Kẽm - kim loại dùng trong sản xuất thép - đã lập kỷ lục giá cao nhất trong vòng một thập kỷ trong tháng 1/18, do khả năng thiếu cung và tồn trữ giảm thấp, trong bối cảnh một số nhà đầu tư lo ngại về sự biến động mạnh của thị trường này.

phiếu tham chiếu trên sàn London (LME) giá tăng lên 3.409 USD/tấn trong phiên 12/1, cao nhất kể từ tháng 8/2017, trước khi kết thúc phiên ở mức 3.385,50 USD/tấn, tăng 0,1% so với phiên trước.

Phiên 26/1, giá kẽm đã lên mức cao nhất 10 năm do USD giảm và tồn trữ kẽm xuống mức thấp nhất kể từ 2008, dấu hiệu cho thấy nguồn cung khan hiếm.

Kẽm kỳ hạn tham chiếu trên sàn London tăng 0,4% lên 3.478 USD/tấn, trong phiên có lúc giá đạt 2.481,85 USD/tấn, cao nhất kể từ 2008. Kim loại này đã tăng giá 7 tuần liên tiếp, kỳ tăng dài nhất kể từ 2016.

Như vậy kẽm đã tăng giá 11% kể từ đầu tháng 12 tới nay và là mặt hàng tăng giá mạnh nhất trên sàn LME trong năm vừa qua với mức tăng 32%.

Dự trữ trên các sàn giao dịch kẽm trên toàn cầu đã giảm xuống mức chỉ tương đương 6-7 ngày tiêu dùng, trong bối cảnh Trung Quốc tiếp tục thắt chặt các quy định về môi trường khiến nguồn cung tại nước này rất hạn hẹp.

Tính từ mức thấp của tháng 12 năm ngoái tới nay, giá kẽm đã tăng khoảng 14%. Năm 2017, kim loại này tăng 29%.  

Quặng sắt

Giá sẽ giảm trong 5 năm tới

Giá quặng sắt tăng mạnh hơn so với kỳ vọng trong những tháng đầu năm 2018, nối tiếp đà tăng 2 tháng cuối năm 2017 do giá thép tăng. Tuy nhiên đà tăng giá quặng sắt mạnh trong vài tháng trở lại đây được dự đoán sẽ không kéo dài thêm lâu nữa do nền kinh tế Trung Quốc không còn tập trung nhiều vào công nghiệp nặng, khiến nhu cầu nguyên liệu thô sản xuất thép giảm. Chính vì điều này, bộ phận BMI Research thuộc Fitch Group nâng dự báo giá quặng sắt trong năm 2018 từ 50 USD/tấn lên 55 USD/tấn. Cơ quan này cho rằng trong vài năm tới giá quặng sắt sẽ mất đà do Trung Quốc chuyển hướng tập trung phát triển kinh tế từ ngành công nghiệp nặng sang dịch vụ khiến nhu cầu kim loại công nghiệp giảm.

Ngày 9/1, giá quặng sắt kỳ hạn tại Trung Quốc tăng gần 4%, lên 560,5 NDT (tương đương 86,19 USD)/tấn - mức cao nhất trong 4 tháng, do Bắc Kinh cắt giảm công suất sản xuất thép và nghiêm cấm mở các cơ sở sản xuất thép mới trong năm 2018.

Giá quặng sắt kỳ hạn tại Trung Quốc ngày 19/1 tăng, nhưng thiết lập tuần giảm đầu tiên trong 3 tuần, do nhu cầu chậm lại khi giá thép tăng gần 50% trong năm 2017. Giá quặng sắt giao kỳ hạn tháng 5 tại Sở giao dịch hàng hóa Đại Liên đóng cửa tăng 1,6% lên 543,5 NDT (tương đương 85 USD/tấn). Giá quặng sắt giao ngay cũng giảm tuần đầu tiên trong 3 tuần, với giá quặng sắt giao ngay (hợp đồng tham chiếu) chạm mức thấp nhất 2 tuần rưỡi, dưới mức 75 USD/tấn. Giá quặng sắt kỳ hạn tại Trung Quốc ngày 29/1 giảm xuống mức thấp nhất trong 1 tháng, do nhu cầu nguyên liệu sản xuất thép tại nước nhập khẩu hàng đầu thế giới giảm, đẩy dự trữ tại các cảng đạt gần mức cao kỷ lục. Giá quặng sắt giao kỳ hạn tháng 5 tại Sở giao dịch hàng hóa Đại Liên đóng cửa giảm 1,3% xuống còn 514,5 NDT (tương đương 81 USD)/tấn. Trong phiên trước đó, giá quặng sắt đạt 511 NDT/tấn, mức thấp nhất kể từ ngày 28/12.

Nhập khẩu quặng sắt của Trung Quốc trong tháng 1/2018 hồi phục lên mức cao kỷ lục tháng thứ 6, do các nhà sản xuất thép bổ sung dự trữ trước kỳ nghỉ lễ kéo dài 1 tuần và kết thúc cắt giảm sản lượng thép trong tháng tới.

Sự gia tăng nhập khẩu quặng sắt trong 2 tháng đầu năm cho thấy rằng, các nhà máy thép cụ thể tại khu vực phía bắc Trung Quốc đang chuẩn bị tăng sản lượng khi việc hạn chế sản xuất được dỡ bỏ trong tháng 3/2018.

Trung Quốc ra lệnh cho 28 thành phố phía bắc cắt giảm sản lượng thép lên đến 50% từ giữa tháng 11/2017, là một phần trong nỗ lực chống khói bụi. Việc hạn chế sản xuất thép sẽ được dỡ bỏ sau ngày 15/3, khi việc sưởi ấm trong mùa đông kết thúc.

Các nước cung cấp quặng sắt hàng đầu như AustraliaBrazil cũng xuất khẩu khối lượng lớn trong tháng 1/2018. Xuất khẩu từ Port Hedland Australia đạt 41,1 triệu tấn và xuất khẩu từ Brazil đạt 30,4 triệu tấn, cả hai đạt mức cao kỷ lục trong tháng 1/2018, Helen Lau, nhà phân tích tại Argonaut Securities cho biết.

Nhập khẩu quặng sắt từ Iran trong tháng 1/2018 - nước cung cấp lớn thứ 5 của Trung Quốc trong năm 2017 – tăng 29% lên 1,54 triệu tấn, do các nhà xuất khẩu đẩy mạnh các lô hàng bán ra trước khi thuế xuất khẩu tăng trong tháng tới, Keyvan Jafari Tehrani, giám đốc quản lý tại Jame Tejarat Co. cho biết.

Tính chung trên toàn thế giới, sản lượng quặng sắt giai đoạn 2018-2027 tăng khá khiếm tốn từ 3,26 tỷ tấn lên 3,38 tỷ tấn, tương đương tăng 0,5%/năm. Con số này thấp hơn nhiều so với mức tăng trưởng trung bình giai đoạn 2008-2017 là 4,8%.

Thép

Sản lượng thép thô thế giới tăng bất chấp  sản xuất giảm ở Trung Quốc

Sản lượng thép thô thế giới tiếp tục tăng trưởng trong tháng 1 dù Trung Quốc thực hiện chính sách giảm sản xuất.  Sản lượng toàn cầu trong tháng là 139,4 triệu tấn, tăng 0,8% so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, công suất sử dụng ở mức 70%, giảm 0,2% so với cùng kỳ năm ngoái.

Sản lượng tại Trung Quốc giảm 0,9% so với cùng kỳ năm ngoái xuống 67 triệu tấn nhưng nhìn chung sản lượng Châu Á tăng 0,3%. Tại EU, sản lượng tăng 1,45% lên 14,4 triệu tấn, với mức tăng trưởng ở Ý là 5,3%. Sản lượng Thổ Nhĩ Kỳ vẫn mạnh với mức tăng 7,6% so với cùng kỳ năm ngoái lên 3,2 triệu tấn trong khi Nga giảm 3,9% xuống 5,7 triệu tấn.

Sản lượng Bắc Mỹ giảm với mức giảm 2,2% ở Mỹ, dù giá tăng nhanh và nhập khẩu giảm bởi các rào cản thuế quan.

Tại Nam Mỹ, sản lượng tăng 3,2% lên 3,6 triệu tấn. Braxin duy trì tốc độ tăng trưởng vừa phải 1,3%.

Châu Phi tăng 15,1% và Trung Đông tăng 11,4%, khu vực gia tăng mạnh nhất, với Ai Cập và Iran là các nước gia tăng mạnh. Sản lượng thép thô Úc tăng 12,9%.

Chiến tranh thương mại có thể bùng nổ nếu Mỹ tăng thuế thép. Năm ngoái, Tổng thống Donald Trump phát động điều tra thép và nhôm nhập khẩu theo Mục 232 Đạo luật Thương mại mở rộng năm 1962 do ông cho rằng những sản phẩm này đe dọa tới an ninh nước Mỹ. Ông Trump ủng hộ việc áp thuế đối với thép nhập khẩu.

Tuy nhiên, các quốc gia khác có thể trả đũa bằng hàng rào thuế quan của họ. Liên minh Châu Âu (EU) là nhà xuất khẩu thép lớn sang Mỹ. Một hãng tin Đức hôm 20/2 cho hay EU đang lên kế hoạch áp thuế đối với một số sản phẩm nhập khẩu từ Mỹ như nông sản, xe máy Harley-Davidson, rượu whisky ngô...Tương tự, Trung Quốc sẽ trả đũa bằng thuế nhập khẩu đậu tương từ Mỹ.

Ngày 16/2, Bộ Thương mại Mỹ (DOC) đã ban hành công khai báo cáo đệ trình tổng thống xem xét, quyết định biện pháp áp dụng nhằm hạn chế nhập khẩu thép và nhôm theo Mục 232 Đạo luật Thương mại mở rộng năm 1962 (Trade Expansion Act). Mục 232 quy định về việc Tổng thống Mỹ có thể áp dụng biện pháp hạn chế đối với hàng nhập khẩu vì lý do an ninh quốc gia.

Trong báo cáo, DOC khuyến nghị một số phương án hạn chế nhập khẩu áp dụng đối với nhôm và thép dưới hình thức thuế quan hoặc hạn ngạch nhập khẩu, áp dụng với tất cả các nước/vùng lãnh thổ hoặc một nhóm nước/vùng lãnh thổ xuất khẩu các mặt hàng này vào Mỹ.

Sau khi nhận được báo cáo của DOC, Tổng thống Donald Trump sẽ xem xét và ban hành quyết định cuối cùng về áp dụng hoặc không áp dụng, mức độ áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu đối với thép (trước ngày 11/4) và với nhôm (trước ngày 19/4). 

Dầu thô

Giá tăng mạnh


Hai tuần đầu năm mới, giá dầu thô liên tiếp tăng do hàng loạt những thông tin hậu thuẫn xu hướng này, cụ thể là tình hình bất ổn chính trị tại một số quốc gia sản xuất dầu chủ chốt, cũng như việc tuân thủ thỏa thuận cắt giảm sản lượng của các nước trong và ngoài Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC). Phiên giao dịch 4/1, giá dầu đã lên mức cao nhất kể từ giữa năm 2015 do bất ổn địa chính trị và báo cáo về lượng dầu dự trữ tại Mỹ. Cơ quan Thông tin năng lượng Mỹ cho hay lượng dầu thô dự trữ của nước này trong tuần tính đến ngày 29/12/2017 đã giảm 7,4 triệu thùng, giảm sâu hơn dự báo của các nhà kinh tế, giữa bối cảnh các nhà máy lọc dầu hoạt động với công suất cao nhất kể từ năm 2005. Phiên 12/1, giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 2/2018 trên sàn New York tăng 50 US cent (0,8%), lên 64,30 USD/thùng. Tính chung trong tuần giữa tháng 1, giá dầu này tăng 4,7%. Trong khi đó, giá dầu Brent Biển Bắc giao tháng 3/2018 trên sàn London cũng tăng 61 US cent (0,9%), lên 69,87 USD/thùng, ghi nhận mức tăng 3,3% trong thời gian này.

Báo cáo từ Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) cho thấy dự trữ dầu của nước này đã giảm 4,9 triệu thùng xuống 419,5 triệu thùng trong tuần kết thúc vào ngày 5/1, chạm mức thấp nhất kể từ tháng 8/2015, cũng góp phần đẩy giá dầu đi lên.

Trung tuần tháng 1, giá dầu giảm mạnh nhất kể từ đầu tháng 10/2017. Phiên giao dịch cuối tuần (19/1) giá dầu thô Brent giảm 70 UScent tương đương 1% xuống 68,37 USD/thùng, trong phiên có lúc giá chỉ 68,28 USD. Đầu tuần (15/1) giá loại dầu này đã lên mức 70,37 USD, cao nhất kể từ tháng 12/2014. Tuy nhiên, tính chung cả tuần giá giảm 1,8%, mức sụt giảm mạnh nhất kể từ đầu tháng 12/2017. Dầu thô ngọt nhẹ (WTI) cũng giảm giá 58 UScent trong phiên cuối tuần, tương đương 0,9% xuống 64,89 USD/thùng. Loại dầu này phiên 16/1 đã chạm mức cao nhất kể từ tháng 12/2014 là 64,89 USD/thùng. Tính chung cả tuần, giá giảm 1,5%, mạnh nhất kể từ đầu tháng 10/2017.

Tuần cuối tháng 1, giá dầu lại tăng lên, có lúc lên mức cao kỷ lục 3 năm. Phiên 26/1, dầu Brent tăng 10 US cent tương đương 0,1% lên 70,52 USD/thùng, sau khi có lúc lên 70,83 USD, mức cao nhất kể từ 2014; Dầu thô ngọt nhẹ (WTI) tăng 63 US cent, tương đương gần 1% lên 66,14 USD/thùng. Tính chung cả tuần, giá dầu Brent tăng gần 2,7%, trong khi dầu WTI tăng 4,3%.

Đồng USD yếu góp phần đắc lực đẩy giá dầu tăng trong tuần này. USD đã xuống mức thấp nhất 3 năm so với rổ các đồng tiền chủ chốt. Việc đồng USD giảm sẽ giúp giá dầu rẻ hơn so với các đồng tiền khác, thúc đẩy hoạt động mua vào. Tính chung trong cả tháng 1, giá dầu WTI tăng 7,1%, trong khi dầu Brent tăng 3,2%.

Bước sang tháng 2, dầu thô ngọt nhẹ WTI đã giảm 1% và dầu Brent giảm 2,2% trong tuần đầu tháng. Tuần này, Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) cho biết sản lượng dầu tại Mỹ trong tháng 11/2017 đã vượt mốc 10 triệu thùng/ngày lần đầu tiên trong gần 50 năm, qua đó làm dấy lên lo ngại thị trường sẽ trong tình trạng bão hòa dầu thô.

Tuy nhiên, giá dầu vẫn tìm thấy hỗ trợ từ sự tuân thủ thỏa thuận cắt giảm sản lượng của các thành viên Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC). Mức độ tuân thủ thỏa thuận cắt giảm của các nhà sản xuất trong và ngoài OPEC tăng lên mức 138% trong tháng 1/2018, một cuộc khảo sát của Reuters cho thấy.

Tuần tiếp theo, giá dầu Brent giảm gần 9%, còn giá dầu thô ngọt nhẹ New York (WTI) giảm 10%. Đây là mức giảm hàng tuần sâu nhất kể từ tháng 1/2016 của hai loại dầu này. Phiên cuối tuần (9/2) dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giảm 1,95 USD (3,2%) xuống 59,20 USD/thùng, mức thấp nhất kể từ ngày 22/12/2017. Đây là lần đầu tiên kể từ tháng 12/2017 dầu WTI xuống dưới ngưỡng 60 USD/thùng. Trong khi đó, giá dầu Brent giảm 2,02 USD (3,1%) xuống 62,79 USD/thùng, mức thấp nhất kể từ ngày 13/12/2017.

Đồng USD mạnh lên và chứng khoán thế giới giảm giá đã tác động tới thị trường hàng hóa. Bên cạnh đó, thống kê cho thấy sản lượng dầu của Mỹ đã lần đầu tiên kể từ năm 1970 vượt mức 10 triệu thùng/ngày trong tháng 11/2017.

Bất chấp nỗ lực cắt giảm sản lượng của các nước trong và ngoài Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC), nguồn cung của thị trường dầu mỏ hiện vẫn khá dồi dào.

Sự phục hồi của thị trường chứng khoán và đồng USD yếu đã giúp giá dầu quay đầu đi lên trong hai tuần cuối tháng 2. Ngoài ra, tình hình căng thẳng ở Trung Đông cũng hỗ trợ giá dầu, giữa bối cảnh một trong những vụ bạo lực nghiêm trọng nhất xảy ra tại khu vực biên giới giữa IsraelPalestine kể từ năm 2014.

Phiên giao dịch 16/2, giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) trên sàn New York tăng 34 US cent (0,6%) lên 61,68 USD/thùng; dầu Brent trên sàn London tăng 51 US cent (0,8%) lên 64,84 USD/thùng, sau khi có lúc chạm mức cao nhất tám ngày qua. Phiên 23/2, giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 4/2018 trên sàn New York đóng cửa tăng 0,78 USD (tương đương 1,2%) lên 63,55 USD/thùng; dầu Brent trên sàn London tăng 0,92 USD (tương đương 1,4%) lên 67,31 USD/thùng.

Tính chung trung tuần tháng 2,  giá dầu WTI tăng 4%, dầu Brent tăng hơn 3%. Còn trong tuần cuối tháng 2, giá dầu WTI tăng 3,3%, còn dầu Brent tăng 3,8%. Tuy nhiên, so với đầu tháng 2, giá dầu WTI vẫn mất 1,8%.

Các chuyên gia nhận định trong năm 2018, rủi ro địa - chính trị, sản lượng dầu đá phiến Mỹ, đà tăng trưởng kinh tế toàn cầu, chính sách của OPEC và động thái của các quỹ đầu cơ sẽ là những yếu tố chủ chốt chi phối biến động của giá dầu.  

Than đá

Giá tăng cao kéo dài bất thường do nhu cầu mạnh từ châu Á

Mùa đông sắp qua đi, thông thường tầm này mọi năm giá than nhiệt trên thị trường châu Á giảm theo mùa vụ do nhu cầu đã qua giai đoạn cao điểm. Tuy nhiên lúc này giá nhiên liệu dùng trong các nhà máy nhiệt điện này vẫn duy trì cao.

Giá than nhiệt giao ngay tại cảng Newcastle (Australia) - tham chiếu cho thị trường toàn khu vực - ở mức 108,75 USD/tấn vào ngày 19/1, không xa mấy so với mức cao nhất trong năm là 109,50 USD/tấn đạt được hôm 17/1.

Từ cuối năm ngoái tới nay, giá than nhiệt châu Á đã tăng 5,8%, và tính từ ngày 23/11 tới nay giá tăng mạnh 18%.

Sự sôi động ở các cảng biển Trung Quốc - nước nhập khẩu than lớn nhất thế giới - cho thấy nhu cầu không hề giảm sút. Không chỉ nhu cầu than của Trung Quốc tăng trong tháng 1, dường như nhu cầu ở các nước nhập khẩu hàng đầu châu Á khác cũng gia tăng.

Ước tính Trung Quốc sẽ nhập khẩu khoảng 20,9 triệu tấn than, gồm cả than nhiệt và than cốc, trong tháng 1, tăng so với 17,2 triệu tấn của tháng 12/2017 và 19,1 triệu tấn của tháng 11/2017.

Con số ước tính này mới chỉ dựa vào những tàu đã bốc xếp xong, hoặc đang chờ để bốc xếp lên cảng, hoặc đang trên đường đi và dự kiến sẽ cập cảng trước khi kết thúc tháng.

Nếu con số ước tính này là chính xác thì đây sẽ là tháng nhập khẩu than vào Trung Quốc đạt mức cao nhất kể từ tháng 9 năm ngoái.

Nhật Bản, nước nhập khẩu than lớn thứ 3 châu Á, cũng đang rất tích cực mua mặt hàng này, với khối lượng dự kiến đạt 18,2 triệu tấn trong tháng 1, so với 16,3 triệu tấn của tháng 12 và 15,2 triệu tấn của tháng 11 năm ngoái.

Nhập khẩu vào Hàn Quốc - thị trường lớn thứ 4 - chắc chắn cũng sẽ cao trong tháng 1, với khoảng 11,8 triệu tấn, cao hơn mức 9,7 triệu tấn của tháng 11/2017.

Còn nhập khẩu vào Ấn Độ dự kiến đạt 16,1 triệu tấn, mặc dù giảm nhẹ so với 18 triệu tấn của tháng 12/2017 khi nhập khẩu nhiều thứ 2 châu Á, nhưng không thấp hơn mấy so với mức cao nhất kể từ tháng 6/2016 đạt được vào tháng cuối năm 2017.

Về phía nguồn cung, các số liệu theo dõi tàu biển cho thấy xuất khẩu của nhà cung cấp số 1 là Australia trong tháng 1/2018 đạt mức cao kỷ lục, với khoảng 38,5 triệu tấn than nhiệt và than cốc, cao nhất kể từ tháng 1/2015. Như vậy, xuất khẩu trong tháng này tăng mạnh so với 31,3 triệu tấn của tháng 12/2017 và 28,1 triệu tấn của tháng 11.

Xuất khẩu của Indonesia - nước cung cấp lớn thứ 2 - cũng tăng lên 27,7 triệu tấn, từ mức 26,1 triệu tấn của tháng 12 và 27,8 triệu tấn của tháng 11.

Bức tranh chung của thị trường than cho thấy sự nổi bật của thị trường than châu Á, không chỉ trong những tháng đầu năm này mà từ 2 tháng cuối năm ngoái. Đồ thị phân tích cho thấy giá sẽ duy trì ở mức trên 100 USD/tấn cho tới tận tháng 6.

Năm 2016 khi giá than tăng năm đầu tiên sau 5 năm suy giảm, các hợp đồng giao ngay tại Newcastle đã lên mức cao nhất vào tháng 11, sau đó giảm khoảng 38% xuống mức thấp vào tháng 5/2017.

Trên thực tế có nhiều yếu tố có thể kéo giá than giảm trở lại. Đó là cuộc chiến chống ô nhiễm không khí ở Trung Quốc có thể dẫn tới việc hạn chế sử dụng than, và nhu cầu nhập khẩu than trong nước có thể cũng sẽ suy giảm khi sản lượng hồi phục (sản lượng than Trung Quốc năm 2017 đã tăng 3,2% so với năm trước lên 3,45 tỷ tấn trong năm 2017). Tân Hoa Xã đưa tin các doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc sẽ nhắm tới mục tiêu cắt giảm 12,65 triệu tấn công suất than trong năm 2018.

Ấn Độ cũng duy trì chính sách giảm nhập khẩu than xuống thậm chí không nhập nữa đồng thời thúc đẩy sản xuất trong nước và tăng cường các nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng gió và năng lượng mặt trời.

Nhật Bản đã từng tăng cường sử dụng than khi ngừng các nhà máy điện nguyên tử, nhưng hiện đang đưa những nhà máy này hoạt động trở lại bởi nhiên liệu than đá gây nhiều ô nhiễm.

Như vậy, mặc dù than đá đang có khởi đầu năm 2018 thuận lợi một cách khác thường, với nhu cầu tăng mạnh.  

Cao su

Thị trường có tín hiệu khởi sắc

Mặc dù các thị trường cao su kết thúc năm 2017 trong nốt trầm song hai tháng đầu năm đã có những tín hiệu khởi sắc, giá cao su kỳ hạn giao tháng 6 tại TOCOM đã có lúc tăng lên 210,5 Yên (tương đương 1, 9 USD/kg) - mức cao nhất kể từ ngày 28/12/2017. Tuy nhiên, kết thúc tháng 1, giá giảm gần 7%. Phiên 31/1, giá cao su kỳ hạn tại Sở giao dịch hàng hóa Tokyo (TOCOM) giảm phiên thứ 3 liên tiếp, chạm mức thấp nhất trong hơn 2 tháng - 192,7 yên/kg.

Bước sang tháng 2, giá cao su tại các thị trường TOCOM, SICOM và MRE tăng do giá dầu tăng trở lại và giá cao su kỳ hạn tại Thượng Hải tăng. Trong tuần từ ngày 19/02 đến 22/02/2018, giá cao su thiên nhiên tại các sàn giao dịch TOCOM, SICOM và MRE tăng so với cuối tuần trước. Kết thúc phiên ngày 23/02, giá cao su RSS 3 trên Sàn Giao dịch Hàng hóa Tokyo – Nhật Bản (TOCOM) giao tháng 7/2018 là 1,700 USD/tấn, tăng 4,4% so với cuối tuần trước đó; giá cao su TSR 20 kỳ hạn tháng 02/2018 trên sàn SICOM (Singapore) là 1.470 USD/tấn (+1,8%); giá cao su xuất khẩu SMR 20 của Malaysia do Tổng cục Cao su Malaysia (MRB) công bố ở mức 1.469 USD/tấn (+1,4%);

Giá được cải thiện bởi những yếu tố cung cầu, chính sách, tỷ giá tiền tệ và giá dầu trên thế giới. Theo dự báo của các chuyên gia, giá cao su TSR20 (SICOM) sẽ đạt mức 2.450 USD/tấn trong quý 1/2018.

Giá dầu trên thị trường thế giới xu hướng đi lên ngay từ đầu năm 2018, do các nhà đầu cơ đặt cược giá tăng trong tương lai với bối cảnh OPEC cắt giảm sản lượng và hoạt động khoan dầu tại Mỹ. Giá cao su thiên nhiên còn chịu ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ. Theo như dự báo của nhiều chuyên gia, vào cuối 2017 và đầu năm 2018, giá cao su có thể bước vào một đợt phục hồi mới khi đây là thời gian cây cao su vào mùa rụng lá và ngừng thu hoạch mủ ở nhiều nước.

Ba nước xuất khẩu cao su lớn trên thế giới đó là Indonesia, Malasyia và Thái Lan (chiếm gần 70%) đã đồng ý cắt giảm 350.000 tấn cao su từ ngày 22/12/2017 đến 31/3/2018. Đây là lần thứ 5 kể từ năm 2012 đến nay Hội đồng Cao su quốc tế ba bên (ITRC) đồng ý triển khai kế hoạch giải cứu cao su. Theo đó, Thái Lan giảm khoảng 230 nghìn tấn, Indonesia 95 nghìn tấn và Malasyia 20 nghìn tấn. Ngoài ra, giai đoạn mùa đông khai thác thấp điểm và sản lượng vốn đã giảm có thể giúp đẩy giá cao su tăng và kỳ vọng sẽ đạt 60 Baht/kg.

Chủ tịch danh dự của Hiệp hội Cao su Thái Lan, kiêm giám đốc IRCo, Luckchai cho hay, năm 2018 sản lượng cao su tự nhiên của Thái Lan dự báo đạt 4,4 triệu tấn, tăng 3,4% hay 150.000 tấn so với năm 2017. Nhưng tiêu thụ tại thị trường nội địa ước đạt 700.000 tấn, tăng 11,4% so so với năm 2017. Xuất khẩu năm 2018 dự báo giảm 5,2% xuống còn 3,6 triệu tấn, so với mức 3,8 triệu tấn trong năm 2017.

Trung Quốc - nước tiêu thụ cao su tự nhiên lớn trên thế giới, cũng tăng nhập khẩu cao su tự nhiên từ các nước Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam để đáp ứng nhu cầu nội địa. Theo Trung tâm Thông tin Hải quan Trung Quốc thì trong 10 tháng năm 2017, Trung Quốc đã nhập khẩu 15,45 tỷ USD mặt hàng cao su, tăng 45,7% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó Việt Nam đứng thứ 4 về cung cấp cao su cho Trung Quốc.   

Phân bón

Giá tiếp tục tăng

Tính đến hết tháng 1/2018 giá phân bón tăng do chịu áp lực vì nguồn cung thiếu hụt từ Trung Quốc - quốc gia sản xuất phân bón lớn trên thế giới.

Trên thị trường thế giới, giá phân bón đã tăng 5% so với tháng 12/2017, giá bình quân đạt 485 USD/tấn, trong đó DAP 456 USD/tấn tăng 2,4%; MAP 491 USD/tấn tăng 13,3% và Ure 355 USD/tấn, tăng 2,6%.

Thị trường Ấn Độ nhu cầu phân bón trong tháng 1/2018 vẫn khá cao tại một số khu vực trong nước, trong khi nguồn cung thiếu hụt do sau phiên thầu cuối tháng 12/2017 Ấn Độ chỉ mua được 387.000 tấn Ure nguồn gốc từ Iran, khi tồn kho tính đến cuối tháng 12 chỉ khoảng 660.000 tấn.

Tại Indonesia, Pusri vừa chào 4 lô Ure hạt trong 5.000 tấn giao tháng 2/2018 đã bán hết cho Aries, Liven và Universai Harvester. Mặc dù chỉ bán được ở mức giá 290 USD/tấn, FOB, thấp hơn 20 USD/tấn so với mức giá bán tối thiểu đề ra trước đó là 310 USD/tấn FOB Paembang. Tuy nhiên, mức giá này cũng đã cao hơn 20-25 USD/tấn so với mức giá giao dịch Ure gần nhất tại nước này.

Thị trường Trung Quốc giá phân bón vẫn xu hướng tăng và đứng ở mức cao bởi nguồn cung cho thị trường nội địa thiếu hụt, do nước này cắt giảm công suất của các nhà máy sản xuất phân bón, tăng sử dụng khí (nguyên liệu sản xuất phân bón) trong chiến dịch sưởi ấm bằng khí đốt cho hàng triệu gia đình trong mùa đông năm 2018.

Giá phân bón xu hướng tăng, nhiều câu hỏi được đặt ra liệu người nông dân có thay đổi cách thức sử dụng phân bón cho cây trồng trong năm 2018 hay không. Họ sẽ sử dụng ít phân bón, thay đổi các dạng phân bón khác nhau thậm chí có thể thay đổi cây trồng để hạn chế nhu cầu chất dinh dưỡng. Điều này sẽ làm nhu cầu sụt giảm.

Dự báo, thời gian tới sự thiếu hụt Ure ở Châu Á và khoảng cách lớn giữa giá ở Trung Quốc và các thị trường khác có thể sẽ giữ giá Ure ở mức cao. Trong khi đó, Trung Quốc lại hầu như không xuất khẩu Ure nên người mua Châu Á phải tìm kiếm thu mua tại các thị trường khác, giá có thể sẽ còn tăng nữa.

Theo nguồn tin từ Reuters, để đảm bảo nguồn cung phân bón và giá ổn định cho thị trường nội địa phục vụ cho vụ xuân sắp tới, Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia (NRDC) Trung Quốc yêu cầu các nhà sản xuất than và khí đốt, bao gồm China National Petroleum Corp, Sinopec and CNOOC, ký ngay các hợp đồng giao hàng và tăng cường nỗ lực do mùa sưởi ấm sắp kết thúc, nhằm đảm bảo cả nguồn cung nhiên liệu lẫn đầu vào cho các nhà sản xuất phân bón. NRDC cũng yêu cầu các cơ quan đường sắt ưu tiên vận chuyển phân bón và nguyên liệu thô để chuẩn bị cho sản xuất nông nghiệp vụ xuân.

Trung Quốc sẽ bổ sung thêm 5,5 triệu tấn phân bón vào kho dự trữ cho thời hạn sử dụng 2 năm, đề phòng trường hợp khan hiếm nguồn cung phân bón cho sản xuất vụ xuân trong tương lai. NDRC cũng yêu cầu chính quyền địa phương và các công ty hướng dẫn nông dân giảm sử dụng phân bón hóa học và chuyển sang phân bón hữu cơ. Bắc Kinh đang đặt mục tiêu tăng trưởng 0% sử dụng phân bón và thuốc BVTV hóa học đến năm 2020.

Với kế hoạch này của Chính phủ Trung Quốc, thời gian tới nguồn cung phân bón trên thị trường thế giới sẽ thiếu hụt. 

Đường

Giá giảm do áp lực nguồn cung gia tăng trên toàn cầu

Sau khi giảm 22% trong năm 2017, thị trường đường tiếp tục giảm giá trong hai tháng đầu năm 2018. Có dấu hiệu cho thấy Brazil sẽ tăng cường sản xuất đường. Một số nước châu Á và Liên minh châu Âu cũng đang thu hoạch mía. Tại nước sản xuất lớn nhất thế giới - Brazil, các nhà máy có thể chọn tăng sản xuất đường hoặc ethanol.

Phiên 12/1, giá đường giảm xuống mức thấp nhất 3 tuần rưỡi và là phiên thứ 7 liên tiếp giảm giá.

Đường trắng giao tháng 3 giá giảm 1,9 USD tương đương 0,5%, xuống 375 USD/tấn, trong phiên có lúc giá chỉ 370,50 USD/tấn, thấp nhất kể từ 19/12.

Phiên 24/1, giá đường trắng trên sàn ICE kỳ hạn đã giảm xuống mức thấp nhất trong hơn hai năm do nguồn cung toàn cầu dồi dào. Giá đường trắng kỳ hạn tháng 3 thiết lập giảm 90 cent, tương đương 0,3% xuống ở 352 USD/tấn sau khi giảm sâu xuống ở 351,2 USD, mức thấp nhất kể từ tháng 9/2015. Nguồn cung đường trắng được nâng lên một phần do sản xuất tăng mạnh ở châu Âu.

Phiên cuối tháng 1, giá đường thô giao tháng 3 giảm 0,49 UScent tương đương 3,6% xuống 13,23 UScent/lb; đường trắng giao cùng kỳ hạn giảm 9,9 USD tương đương 2,7% xuống 352,40 USD/tấn. Tính chung trong tháng 1, giá đường giảm gần 13%.

Bước sang tháng 2, giá đường tiếp tục giảm nhẹ.  Giá giảm trong 3 tuần đầu tháng và quay đầu tăng trở lại trong tuần cuối tháng. Phiên giao dịch 23/2, giá đường thô giao tháng 5 giảm 0,12 UScent tương đương 0,9% xuống 13,46 US cent/lb, tính chung cả tuần giá tăng 1,4%, là tuần tăng đầu tiên trong vòng 3 tuần. Đường trắng giao cùng kỳ hạn giảm 1 USD tương đương 0,3% xuống 361,90 USD/tấn, sau khi có lúc lên tới mức cao kỷ lục kể từ 18/1 là 364 USD/tấn.

Hoạt động mua vào từ phía các nhà đầu tư đã giúp giá đường hồi phục từ mức thấp nhất 3 tháng rưỡi chạm tới vào giữa tháng 1/2018 (13,02 UScent), nhưng hoạt động bán ra từ các nhà sản xuất đã hạn chế đà tăng giá mặt hàng này.

Thị trường đường thế giới năm 2017/18 dự kiến sẽ dư thừa nhiều hơn dự kiến, do nguồn cung tăng lên ở nhiều thị trường chủ chốt.

Sản lượng của Ấn Độ niên vụ 2017/18 dự báo sẽ tăng 33% so với năm trước, lên 27 triệu tấn, nên nước sản xuất lớn thứ 2 thế giới này có thể sẽ xuất khẩu đường trong năm nay, theo dự báo của ED&F Man.

Sản lượng đường Thái Lan dự báo sẽ cao kỷ lục, gia tăng áp lực nguồn cung lên thị trường vốn đang trở nên dư thừa.

Sản lượng đường Mỹ cũng sẽ bội thu. USDA vừa nâng dự báo về sản lượng đường Mỹ năm marketing 2017/18 lên mức cao kỷ lục do sản lượng mía tăng thừa sức bù lại cho sản lượng củ cải giảm.

Dự báo nhập khẩu đường từ Mexico vào Mỹ sẽ không đổi ở mức 1,3 triệu tấn. Nhập khẩu từ Mexico dự báo tăng 44.000 tấn nhưng bù lại xuất khẩu đường Mỹ ra thế giới sẽ tăng lên.

(TTGCVT/M.Anh tổng hợp)

 

 

 

 


 

Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (024) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (024) 39762593 
Email:ttgcvattu1989@gmail.com