Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Thị trường hàng hóa nguyên liệu trong nước tháng 12/2017
Cập nhật: 28-12-2017

VÀNG   

Tháng 12: Giá vàng trồi sụt quanh mốc 36,5 triệu đồng


Mặc dù là tháng cuối cùng của năm, lại trùng vào mùa cưới, nhưng tháng 12/2017 hầu như giá vàng trong nước không có biến động nhiều. Trước áp lực tăng giảm của vàng thế giới và các thông tin tài chính gây áp lực liên tiếp, nhưng dường như vàng trong nước vẫn tỏ ra “bình thản” và hầu như nằm ngoài các biến động đó.  

Trong suốt cả tháng 12, giá vàng chủ yếu xoay quanh mức 36,3 triệu đồng/lượng (chiều mua vào) và 36,5 triệu đồng/lượng (chiều bán ra). Hầu hết qua nhiều phiên giao dịch trong tháng, lượng khách mua vàng nhỏ lẻ chiếm tới 60% lượng khách giao dịch tại các điểm kinh doanh vàng. Nhìn chung với xu hướng chưa rõ ràng, các giao phát sinh chỉ dừng lại ở mức trung bình. Chính vì vậy bao trùm bầu không khí chung là ảm đạm. Dường như các nhà đầu tư vẫn chưa tìm lại được sức hấp dẫn của vàng nên đứng ngoài thị trường.  

Thời điểm cuối tháng 12, giá vàng có xu hướng tăng nhẹ. Vào sáng ngày 27/12, giá vàng miếng trong nước được Tập Đoàn Vàng bạc đá quý DOJI niêm yết ở mức: 36,42 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,51 triệu đồng/lượng (bán ra). Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn niêm yết giá vàng SJC ở mức 36,30 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,57 triệu đồng/lượng (bán ra). Vàng thế giới quy đổi theo giá USD ngân hàng có giá 35,5 triệu đồng/lượng, chưa tính thuế và phí, thấp hơn giá vàng trong nước khoảng 1,2 triệu đồng/lượng. 

ĐÔ LA 

Tỷ giá trung tâm liên tục biến động, giá USD tại Ngân hàng tương đối ổn định

Trái ngược với sự bình lặng của giá vàng, tỷ giá trung tâm trong tháng 12 vẫn “nóng’. Mặc dù chưa phải là mức tỷ giá cao so với nhiều năm trước, nhưng sự biến động của tỷ giá ở tháng cuối cùng của năm 2017 đã phản ánh rõ nét nhu cầu về ngoại tệ của thị trường. Mặc khác, sự biến động của tỷ giá trung tâm đã cho thấy các nhà điều hành kinh tế đã luôn bám sát diễn biến của thị trường tài chính thế giới và cả ở trong nước, nhằm mục tiêu bình ổn thị trường.   

Trong tháng 12, mức thấp nhất của tỷ giá trung tâm là 22.429 đồng/USD và mức cao nhất là 22.454 đồng/USD.  

Tại các Ngân hàng thương mại, giá đồng USD giao dịch phổ biến ở mức 22.680 đồng (mua vào) và 22.750 đồng (bán ra). 

Tính từ đầu tháng 6, tỷ giá đồng đô la Mỹ trong hệ thống ngân hàng tăng 15-20 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra. Giá USD trên thị trường chợ đen đứng ở mức: 22.740 - 22.760 đồng/USD. 

THÉP

Giá thép tăng trở lại trong tháng 12

Thép đã có một đợt tăng giá mạnh kể từ hồi tháng 9/2017 rồi lại giảm xuống sau đó. Tuy nhiên bước sang tháng 12/2017, giá thép đã tăng trở lại. Theo Tổng Công ty thép Việt Nam, giá thép tại các nhà máy 15 ngày đầu tháng 12/2017 tăng khoảng 100-400 đồng/kg so với cuối tháng 11/2017. Nguyên nhân là do giá nguyên liệu phôi thép nhập khẩu tăng nên doanh nghiệp sản xuất điều chỉnh theo biến động của nguyên liệu đầu vào. Cụ thể, giá phế liệu từ 230 USD/tấn lên 350 USD/tấn, giá quặng sắt tại Trung Quốc từ dưới 60 USD/tấn lên hơn 70 USD/tấn. Giá chào bán phôi tấm tại châu Á tăng thêm 20 USD/tấn so với cuối tháng 11. Bên cạnh đó, một chuyên gia trong ngành còn cho rằng đợt biến động giá thép trong nước còn xuất phát từ nhu cầu tiêu thụ tại Trung Quốc gia tăng trong bối cảnh nước này cắt giảm sản xuất. Giá tăng khiến các nhà máy chuyển hướng tập trung cung cấp cho thị trường nội địa, khiến tổng lượng thép xuất khẩu của Trung Quốc sang khu vực Đông Nam Á giảm 42% trong 9 tháng qua và dự báo sẽ tiếp tục giảm trong năm 2018. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, nguyên nhân dẫn đến giá thép xây dựng tăng mạnh như hiện nay còn là bởi tâm lí “thổi giá” của một số doanh nghiệp và các cửa hàng kinh doanh nhỏ lẻ. Nhìn chung sau những đợt tăng giá bất thường này, được hưởng lợi nhất vẫn là các doanh nghiệp thép trong khi đó thì người dân bị “móc túi” mà không hề hay biết? 

Giá thép tăng đang khiến nhiều công ty xây dựng và các gia đình lo lắng vì đang là mùa cao điểm xây dựng, sửa chữa nhà cửa. Theo khảo sát, giá thép bán ra tại phía nam của một số nhà máy đã lên khoảng 13,5 – 13,6 triệu đồng, chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng. Nếu cộng thêm 10% VAT, giá bán tại các nhà máy lên sát 15 triệu đồng/tấn, giá bán lẻ đến tay người tiêu dùng trong khoảng 15,5 – 15,7 triệu đồng/tấn. Nếu các doanh nghiệp (DN) tiếp tục tăng giá lên trong những ngày tới thì giá bán lẻ thép sẽ lên sát mức 16 triệu đồng/tấn.  

Về tình hình xuất nhập khẩu, theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, giá nhập khẩu sắt thép trung bình trong 11 tháng đầu năm 2017 đạt khoảng 595,1 USD/tấn, tăng 37,4% so với cùng kỳ năm 2016. Lượng sắt thép nhập khẩu về Việt Nam trong 11 tháng đầu năm 2017 tuy giảm 17,4% về lượng, nhưng kim ngạch lại tăng 13,6% so với 11 tháng đầu năm 2016, đạt 13,89 triệu tấn, trị giá trên 8,26 tỷ USD. Riêng trong tháng 11/2017, giá sắt thép nhập khẩu tăng 3,8% so với tháng 10/2017 và cũng tăng mạnh 35% so với cùng tháng năm 2016, đạt mức 666 USD/tấn. Còn đến ngày 15/12, sắt thép là nhóm nhập khẩu lớn thứ 3 trong cơ cấu hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam. Lũy kế đến 15/12, Việt Nam đã chi hơn 7,6 tỷ USD nhập khẩu 17,65 triệu tấn sắt thép các loại, trong đó phôi thép chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ khoảng hơn 1 triệu tấn, đạt giá trị 320 triệu USD. Như vậy, bình quân mỗi tấn thép có giá khoảng 430 USD. Ở chiều ngược lại, tính đến 15/12, Việt Nam xuất khẩu được 3,2 triệu tấn thép, trị giá 1,8 tỷ USD. Tổng cộng xuất khẩu sắt thép đạt khoảng 3,7 tỷ USD. Như vậy, Việt Nam rơi vào trạng thái nhập siêu lớn trong ngành thép, với mức thâm hụt lên tới 6,7 tỷ USD. Trung Quốc là quán quân xuất khẩu thép vào Việt Nam với gần 10 triệu tấn, tăng 18% so với cùng kỳ. Thứ hai là Nhật Bản với 2,4 triệu tấn, tăng 7%; Hàn Quốc đạt 1,69 triệu tấn, tăng 6,5% so với cùng kỳ.

Trong tháng 12, ngành sản xuất thép trong nước đã phải đón nhận một tin xấu . Đó là vào ngày 5/12, Bộ Thương mại Mỹ đã ra phán quyết áp các mức thuế cực cao dành cho thép nhập khẩu của Việt Nam có xuất xứ từ Trung Quốc, sau khi phát hiện các nhà sản xuất thép Trung Quốc đã trốn tránh các lệnh chống bán phá giá và chống trợ cấp của Mỹ. Mặc dù sản phẩm được chế biến ở Việt Nam để làm thép chống ăn mòn và thép cán nguội, sử dụng trong xe hơi và các thiết bị khác, Bộ Thương mại Mỹ đồng ý với quan điểm của các nhà sản xuất Mỹ rằng 90% sản phẩm bắt nguồn từ Trung Quốc. Sơ bộ, sản phẩm thép cán nguội xuất khẩu từ Việt Nam sẽ phải chịu thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp là 531%, trong khi thép chống ăn mòn sẽ phải đối mặt với mức thuế 238%. Các mức thuế cuối cùng sẽ được công bố vào ngày 16.2. Bộ Thương mại Mỹ cho biết sau khi áp thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm thép Trung Quốc vào năm 2015, lượng thép cuộn cán nguội xuất từ Việt Nam sang Mỹ đã tăng lên 295 triệu USD/năm từ mức 11 triệu USD.

Tuy nhiên, theo thông tin từ Bộ Công Thương, theo quy định tại Hiệp định về Quy tắc xuất xứ của WTO (Tổ chức thương mại thế giới), một sản phẩm sẽ được coi là có xuất xứ của một nước nếu tại nước đó đã diễn ra một quá trình chuyển đổi đáng kể để tạo ra sản phẩm đó. Việt Nam khẳng định việc chuyển đổi từ thép cán nóng sang thép cán nguội và tôn mạ phải được coi là sự "chuyển đổi đáng kể" như Bộ Thương mại Hoa Kỳ đã từng kết luận trước đây và vì vậy, không tồn tại hành vi lẩn tránh thuế như Bộ Thương mại Hoa Kỳ cáo buộc. Bộ Công Thương sẽ tiếp tục phối hợp với các cơ quan liên quan, Hiệp hội Thép Việt Nam và các doanh nghiệp trong giai đoạn tiếp theo của vụ việc để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, phù hợp với quy định tại các Hiệp định có liên quan của WTO. 

XI MĂNG 

Giá xi măng tháng 12 ổn định so với các tháng trước đó

Theo báo cáo của Sở Tài chính các tỉnh, thành phố, giá bán lẻ xi măng 15 ngày đầu tháng 12/2017 cơ bản ổn định so với cuối tháng 11/2017. Tại các tỉnh miền Bắc, miền Trung giá khoảng 1.050.000-1.550.000 đồng/tấn; tại các tỉnh miền Nam khoảng 1.460.000-1.850.000 đồng/tấn. Giá xi măng xuất khẩu tại Hòn Gai 15 ngày đầu tháng 12/2017 ổn định so với 15 ngày đầu tháng 11/2017 ở mức 46,5 USD/tấn. Giá clinker xuất khẩu ở mức 30 USD/tấn FOB Cẩm Phả. 

Theo khảo sát về diễn biến giá xuất khẩu, thì giá xuất khẩu xi măng, clinker năm 2017 có mức giảm so với giai đoạn trước. Hiện tại, giá FOB clinker ở mức 29 - 30 USD/tấn (giảm 25% so với năm 2014), xi măng là 45 - 50 USD/tấn, so với mức 56 - 60 USD/tấn của 2 năm trước.

Với quy mô công suất gần 100 triệu tấn, xuất khẩu đang là lời giải duy nhất cho tình trạng cung vượt nhu cầu tiêu thụ trong nước của ngành công nghiệp xi măng.
 

Nhìn lại cả năm 2017, đã có 17,3 triệu tấn xi măng, clinker được xuất khẩu đã đưa xi măng trở thành một trong những ngành xuất khẩu cán đích sớm trong năm 2017. Theo ông Nguyễn Quang Cung, Chủ tịch Hiệp hội Xi măng Việt Nam, kết quả xuất khẩu vượt chỉ tiêu của ngành xi măng trong năm 2017 rất đáng ghi nhận, bởi hơn một năm qua, doanh nghiệp phải chịu thuế xuất khẩu xi măng 5%, gây khó trong việc cạnh tranh với các đối tác trong khu vực.  

Và sau nhiều lần kêu cứu, mới đây, các doanh nghiệp xi măng trong nước được “thở phào”, khi tại Hội nghị Đối thoại về chính sách và thủ tục hành chính thuế và hải quan năm 2017, ông Vũ Ngọc Anh, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Hải quan cho biết, đã trình Chính phủ sửa đổi Nghị định 100/2016/NĐ - CP, nhằm đưa thuế xuất khẩu xi măng về 0% để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp ngành xi măng.
 

Nếu dự thảo trên sớm được thông qua, đây sẽ là một tin vui với không nhỏ với các doanh nghiệp xuất khẩu xi măng trong nước và chính sự tháo gỡ quan trọng đó sẽ tạo thêm động lực để gia tăng xuất khẩu cho ngành công nghiệp xi măng trong năm 2018. 

Về tình hình tiêu thụ, theo báo cáo gần đây của Vụ Vật liệu xây dựng - Bộ Xây dựng, sản lượng sản phẩm xi măng tiêu thụ năm 2017 ước đạt 80 triệu tấn, tăng 6% so với năm 2016 và đạt 100% kế hoạch; xuất khẩu xi măng khoảng 18,0 triệu tấn, tăng 20% so với năm 2016, đạt 120% kế hoạch. Cả nước hiện có 82 dây chuyền sản xuất xi măng lò quay vận hành với tổng công suất là 97,64 triệu tấn. Sản lượng sản phẩm xi măng khoảng 83 - 85 triệu tấn, tăng 4 - 6% so với năm 2016. 

GAS 

Giá gas tháng 12 tăng nhẹ 1.000 đồng

Sau khi đứng yên trong tháng 11, giá gas tháng 12 đã tăng nhẹ. Theo đó, từ ngày 1-12, giá gas Saigon Petro tăng 1.000 đồng/bình 12 kg nên giá bán lẻ đến người tiêu dùng là 350.000 đồng/bình 12 kg. Công ty Gas Pacific Petro, Citi Petro, Elf gas… cũng tăng 1.000 đồng/bình 12 kg. Giá bán lẻ đến người tiêu dùng không vượt quá 358.000 đồng/bình 12 kg.  

Các công ty gas cho biết do giá gas thế giới tháng 12 công bố 580 USD/tấn, tăng 2,5 USD/tấn so với tháng 11. Vì vậy các công ty điều chỉnh giá tăng theo. 

Đây là lần thứ sáu trong năm 2017 giá gas tăng. 

XĂNG DẦU 

Giá xăng giữ nguyên trong cả hai kỳ điều chỉnh, giá dầu tăng

Trong kỳ điều chỉnh giá vào 15h chiều ngày 5/12, Liên Bộ Công Thương - Tài chính thông báo quyết định về việc điều chỉnh giá xăng dầu như sau: xăng RON 92 giữ ổn định giá, sau khi thực hiện trích lập và chi sử dụng Quỹ bình ổn, xăng RON 92 tối đa không cao hơn 18.580 đồng/lít. Trong khi đó xăng E5 cũng giữ ổn định giá - giá bán không cao hơn 18.243 đồng/lít; Dầu diesel 0.05S tăng 150 đồng/lít, giá bán lẻ không cao hơn 15.169 đồng/lit; Dầu hỏa giá bán không cao hơn 13.617 đồng/lít; Dầu mazut 180CST 3.5S giá bán tối đa 12.382 đồng/kg.  

Được biết, bình quân giá thành phẩm xăng dầu thế giới trong 15 ngày trước ngày 5/ 12 /2017 là: 73,284 USD/thùng xăng RON 92; 74,231 USD/thùng dầu diesel 0.05S; 74,649 USD/thùng dầu hỏa... 

Bộ Công Thương cho biết, cùng với việc điều chỉnh giá bán lẻ, các doanh nghiệp xăng dầu giữ nguyên mức trích lập Quỹ Bình ổn đối với các mặt hàng xăng dầu như hiện hành. 

Mức chi sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu với xăng khoáng RON 92 là 585 đồng/lít (kỳ trước chi sử dụng 600 đồng/lít); xăng E5: 604 đồng/lít (kỳ trước chi sử dụng 600 đồng/lít); dầu diesel 388 đồng/lít (kỳ trước sử dụng 300 đồng/lít); dầu hỏa: 485 đồng/lít (kỳ trước sử dụng 400 đồng/lít); dầu mazut: 239 đồng/kg (kỳ trước chi sử dụng 350đồng/kg). 

Tại kỳ điều chỉnh lần thứ 2 trong tháng 12, Bộ Công Thương cho biết bình quân giá thành phẩm xăng dầu thế giới trong 15 ngày trước ngày 20/12/2017 là: 72,963 USD/thùng xăng RON 92; 74,435 USD/thùng dầu diesel 0.05S; 74,501 USD/thùng dầu hỏa; 360,984 USD/tấn dầu mazut 180CST 3.5S. 

Liên Bộ Công Thương - Tài chính đã quyết định giữ nguyên mức trích lập Quỹ Bình ổn giá xăng dầu đối với các mặt hàng xăng dầu như hiện hành.Chi sử dụng Quỹ bình ổn với xăng khoáng 523 đồng/lít (kỳ trước chi sử dụng 585 đồng/lít); Xăng E5 là 546 đồng/lít (kỳ trước chi sử dụng 604 đồng/lít); Dầu diesel 417 đồng/lít (kỳ trước chi sử dụng 388 đồng/lít); Dầu hỏa 460 đồng/lít (kỳ trước sử dụng 485 đồng/lít); Dầu mazut 80 đồng/kg (kỳ trước chi sử dụng 239 đồng/kg). Sau khi thực hiện trích lập và chi sử dụng Quỹ Bình ổn, Bộ Công Thương giữ ổn định giá các mặt hàng xăng dầu. Như vậy, giá bán xăng RON 92 không cao hơn 18.580 đồng/lít; Xăng E5 không cao hơn 18.243 đồng/lít; Dầu diesel 0.05S không cao hơn 15.169 đồng/lít; Dầu hỏa không cao hơn 13.617 đồng/lít; Dầu mazut 180CST 3.5S không cao hơn 12.382 đồng/kg. Thời gian thực hiện trích lập và chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu đối với các mặt hàng xăng dầu, áp dụng từ 15h ngày 20/12/2017. 

Đây là phiên điều chỉnh giá xăng cuối cùng của năm 2017, ngay trước thời điểm xăng RON 92 bị khai tử, thay thế bằng xăng E5.  

Với xu hướng tăng liên tục trong năm nay, hiện giá xăng RON 92 đang cao hơn so với đầu năm khoảng 1.000 đồng/lít, xăng E5 cao hơn khoảng 600 đồng/lít. Các mặt hàng dầu cao hơn khoảng trên dưới 1.000 đồng/lít. 

Về tình hình xuất nhập khẩu, theo số liệu của Tổng cục Hải quan, xăng dầu nhập khẩu vào Việt Nam 11 tháng đầu năm 2017 đạt 11,69 triệu tấn, tương đương 6,31 tỷ USD, tăng 10,2% về lượng và tăng 40,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2016.Trong tháng 11 vừa qua, xăng dầu nhập khẩu vào Việt Nam đạt 1,17 triệu tấn, đạt giá trị 691,84 triệu USD, tăng 10,8% về lượng và 14,5% về giá trị so với tháng 10-2017. Thị trường Singapore vẫn là nơi nhập khẩu xăng dầu lớn nhất vào Việt Nam với số lượng là 4,07 triệu tấn, trị giá trên 2,02 tỷ USD, chiếm 35% trong tổng lượng xăng dầu nhập khẩu của cả nước. Tiếp sau đó là thị trường Hàn Quốc chiếm 23% trong tổng lượng xăng dầu nhập khẩu của cả nước, đạt 2,68 triệu tấn, trị giá 1,67 tỷ USD, tăng mạnh 75% về lượng và tăng 105% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước. 

Còn trên bình diện xuất khẩu, trong tháng 11/2017 giá dầu thô xuất khẩu của Việt Nam tăng 7,7% so với tháng liền kề trước đó và cũng tăng mạnh 27% so với giá cùng tháng năm ngoái, đạt mức 473,62 USD/tấn. Mặc dù giá tăng nhưng lượng xuất khẩu trong tháng 11 giảm 18,8% so với tháng 10/2017 và trị giá cũng giảm 12,6%, đạt 379.170 tấn, tương đương gần 179,58 triệu USD. Tính chung trong 11 tháng đầu năm 2017, lượng dầu thô xuất khẩu giảm nhẹ 1% so với cùng kỳ năm 2016, nhưng kim ngạch lại tăng mạnh 21,5%, đạt 6,27 triệu tấn, tương đương trên 2,6 tỷ USD. Kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh là do giá xuất khẩu dầu thô trung bình 11 tháng đầu năm nay tăng 22,8% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 415,2 USD/tấn. 

Giá dầu thô xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc – thị trường tiêu thụ nhiều nhất dầu thô của Việt Nam 11 tháng đầu năm nay tăng mạnh 25,4% so với cùng kỳ, đạt mức 418,6 USD/tấn. Tuy nhiên lượng dầu thô xuất sang thị trường này sụt giảm mạnh 39% so với cùng kỳ và kim ngạch cũng giảm 22%, chỉ đạt gần 2,2 triệu tấn, trị giá 920,9 triệu USD (chiếm trên 35% trong tổng lượng và tổng kim ngạch xuất khẩu dầu thô của cả nước).

Mặc dù trong 11 tháng đầu năm 2017 Việt Nam xuất khẩu được 2,6 tỷ USD dầu thô, nhưng phải chi ra tới 6,31 tỷ USD để nhập khẩu 11,69 triệu tấn xăng dầu, tăng 10,2% về lượng và tăng 40,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2016. Giá xăng dầu nhập khẩu vào thị trường Việt Nam trong 11 tháng đầu năm nay cũng tăng mạnh 27,5% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 539,9 USD/tấn.

Ô TÔ 

 

Nhập khẩu ô tô tháng 12 tăng “đột biến” so với tháng 11

Tháng 12/2017 đã khép lại một năm đầy sóng gió, đầy “hoài nghi” và rất nhiều đoán định cho năm 2018 của thị trường ô tô. Bên cạnh những hy vọng bước sang năm 2018 giá ô tô sẽ rẻ hơn, tuy nhiên theo nhiều người lại cho rằng giá ô tô năm 2017 đã chạm đáy. Giá ô tô bước sang năm 2018 liệu sẽ cao hơn bởi ảnh hưởng các loại thuế được điều chỉnh?  

Năm 2017, thị trường ghi nhận có khoảng 4 đợt đại hạ giá ô tô của các doanh nghiệp. Đợt đầu tiên diễn ra vào tháng 3, đợt thứ hai là tháng 6, với mức giảm giá từ 30-50 triệu đồng; đợt thứ ba là vào tháng 9, các DN tiếp tục đại hạ giá xe, có mẫu giảm ngay cả trăm triệu đồng, thậm chí còn hơn; đợt thứ tư là cuối năm, các DN quyết định giảm “sập sàn” tới trên 200 triệu đồng, nhất là các mẫu xe sản xuất năm 2016. 

Hiện tại, hai quy định mới về chính sách liên quan đến thị trường ôtô trong nước, bao gồm cả với xe nhập khẩu và xe lắp ráp trong nước, theo chiều hướng có lợi cho người tiêu dùng khi tác động trực tiếp đến giá bán xe. Theo đó, các dòng xe nhập khẩu từ ASEAN nếu đáp ứng đủ 40% tỉ lệ nội địa (tại nước sản xuất) sẽ được mức thuế nhập khẩu là 0%. Tương tự, đối với dòng xe lắp ráp trong nước, Nghị định 125/2017 của Chính phủ miễn toàn bộ thuế nhập khẩu cho linh kiện lắp ráp xe trong nước. Đây mới chỉ là điều kiện CẦN trong khi để người dân được hưởng sự thay đổi của chính sách, với giá giảm so với thời điểm này thì vẫn chưa có gì chắc chắn … 

Tháng 11/2017, theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, ước tính có khoảng 7.000 ôtô nguyên chiếc (CBU) nhập khẩu về nước, đạt giá trị kim ngạch khoảng 200 triệu USD. Như vậy, kim ngạch nhập khẩu ôtô CBU tháng 11 đã hồi phục trở lại cả về lượng lẫn giá trị so với tháng liền trước. Sự phục hồi của kim ngạch nhập khẩu ôtô CBU tháng 11 được cho là xuất phát chủ yếu từ nhu cầu mua sắm xe dịp cuối năm. Đồng thời, đây cũng là giai đoạn mà nhiều hãng xe đang trong quá trình hoàn thiện các phiếu nhập khẩu đã ký từ trước đó với đối tác nước ngoài. Tuy nhiên thực tế trên thị trường chưa cho thấy những dấu hiệu tươi sáng của mảng ôtô nhập khẩu. Bởi lẽ, người tiêu dùng vẫn đang tiếp tục chờ đợi đến năm 2018 để được mua xe nhập khẩu từ Thái Lan và Indonesia với giá bán thấp hơn khi thuế nhập khẩu giảm về 0%.

Chưa kể, mới đây Chính phủ đã ban hành Nghị định 125 trong đó bổ sung nhóm mặt hàng linh kiện ôtô trong nước chưa sản xuất được vào danh mục hàng hóa hưởng thuế ưu đãi với mức thuế suất 0%. Ngay sau khi Nghị định 125 được ban hành, một số doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ôtô trong nước như Trường Hải hay Hyundai Thành Công đã lập tức áp dụng giá bán lẻ điều chỉnh theo thuế nhập khẩu linh kiện mới với tỷ lệ giảm dao động 3-5%. 

Tới thời điểm hiện tại, đã có 4 doanh nghiệp tại VN công bố giá bán ô tô lắp ráp trong nước cho năm 2018 là Trường Hải (Thaco), Toyota Việt Nam (TMV), Hyundai Thành Công (HTC) và Ford Việt Nam. Tuy nhiên, mức giảm giá không "sốc" như mong đợi chỉ từ vài triệu cho đến vài chục triệu đồng/chiếc. 

Quyết tâm giảm giá để vực dậy sức mua và giảm giá theo thuế linh kiện 0% của một số hãng xe lớn qua đó cũng tạo sức ép không nhỏ lên kim ngạch ôtô nhập khẩu giai đoạn cuối năm. 

Trở lại với các con số, Báo cáo của Tổng cục Thống kê cho biết, tổng kim ngạch nhập khẩu ôtô CBU cộng dồn 11 tháng năm 2017 ước đạt 84.000 chiếc và hơn 1,9 tỷ USD, giảm 14,7% về lượng và giảm 11,4% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. 

Còn theo báo cáo mới nhất của Hiệp hội các Nhà sản xuất ôtô Việt Nam (VAMA) cho biết, tổng sức mua ôtô trên toàn thị trường tháng 11/2017 đã đạt 24.752 chiếc, tăng đồng tỷ lệ 13% so với cả tháng liền trước lẫn cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, lượng xe du lịch đạt 12.774 chiếc, tăng 6% so với tháng 10/2017; lượng xe thương mại đạt 10.310 chiếc, tăng 15%; lượng xe chuyên dụng đạt 1.465 chiếc, tăng 65%. Như vậy, trái với trạng thái cầm chừng và nhiều thời điểm có xu hướng đi xuống trước đây, sức mua ôtô đã tăng trưởng trở lại. Đây là tín hiệu đáng mừng của thị trường ôtô Việt Nam giai đoạn cuối năm. Theo nhận định, tỷ lệ tăng trưởng khá của sức mua ôtô tháng 11 được cho là xuất phát chủ yếu từ những quyết định giảm giá bán lẻ sớm của nhiều hãng xe phổ thông. 

Trong 15 ngày đầu tháng 12 theo thống kê của TCHQ, cả nước đã nhập khẩu 7.048 ô tô nguyên chiếc các loại, tổng trị giá kim ngạch đạt hơn 192 triệu USD. Trong đó ô tô dưới 9 chỗ ngồi đạt 991 chiếc, xe tải 4.850 xe, xe trên 9 chỗ ngồi chỉ có 19 chiếc. Lượng xe nhập khẩu bất ngờ tăng đột biến so với nửa cuối tháng 11, vượt 4.117 chiếc. Thậm chí, số lượng xe 15 ngày đầu tháng 12 này còn vượt cả tháng 11 (6.427 chiếc). 

Đáng chú ý, lượng xe nguyên chiếc dưới 9 chỗ ngồi nhập khẩu 15 ngày đầu tháng 12 còn lớn hơn tổng số lượng xe này nhập khẩu trong nhiều tháng liền kề trước đó như tháng 11 chỉ có 592 xe; tháng 10 là 878 xe; tháng 9 là 908 xe…Cộng dồn từ đầu năm đến 15/12, tổng lượng ô tô nguyên chiếc nhập khẩu đạt 90.611 xe, tổng trị giá kim ngạch gần 2,1 tỷ USD. Trong đó xe dưới 9 chỗ ngồi là 35.977 chiếc, xe tải 41.845 chiếc, xe trên 9 chỗ ngồi là 604 chiếc. Tuy nhiên, so với cùng kỳ 2016, ô tô nguyên chiếc nhập khẩu vẫn giảm mạnh cả về lượng và trị giá với các con số lần lượt là giảm 16.684 xe, kim ngạch giảm 196 triệu USD.

Ông Lưu Mạnh Tưởng, Cục trưởng Cục thuế xuất nhập khẩu, Tổng cục Hải quan, nguyên nhân chính khiến lượng xe nhập khẩu tăng đột biến nửa đầu tháng 12 chủ yếu là để “chạy” Nghị định 116 của Chính Phủ, gom hàng bán trong dịp Tết và quý I/2018. Theo ông Tưởng, với những quy định tại Nghị định 116, ít nhất quý I/2018 xe nhập khẩu rất khó về Việt Nam vì chưa thể xin được các loại giấy phép theo quy định. Nguy cơ khan hiếm hàng xe nhập khẩu, khiến giá xe có thể bị đẩy lên cao hơn nữa do thiếu nguồn cung ứng trong thời gian tới.

THỦY SẢN 

Giá cá tra tăng cao trong tháng cuối năm

Sản xuất cá tra tháng cuối năm tiếp tục tăng do nhu cầu thị trường xuất khẩu đang hút hàng. Giá cá tra thương phẩm ổn định so với tháng trước, dao động ở mức 26.000 – 28.000 đồng/kg.   

Ông Úc Anh, một đại gia nuôi cá ở cù lao Tân Lộc (Thốt Nốt, Cần Thơ) cho biết: Giá cá tra loại 1 hiện dao động từ 28.500 – 29.000 đồng/kg. Với mức giá này, trừ chi phí, người nuôi lãi khoảng 8.000 – 9.000 đồng/kg. Là người thâm niên nuôi cá mấy chục năm nay, ông Úc Anh khẳng định: “Đây là mức lãi đỉnh nhất trong vòng mười năm trở lại đây. So với cách nay hơn chục năm thì có thể nói, thời huy hoàng của con cá tra đang quay lại. Nhiều tháng qua, ai có cá trong ao đều trúng, thành tỉ phú hết”. 

Theo các doanh nghiệp xuất khẩu, thị trường cá tra trong ngắn hạn (đến hết quý 1/2018) vẫn khả quan. Nhu cầu từ Trung Quốc vẫn cao, dù chưa hết năm 2017, thị trường này đã vượt Mỹ để trở thành quốc gia lần đầu tiên nhập khẩu nhiều nhất cá tra Việt Nam với kim ngạch 373,4 triệu USD, chiếm tỷ lệ 22,9%, tăng gần 40% (sau 11 tháng) so với năm 2016. 

Riêng thị trường Mỹ, tuy giá trị xuất khẩu có giảm 9,7%, chỉ đạt 319,8 triệu USD, chiếm tỷ lệ 19,6%, nhưng đạo luật Farm Bill áp dụng cho cả ngành nuôi cá da trơn của Mỹ đã làm chi phí loài cá nội địa này tăng cao, mất khả năng cạnh tranh. Với giá bán cá tra vào Mỹ hiện đạt mức trên 4 USD/kg, ngang giá đỉnh giai đoạn 2000 – 2007, cho thấy cá tra Việt Nam đang lấy lại uy tín tại thị trường này. Nhưng tại sao nông dân không dám đầu tư? 

Giá cá tra tăng là điều đáng mừng với người nuôi. Lẽ ra, đây là động lực cho họ đầu tư, đổ tiền thả con giống. Thế nhưng, nhắc đến vấn đề này, ông Úc Anh lại gạt phăng: “Tui đảm bảo bây giờ chỉ có người nào còn nuôi cá mới đầu tư tiếp thôi chứ không có ai “tay ngang” mà tính chuyện nuôi cá lúc này đâu”. 

Qua tìm hiểu, nhiều người nuôi cá tra khác cũng có chung quan điểm “dù giá cá có lên bao nhiêu cũng không dám vung tiền nuôi ồ ạt như cách nay hơn chục năm nữa”. 

Theo ông Phú, nhân viên quản lý hệ thống trang trại của một công ty xuất khẩu cá tra ở Tiền Giang, mấy năm trước liên tục xảy ra tình trạng giá cá tra trồi sụt, nhiều người nuôi đã phá sản, bỏ hoang ao hầm, chuyển qua nuôi các loại thuỷ sản khác. Như năm 2016, giá cao ngất ngưởng vào đầu năm, nhưng cuối năm rớt thê thảm. Ai thả cá đầu năm đến cuối năm “ôm” lỗ. Qua năm 2017, suốt từ đầu năm đến giữa năm, giá cá không cao, chỉ tăng từ tháng 8 tới nay nên nhiều người e dè, không dám thả nhiều. 

Theo phân tích của dân nuôi cá tra, giá cá nguyên liệu phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường xuất khẩu. Năm nay, tuy tình hình xuất khẩu khả quan nhưng năm sau vẫn còn là ẩn số, rút kinh nghiệm từ các năm trước, không ai dám liều nữa. Ngoài ra, cá giống hiện cũng đang ở thời kỳ giá đỉnh (60.000 nghìn đồng/kg) như hiện nay thì đầu tư nuôi cá tra cũng rất rủi ro. 

Diện tích nuôi cá tra của các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long 11 tháng đầu năm 2017 đạt 5.822 ha, tăng 2% so với cùng kỳ năm ngoái. Sản lượng thu hoạch 11 tháng đạt 1.207,5 ngàn tấn (tăng 4,3%). Trong đó, các tỉnh có diện tích và sản lượng cá tra lớn vẫn phát triển nuôi mạnh là Đồng Tháp với sản lượng 435,9 ngàn tấn, tăng 1,4% so với cùng kỳ, An Giang với sản lượng 257,7 ngàn tấn (tăng 0,5%), Cần Thơ với sản lượng đạt 171,5 ngàn tấn (tăng 12,6%). 

Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu cá tra trong tháng 11/2017 đạt 160,266 triệu USD, cộng dồn 11 tháng đầu năm đạt kim ngạch 1,627 tỷ USD, tăng 5,3% so với cùng kỳ 2016. Top 3 thị trường xuất khẩu lớn lần lượt là: Trung Quốc, Hoa Kỳ và EU, tuy nhiên, chỉ duy nhất thị trường Trung Quốc là tăng mạnh, 2 thị trường còn lại đều trên đà tụt dốc thảm hại. Cụ thể, 11 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu cá tra sang thị trường Trung Quốc đạt 373,350 triệu USD, chiếm tỷ lệ 22,9%, tăng gần 40% so với cùng kỳ năm 2016. Kế đến là thị trường Hoa Kỳ với giá trị xuất khẩu đạt 319,764 triệu USD, chiếm tỷ lệ 19,6%, giảm 9,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Thị trường lớn thứ 3 là EU đạt kim ngạch 180,107 triệu USD, chiếm tỷ lệ 11,4%, giảm 22,1% so với cùng kỳ 2016. 

Các chuyên gia nhận định, xuất khẩu cá tra cả năm 2017 có khả năng đạt 1,79 -1,8 tỷ USD. Song, tất cả cũng chỉ là dự báo và chúng ta vẫn phải chờ số liệu thống kê cụ thể cuối năm từ hải quan. 

Giá tôm nguyên liệu tăng 

Kể từ đầu tháng 9 đến tháng 12, giá tôm sú và thẻ chân trắng ở Cà Mau (nơi có sản lượng tôm lớn nhất nước) tăng không ngừng. Cụ thể, tôm sú loại 30 con/kg có giá dao động từ 210.000 - 215.000 đồng/kg, tăng 10.000 đồng/kg; tôm thẻ chân trắng loại 100 con/kg có giá dao động từ 104.000 - 105.000 đồng/kg, tăng 3.000 đồng/kg. Cùng với giá tôm nguyên liệu tăng, diện tích nuôi tôm cũng tăng nhanh, kéo theo sản lượng thủy sản tăng cao, đã tạo nguồn nguyên liệu dồi dào cung cấp cho các nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu phát huy tối đa công suất; đồng thời, giúp cho hàng ngàn hộ nuôi tôm có được nguồn thu nhập cao hơn. 

Ông Ngô Thành Lĩnh, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Cà Mau (CASEP), cho biết hầu hết các nhà máy chế biến tôm trên địa bàn tỉnh đều đang trong tình trạng thiếu nguyên liệu để chế biến. Đối với những nhà máy lớn, nguồn tôm chỉ đáp ứng được khoảng 40% -50% yêu cầu thực tế. Năm nay, giá tôm nguyên liệu xuất bán của các nước cũng ở mức cao, không thua kém gì nước ta. Chính vì vậy, các DN không thể nhập khẩu tôm nguyên liệu như mọi năm.

Tính đến hết tháng 11, xuất khẩu tôm ước đạt gần 3,5 tỉ USD, tăng gần 22% so với cùng kỳ năm ngoái. Dự báo xuất khẩu tôm cả năm 2017 sẽ đạt khoảng 3,8 tỉ USD, tăng 20% so với năm 2016. Theo ông Trần Văn Lĩnh, năm 2017, con tôm thắng lớn tại thị trường EU (tăng gần 22%). Nguyên nhân khách quan là do tôm Ấn Độ (đối thủ chính của Việt Nam) bị dính kháng sinh và đối mặt với nguy cơ EU cấm nhập khẩu nên tôm Việt Nam được lựa chọn thay thế. "Trong khi đó, tôm Việt Nam đã kiểm soát được kháng sinh tốt hơn trước đây. Hơn nữa, để được hưởng thuế suất ưu đãi từ EU, DN phải mua tôm nguyên liệu trong nước dù giá cao hơn. Cũng do giá nguyên liệu tôm Việt Nam cao nên các DN đã đầu tư lớn để làm hàng chế biến sâu để gia tăng giá trị khi xuất khẩu" - ông Lĩnh nhìn nhận.  

Cùng chung nhận định, theo Tổng cục Thủy sản, tính từ đầu tháng 11/2017, giá tôm sú và tôm thẻ chân trắng liên tục có sự biến động theo kích cỡ tôm, nhưng nhìn chung vẫn còn ở mức cao so cùng kỳ những năm trước.

Mặc dù năm 2017, xuất khẩu thủy sản được dự báo gặp nhiều khó khăn do nhu cầu thị trường thấp cùng những rào cản kỹ thuật từ các nước nhập khẩu chính. Do vậy, Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (Vasep) dự báo, kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2017 đạt khoảng 7,4 tỷ USD, tăng 6% so với năm 2016. Song, ngành thủy sản đã vượt qua khó khăn và về đích sớm 1 tháng. Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, cộng dồn 11 tháng xuất khẩu thủy sản đạt giá trị 7,565 tỷ USD. Như vậy, kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2017 sẽ vượt dự báo khoảng 156 triệu USD. Đặc biệt, năm 2017 ghi nhận lần đầu tiên EU vượt qua Mỹ để trở thành thị trường xuất khẩu thủy sản số 1 của Việt Nam. Tuy nhiên, với việc bị “dính” thẻ vàng IUU và có nguy cơ đổi màu thẻ, nếu vấn đề này xảy ra sẽ tác động lớn đến kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào thị trường EU trong năm sau. Do vậy, vấn đề bây giờ là toàn ngành thủy sản và các cơ quan Chính phủ phải hành động tích cực và quyết liệt để “thoát” thẻ vàng, và chí ít thì cũng không để đổi màu thẻ làm ảnh hưởng lớn đến kế hoạch xuất khẩu của ngành thủy sản trong năm 2018. 

LÚA GẠO

Xuất khẩu gạo tăng trưởng đầy bất ngờ 

 

Theo số liệu mới đây của Tổng cục Hải quan, tính từ đầu năm đến ngày 15/12/2017, khối lượng xuất khẩu gạo cả nước ta đã đạt 5,66 triệu tấn, giá trị gần 2,6 tỷ USD. Trong khi đó, cùng kỳ năm ngoái, khối lượng xuất khẩu đạt 4,68 triệu tấn và giá trị 2,1 tỷ USD. Và cả năm 2016, xuất khẩu gạo chỉ đạt 4,9 triệu tấn và trị giá 2,2 tỷ USD.  

Có thể thấy đây là một sự đột phá của ngành gạo nước ta. Trong đó, đáng chú ý là sự tăng trưởng mạnh về mặt giá trị thay vì sản lượng xuất khẩu như trước đây. Cơ cấu gạo xuất khẩu cũng tiếp tục có sự chuyển dịch tích cực khi giảm mạnh ở phân khúc gạo cấp trung bình và cấp thấp; tăng mạnh ở dòng gạo cao cấp, có chất lượng và giá trị cao. 

Theo dự báo, trong tháng cuối cùng của năm 2017 xuất khẩu gạo của nước ta sẽ đạt khoảng 400 – 450 nghìn tấn, qua đó đưa tổng khối lượng gạo xuất khẩu trong năm 2017 lên mức 5,9 – 6 triệu tấn gạo, tăng 1,1 – 1,2 triệu tấn gạo so với năm 2016.

Theo chuyên gia và các doanh nghiệp, xuất khẩu gạo năm nay tăng trưởng mạnh chủ yếu là do tác động của biến đổi khí hậu khiến nguồn cung gạo tại một số nước giảm. Qua đó, làm tăng nhu cầu nhập khẩu gạo từ các thị trường tiêu thụ chính như Trung Quốc, Malaysia, Philippines, Hàn Quốc… Đặc biệt, việc mở rộng xuất khẩu gạo tới các thị trường mới như Bangladesh, Iraq… cũng góp phần đưa xuất khẩu gạo của Việt Nam tăng mạnh vượt kỳ vọng trong năm nay. Hiện gạo Việt Nam đã xuất khẩu tới 132 thị trường trên thế giới, trong đó Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất. 

Theo các doanh nghiệp, trong thời gian tới, xuất khẩu gạo của Việt Nam khả năng sẽ tiếp tục tăng trưởng khả quan nhờ nhu cầu tăng từ thị trường Trung Quốc, Philippines, Hàn Quốc, Iraq…Đáng chú ý, thông tin từ các doanh nghiệp cho biết, kể từ tháng 1/2018, Trung Quốc sẽ giảm thuế nhập khẩu đối với loại gạo nếp nhập từ Việt Nam. Đây sẽ là cơ hội để thúc đẩy xuất khẩu gạo nếp sang thị trường này trong thời gian tới. 

Tại thị trường trong nước, theo Cục Trồng trọt, đến ngày 7/12, các tỉnh ĐBSCL đã xuống giống vụ đông xuân 2017/2018 được 570 ngàn ha trên diện tích kế hoạch là 1,65 triệu ha. Hiện tại, do nguồn cung hạn hẹp nên giá lúa hàng hóa ở ĐBSCL vẫn đang ở mức cao. Thông tin từ VFA cho hay, giá lúa khô loại thường từ 5.700 - 5.800 đồng/kg, lúa khô hạt dài 5.900 - 6.000 đồng/kg.

Cũng theo Hiệp Hội Lương thực Việt Nam, tính đến hết tháng 11, cả nước vẫn còn tồn cỡ 811.000 tấn gạo trong kho của doanh nghiệp. Trong số này Tổng công ty lương thực miền Nam đang chiếm số lượng áp đảo với gần 217.000 tấn; Tổng công ty Lương thực miền Bắc 85.000 tấn. Còn lại hơn 509.000 tấn thuộc về các doanh nghiệp khác thành viên của hiệp hội.

Trong năm 2018, một số dự báo cho thấy thị trường gạo thế giới sẽ sôi động hơn. Riêng Việt Nam được dự báo, lượng gạo xuất khẩu năm 2018 có thể tăng thêm 400 ngàn tấn so năm 2017 để đạt mức 6 triệu tấn. Gạo xuất khẩu của Việt Nam sẽ tăng lên chủ yếu nhờ nhu cầu ở Đông Nam Á, nhất là tại Philippines.

Dù có nhiều tín hiệu tích cực, tuy nhiên theo các chuyên gia, trong năm 2018, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức, nhất là liên quan đến hàng rào kỹ thật, vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm do các thị trường đặt ra. Ngay như ở thị trường Trung Quốc, trong thời gian gần đây, thị trường này yêu cầu gạo nhập khẩu phải đảm bảo an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc rõ ràng. Với sự thay đổi này, nếu ngành gạo Việt Nam và các doanh nghiệp không kịp thích ứng thì sẽ khó đẩy mạnh xuất khẩu trong thời gian tới. Mặt khác, việc phụ thuộc xuất khẩu vào một thị trường có thể đem đến nhiều rủi ro cho doanh nghiệp và nông dân, nếu chẳng may thị trường nay ngưng nhập khẩu. Những yếu tố thị trường này đòi hỏi ngành gạo cần có chiến lược xuất khẩu mới để phù hợp hơn với nhu cầu thị trường cũng như tránh phụ thuộc vào một thị trường nhất định. 

CÀ PHÊ

Giá thấp, cà phê Việt Nam vẫn gặp khó trong vài tháng tới

Thị trường cà phê trong nước phiên đầu tháng 12 lại mất mốc 37.000 đồng/kg sau hai phiên tăng giá cuối tháng trước khiến người trồng cà phê chưa kịp vui mừng. Giá cà phê nội địa sụt giảm theo đà giảm của thị trường cà phê thế giới. Với giá thấp nhất ở 35.400 đồng/kg tại Lâm Đồng và giá cao nhất ở 36.400 đồng/kg tại Gia Lai. Cho tới sáng 20/12, giá cà phê ở Gia Lai lại giảm chỉ còn 36.000 đ/kg, Đăk Lăk 35.800 đ/kg, Đăk Nông 35.800 đ/kg và Lâm Đồng 35.200 đ/kg. So với cùng kỳ 2016, khi giá cà phê nhân xô ở mức trên dưới 45.000 đ/kg, thì rõ ràng, giá cà phê hiện nay đã giảm khá nhiều, tới gần 10.000 đ/kg. Lễ Tết cũng không giúp thị trường sôi động vào dịp cuối năm, vì vậy khả năng sang năm mới 2018 có thể sẽ có nhiều biến động. 

Với giá cà phê như hiện nay, người trồng cà phê sẽ phải chịu thua lỗ khoảng 3-3,5 triệu đồng/tấn. Năm nay, năng suất cà phê của Việt Nam cũng như những nước trồng cà phê nhiều đều giảm. Các nhà quan sát thị trường Đông Nam Á nhận xét giao dịch tại thị trường này vẫn tỏ ra trầm lắng còn do nhà kinh doanh xuất khẩu không muốn ký phiếu bán hàng khi giá cà phê kì hạn Robusta đang ở mức quá thấp, hiện đã giảm tới 17% so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, nông dân Việt Nam đang sẵn sàng ôm hàng chờ giá và bán hàng theo hình thức giao ngay mà không bán trừ lùi như các năm trước, đây là điểm khác biệt rõ nhất của niên vụ năm nay so với các vụ trước.

Giá cà phê trong nước liên tục giảm, một phần do nguồn cung nội địa đang tăng lên vì vào vụ thu hoạch rộ, nhưng chủ yếu do sức mua yếu từ các nhà NK. Hiện lượng cà phê vụ cũ tồn kho của các nhà NK đang tương đối nhiều. Theo thông tin từ Hiệp hội Cà phê hạt của Mỹ (GCA), tồn kho cà phê tại các kho cảng của Mỹ giảm 297.527 bao (giảm 4,23%) trong tháng 11 và hiện còn 6.737.486 bao. Đây là tháng thứ 4 liên tiếp tồn kho cà phê tại các kho cảng của Mỹ giảm xuống. 

 

Theo đánh giá của Bộ Công thương, với diễn biến trên thị trường cà phê toàn cầu như hiện nay, xuất khẩu cà phê Việt Nam sẽ gặp khó trong vài tháng tới do nguồn cung tăng gây áp lực lên giá bán. 

HỒ TIÊU  

Giá tiêu tháng 12 giảm gần một nửa so với cùng kỳ năm 2016  

Từ đầu tháng 12 đến nay, giá hạt tiêu ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ vẫn quanh mức 75.000-77.000 đ/kg (đầu giá). Như vậy, so với cùng kỳ năm ngoái, giá hạt tiêu hiện tại đã giảm tới gần một nửa (giá hạt tiêu tháng 12/2016 ở mức trên dưới 140.000 đ/kg). 

Không chỉ giảm mạnh về giá, hạt tiêu đang gặp áp lực về việc tiêu thụ. Nguyên nhân là do tiêu Việt Nam gặp phải sự cạnh tranh lớn của hạt tiêu Brazil. Do trong mấy năm qua, nhiều diện tích trồng trọt ở nước này được nông dân chuyển sang trồng tiêu, nên năm nay, sản lượng tiêu ở Brazil tăng mạnh, ước tăng thêm 20.000-30.000 tấn so với năm 2016. Hạt tiêu Brazil có vị cay không bằng hạt tiêu Việt Nam, nhưng lại tạo sự yên tâm hơn đối với các nhà NK về dư lượng thuốc BVTV. Các nhà XK Brazil lại có khả năng giao hàng nhanh. Đặc biệt, giá tiêu Brazil đang ở mức rất cạnh tranh, chỉ khoảng 80.000 đ/kg.

Chính vì vậy, thông tin từ một số doanh nhân ngành hồ tiêu cho hay, nhiều thương nhân quốc tế đang tập trung mua hạt tiêu của Brazil. Bao giờ hết tiêu ở Brazil, họ mới mua tiêu của Việt Nam. Mà vụ tiêu ở Brazil sẽ kết thúc vào tháng 1 tới, đó là thời điểm Việt Nam bước vào vụ thu hoạch mới. Sản lượng vụ cũ vẫn còn, cộng với sản lượng từ vụ mới, khiến cho giá hạt tiêu ở thời điểm đầu năm 2018 vẫn có thể chỉ ở mức thấp như hiện nay.

Mà theo dự báo của một số chuyên gia ngành tiêu, sản lượng tiêu Việt Nam trong năm 2018 sẽ tiếp tục tăng mạnh. Năm 2017, sản lượng tiêu nước ta đã đạt mức kỷ lục trên 200.000 tấn. Nhiều khả năng sản lượng 2018 có thể còn cao hơn nữa. Nguyên nhân chính là nhiều diện tích tiêu được phát triển ồ ạt trong mấy năm qua khi giá tiêu cao, đã đến lúc cho thu hoạch.

Theo ông Hoàng Phước Bính, Phó Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu Chư Sê (Gia Lai), giá tiêu sẽ còn ở mức thấp ít nhất là trong 5 năm tới. Đến khi nông dân nhiều nơi chán tiêu, chuyển sang cây trồng khác, khiến cho diện tích, sản lượng tiêu Việt Nam nói riêng, thế giới nói chung giảm xuống, thì khi ấy giá tiêu mới có thể phục hồi. 

Đặc biệt, trong tháng 12, xuất khẩu hồ tiêu Việt Nam sang Ấn Độ - thị trường lớn thứ 2 của ngành hàng này đã gặp khó khăn khi Bộ Công Thương Ấn Độ công bố chính thức áp dụng mức giá nhập khẩu tối thiểu khoảng 7,75 USD/kg đối với hồ tiêu. Với thị phần chiếm 7,2% trong tổng lượng và chiếm 6,8% tổng kim ngạch; đạt 12.993 tấn, trị giá 65,46 triệu USD (tăng 35% về lượng nhưng giảm 11% giá trị), đây là một tin không lấy gì làm vui mừng với xuất khẩu tiêu của Việt Nam. Như vậy, 2018, xuất khẩu hồ tiêu còn chật vật bởi nguồn cung tăng, giá xuất khẩu tiếp đà giảm. 

CAO SU  

Tháng 12, Việt Nam xuất khẩu 175 nghìn tấn cao su, giá trị đạt 253 triệu USD

Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, khối lượng xuất khẩu cao su của Việt Nam tháng 12/2017 ước đạt 175 nghìn tấn với giá trị đạt 253 triệu USD. Với ước tính này, khối lượng xuất khẩu cao su năm 2017 ước đạt 1,39 triệu tấn và 2,26 tỷ USD, tăng  11% về khối lượng và tăng 35,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.  

Giá cao su xuất khẩu bình quân 11 tháng đầu năm 2017 đạt 1.654,7 USD/tấn, tăng 28,3% so với cùng kỳ năm 2016. Trung Quốc, Malaysia và Ấn Độ là 3 thị trường tiêu thụ cao su lớn nhất của Việt Nam trong 11 tháng đầu năm 2017, chiếm thị phần lần lượt 64%, 5,2% và 3,9%. Giá trị xuất khẩu cao su sang 3 thị trường này lần lượt là: 1,29 tỷ USD, tăng 51,8%; 104,9 triệu USD, giảm 8,8% và 78,4 triệu USD, giảm 29,9% so với cùng kỳ năm 2016. 

Ở chiều ngược lại, khối lượng nhập khẩu cao su trong tháng 12/2017 ước đạt  60 nghìn tấn với giá trị đạt 105 triệu USD. Khối lượng và giá trị nhập khẩu cao su năm 2017 là 559 nghìn tấn và 1,09 tỷ USD, tăng 28,5% về khối lượng và tăng 59,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. 

Bốn thị trường nhập khẩu cao su chủ yếu trong 11 tháng đầu năm 2017 là Hàn Quốc,  Nhật  Bản,  Campuchia  và  Thái  Lan  chiếm  54,5% thị phần. 

Trong 11 tháng đầu năm 2017, giá trị cao su ở tất cả các thị trường nhập khẩu đều tăng. Trong đó, thị trường có giá trị tăng trưởng mạnh nhất so với cùng kỳ năm  2016  là Indonesia  (gấp  2,9 lần), Nga ( 91,6%) và Trung Quốc ( 85,4%). Đặc biệt,  trong  11 tháng đầu năm 2017 mặc dù khối lượng nhập khẩu cao su từ thị trường Malaixia giảm 5,1% nhưng giá trị nhập khẩu của mặt hàng  này  lại tăng 56% so với cùng kỳ năm 2016. 

HẠT ĐIỀU

Theo Tổng cục Hải quan, tháng 11/2017, lượng điều xuất khẩu đạt 32,4 nghìn tấn, trị giá 326 triệu USD, giảm 3,3% về lượng và giảm 2,6% về trị giá so với tháng trước; tăng 9,3% về lượng và tăng 21,9% về trị giá so với tháng 11/2016. Trong 11 tháng năm 2017, lượng điều xuất khẩu đạt 324 nghìn tấn, trị giá 3,21 tỷ USD, tăng 1,1% về lượng và tăng 23,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2016.

Tháng 11/2017, giá xuất khẩu bình quân mặt hàng điều ở mức 10.026 USD/tấn, tăng 0,7% so với tháng trước và tăng 11,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Tính chung 11 tháng năm 2017, giá xuất khẩu bình quân mặt hàng hạt điều ở mức 9.926,3 USD/tấn, tăng 22,3% so với 11 tháng năm 2016.  

Trong tháng 11/2017, xuất khẩu hạt điều tới Mỹ và Trung Quốc tăng trong khi xuất khẩu sang Hà Lan giảm. Xuất khẩu hạt điều tới thị trường Mỹ đạt 111,5 nghìn tấn, trị giá 1,124 tỷ USD, tăng 2,8% về lượng và tăng 27% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái.

Năm 2018, ngành điều Việt Nam kỳ vọng sẽ tiếp tục thành công khi nhu cầu tiêu thụ hạt điều thế giới được dự báo sẽ tăng khá cao, nhiều đơn hàng đã được ký cho đến giữa tháng 4 năm 2018.

Hiện, hạt điều Việt Nam chiếm thị phần cao trong nhập khẩu của Mỹ và Trung Quốc. Việt Nam là nguồn cung mặt hàng hạt điều lớn nhất tại thị trường Mỹ, chiếm 75,4% thị phần trong 10 tháng năm 2017, tăng nhẹ so với 75,3% thị phần trong 10 tháng năm 2016 và tăng khá mạnh so với 68,9% thị phần trong 10 tháng năm 2015. 

Nhập khẩu hạt điều từ Việt Nam tại thị trường Trung Quốc chiếm tới 98,2% thị phần trong 10 tháng năm 2017, tăng so với 94,3% thị phần trong 10 tháng năm 2016.   

Trong thông cáo báo chí của Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas), cả năm 2017, toàn ngành điều phấn đấu xuất khẩu đạt 330.000 tấn điều nhân các loại với kim ngạch xuất khẩu trên 3,3 tỉ đô la Mỹ. Trong đó, riêng xuất khẩu nhân điều đạt 3 tỉ đô la Mỹ - con số cao nhất từ trước đến nay.

Theo Vinacas, với kết quả kim ngạch xuất khẩu dự kiến này, năm 2017 Việt Nam tiếp tục chiếm trên 50% tổng giá trị xuất khẩu nhân điều toàn cầu (khoảng 5,5 tỉ đô la Mỹ). “Năm 2017 cũng là năm thứ 12 liên tiếp ngành điều Việt Nam giữ vị trí số 1 thế giới về chế biến, xuất khẩu nhân điều”, thông cáo báo chí của Vinacas viết.  

Vinacas đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành năm 2018 đạt 3,5-3,7 tỉ đô la Mỹ.   

(TTGCVT tổng hợp)

 

 

 

Các tin khác
Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (024) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (024) 39762593 
Email: ttgcvattu@yahoo.com