Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Thị trường hàng hóa nguyên liệu trong nước tháng 11/2017
Cập nhật: 29-11-2017

VÀNG  

Thị trường vàng tháng 11 kém sôi động, giá chủ yếu quanh mức 36,5 triệu đồng một lượng


Mặc dù thị trường vàng đã bước vào thời điểm cuối năm lại trùng với mùa cưới, tuy nhiên trong suốt tháng 11, giá vàng vẫn chưa tìm kiếm được lực đẩy thực sự để bật tăng mạnh. Hầu như qua các ngày giao dịch, giá vàng chỉ lên xuống trong biên độ hẹp. Có thời điểm, dù giá vàng thế giới biến động mạnh, nhưng vàng trong nước vẫn “thờ ơ” và giữ vững mốc giá trên dưới 36,5 triệu đồng mỗi lượng. Theo quan sát, các giao dịch chủ yếu là nhỏ lẻ. Nhìn chung các nhà đầu tư vàng vẫn đứng ngoài thị trường bởi chưa tìm lại được sự hấp dẫn ở kênh đầu tư này.

Trong tuần đầu của tháng 11, giá vàng trong nước liên tục tăng giảm tuy chỉ trong biên độ hẹp. Duy nhất có ngày giao dịch hôm 7/11, giá vàng tăng vọt lên mức cao nhất tuần ở mức 36,47 – 36,69 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra). Các ngày giao dịch còn lại, giá vàng chỉ loanh quanh trong ngưỡng 36,36 – 36,46 triệu đồng/lượng (chiều mua vào) và 36,58 – 36,67 triệu đồng/lượng (chiều bán ra).

Bước sang tuần thứ hai, giá vàng có xu hướng đi xuống và chỉ có  ngày 16/11, giá tăng nhẹ. Giá vàng trong tuần dao động ở khoảng 36,37 – 36,43 triệu đồng/lượng (chiều mua vào) và 36,59 – 36,65 triệu đồng/lượng (chiều bán ra). Trên thị trường châu Á, giá vàng tính đến thời điểm sáng 17/11 đang giao dịch quanh mức 1.283 USD/ounce. Quy đổi tương đương 35,18 triệu đồng/lượng, như vậy vàng trong nước đang cao hơn thế giới khoảng 1,33 triệu đồng/lượng. 

Tuần giao dịch thứ 3 của tháng, thị trường vàng trong nước vẫn tiếp diễn với trạng thái khá phẳng lặng. Giá vàng SJC tăng giảm xen kẽ qua các ngày giao dịch với biên độ nhỏ, dao động ở khoảng 36,33 – 36,43 triệu đồng/lượng (chiều mua vào) và 36,55 – 36,65 triệu đồng/lượng (chiều bán ra). Theo quan sát của Doji, với diễn biến ít biến động của giá vàng thế giới trong tuần qua, hầu hết nhà đầu tư đều hướng sự quan tâm đến diễn biến trong ngắn hạn của giá vàng quốc tế, trong đó tâm điểm là tín hiệu từ Fed xoay quanh lộ trình tăng lãi suất. Cũng bởi vậy thị trường diễn biến qua các phiên chủ yếu là các nhà đầu tư giao dịch nhỏ lẻ với số lượng khách bán vàng chiếm 60% trên tổng số khách tham gia giao dịch. Kết thúc tuần giao dịch, giá vàng trong nước neo ở mức 36,40 – 36,62 triệu đồng/lượng (thời điểm mở cửa sáng 24/11). Quy đổi theo tỷ giá tại Vietcombank cùng thời điểm, giá vàng trong nước đắt hơn giá thế giới gần 1,2 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế và các khoản phí).

Tuần kết thúc tháng 11, giá vàng vẫn chưa thể khởi sắc. Thời điểm mở cửa sáng 29/11, giá vàng SJC củaCông ty vàng bạc đá quý Sài Gòn ở mức 36,42 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,64 triệu đồng/lượng (bán ra), tăng 20 ngàn đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với cuối giờ chiều ngày 28/11. Hiện giá vàng cao hơn 12,5% (+144 USD/ounce) so với cuối năm 2016. Vàng thế giới quy đổi theo giá USD ngân hàng tại thời điểm sáng 29/11 có giá 35,8 triệu đồng/lượng, chưa tính thuế và phí, thấp hơn giá vàng trong nước khoảng 0,7 triệu đồng/lượng. Tuy nhiên, nhiều nhà phân tích cho rằng, với những diễn biến khả quan từ giá vàng thế giới, nhà đầu tư trong nước hoàn toàn có thể hy vọng vào những chuyển biến tích cực hơn của giá vàng trong nước trong thời gian tới.

ĐÔ LA

Giá USD tại ngân hàng ổn định dù tỷ giá trung tâm liên tục sụt giảm

Trái ngược với nhiều năm trước, càng tiến về thời điểm cuối năm, tỷ giá trung tâm liên tục tăng mạnh bởi nhu cầu ngoại tệ để nhập khẩu hàng hóa chuẩn bị cho dịp tết Nguyên đán, tháng 11 năm 2017 tỷ giá trung tâm của Ngân hàng NN liên tục sụt giảm. Điều đó cho thấy bàn tay kiểm soát của các nhà điều hành tài chính trong nước đã kéo sức nóng của tỷ giá đi xuống nhằm bình ổn thị trường hết mức có thể. Trong tháng 11, mức cao nhất của tỷ giá trung tâm là 22.470 (vào sáng ngày 8/11) và mức thấp nhất của tỷ giá trung tâm là 22.428 (vào sáng 28/11).  Như vậy trong tháng 11, giữa mức thấp và mức cao chênh lệch lên tới 24 đồng.

Trái ngược với tình trạng sụt giảm của tỷ giá trung tâm, tại các NHTM, giá giao dịch đồng USD tương đối ổn định hoặc đôi khi chỉ biến động nhẹ. Giá giao dịch đồng bạc xanh chủ yếu tại các ngân hàng thương mại quanh mức 22.680 – 22.750 đồng/USD.

Cũng liên quan đến lĩnh vực ngoại tệ, tại kỳ họp của Quốc hội sáng 17/11, trả lời câu hỏi của đại biểu về hoạt động cho vay ngoại tệ, Thống đốc Lê Minh Hưng cho biết thời gian tới sẽ tiếp tục gia hạn cho vay ngoại tệ. Trước đó, NHNN chủ trương dừng cho vay ngoại tệ trong hoạt động giữa ngân hàng thương mại với doanh nghiệp, chuyển sang quan hệ mua bán để ổn định giá trị đồng Việt Nam. Tuy nhiên, để hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu, NHNN đã cho phép gia hạn đối với đối tượng này, đặc biệt là với nhu cầu vay ngắn hạn, vì chi phí vay ngoại tệ thấp hơn tiền đồng.

THÉP

Thép xây dựng cuối năm giảm giá mạnh

Thông tin từ Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), tại thời điểm cuối tháng 9, đầu tháng 10, giá sắt thép xây dựng đã có lúc lên đến 16,2 triệu đồng/tấn. Nhưng sang tháng 11, giá sắt thép xây dựng khu vực phía Bắc đã giảm từ 500 - 700 đồng/kg; phía Nam giảm từ 400 - 600 đồng/kg. Tại các cửa hàng, sắt phi 6 - 8 tùy theo DN sản xuất như Việt Nhật, Hòa Phát, Pomina..., giá dao động từ 12,60 - 13,57 triệu đồng/tấn; sắt phi 10, 12, 14 giá từ 12,23 - 13,05 triệu đồng/tấn...

Mặc dù giá bán đã giảm khá mạnh, nhưng thời điểm gần đây sức tiêu thụ các sản phẩm sắt thép vẫn sụt giảm. Cụ thể, sức tiêu thụ thép xây dựng trong tháng 10 đạt 559.847 tấn, giảm 14% so với cùng kỳ năm 2016 và giảm 24% so với tháng 9/2017. Lượng thép tồn kho lên đến 783.000 tấn, tăng 35% so với thời điểm cuối tháng 9/2017.

Theo ông Nguyễn Văn Sưa - Phó Chủ tịch VSA, nguyên nhân khiến giá sắt thép xây dựng giảm mạnh là do giá phôi thép trên thị trường thế giới giảm mạnh. Cụ thể từ cuối tháng 9/2017, giá thép phế liệu trên thị trường thế giới giảm 5 USD/tấn từ 320 - 330 USD/tấn xuống còn 320 - 325 USD/tấn; giá phôi thép giảm 27 USD/tấn từ mức 529 - 530 USD/tấn xuống còn 500 - 505 USD/tấn; giá phôi nội địa giảm từ 11.800 - 12.000 đồng/kg xuống còn 10.800 - 11.200 đồng/kg... Giá phôi giảm mạnh khiến giá sản phẩm thép xây dựng giảm tương ứng. Bên cạnh đó, việc bão liên tục đổ bộ khu vực miền Trung gây mưa lớn là một trong những lý do khiến thị trường xây dựng trầm lắng. Để đẩy mạnh tiêu thụ, các DN sản xuất thép đã phải đồng loạt giảm giá bán.

Thực tế cho thấy, giá thép giảm còn do cung đã vượt cầu, hiện tổng năng lực sản xuất của ngành thép trong nước vào khoảng 30 triệu tấn/năm. Cụ thể, ở mặt hàng phôi thép là 12 triệu tấn/năm, thép cán 12 triệu tấn/năm, tôn mạ phủ màu 5 triệu tấn/năm. Với quy mô này, ngành thép Việt Nam được đánh giá đang đứng đầu các nước Đông Nam Á. Tuy nhiên, so với nhu cầu thực tế của thị trường trong nước, nguồn cung đang vượt xa cầu, cụ thể trong 10 tháng qua, DN thép đã sản xuất 17.046.955 tấn, tăng 22,8% so với cùng kỳ năm 2016.

Theo con số mới nhất của TCHQ, trong nửa đầu tháng 11/2017, nhập khẩu sắt thép các loại tăng 10,4%, tương ứng tăng 42 triệu USD so với nửa cuối tháng 10/2017. Lũy kế nhập khẩu sắt thép đến 15/11/2017, Việt Nam đã nhập khẩu 7,93 tỷ USD, cao hơn hẳn so với cùng kỳ năm 2016 xấp xỉ tới 1 tỷ USD.

Cũng trong tháng 11, ngành thép của Việt Nam còn phải đối mặt với một thông tin gây nhiều bất lợi. Đó là có tới 90% thép Việt Nam vận chuyển sang Hoa Kỳ được sản xuất tại Trung Quốc". Tuy nhiên theo Bộ Công thương: "Số liệu thống kê của hải quan cho thấy có 11 mặt hàng thép xuất khẩu sang Hoa Kỳ có mã HS trùng với mặt hàng thép nhập khẩu từ Trung Quốc, chiếm 34% lượng thép xuất khẩu sang Hoa Kỳ. Các mã HS còn lại hoặc không nhập từ Trung Quốc, hoặc lượng nhập rất ít, không đủ để xuất khẩu”. Và cho đến nay, Bộ Công Thương chưa nhận được thông tin nào từ phía Hoa Kỳ về việc Hoa Kỳ sẽ tiến hành điều tra mặt hàng thép có nguồn gốc từ Trung Quốc gian lận xuất xứ của Việt Nam khi xuất khẩu sang Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, Bộ Công Thương đang phối hợp với các cơ quan liên quan như Tổng cục Hải quan, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam... và chỉ đạo các đơn vị chức năng thuộc Bộ chủ động theo dõi sát tình hình, đồng thời thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật để phòng tránh gian lận về xuất xứ hàng hóa, gian lận thương mại.

XI MĂNG

Tiêu thụ xi măng nội địa có xu hướng sụt giảm

Theo số liệu của Vụ Vật liệu xây dựng thuộc Bộ Xây dựng, 10 tháng năm 2017, tiêu thụ xi măng nội địa có xu hướng sụt giảm. Cụ thể, ước sản phẩm xi măng tiêu thụ trong 10 tháng đạt khoảng 62,89 triệu tấn, tăng 2% so với cùng kỳ năm 2016 và đạt khoảng 79% kế hoạch của cả năm.

Trong đó, sản lượng sản phẩm xi măng tiêu thụ tại thị trường nội địa trong 10 tháng của cả nước ước đạt khoảng 47,22 triệu tấn, giảm 3% so với cùng kỳ năm 2016. Riêng trong tháng 10, con số này đạt khoảng 4,92 triệu tấn, giảm 3% so với cùng kỳ năm 2016.

Ông Nguyễn Quang Cung, Chủ tịch Hiệp hội Xi măng Việt Nam cho rằng, tiêu thụ xi măng nội địa sụt giảm là do từ đầu năm đến nay điều kiện thời tiết bất thuận, mưa nhiều, kéo dài, ảnh hưởng đến hoạt động xây dựng, làm nhu cầu xi măng tại thị trường trong nước giảm.Tình trạng này sẽ được cải thiện trong những tháng cuối năm khi nhiều công trình, dự án xây dựng tiếp tục được triển khai với khối lượng lớn hơn.

Đánh giá về cân đối cung cầu mặt hàng xi măng của Bộ Xây dựng, tổng sản lượng xi măng tiêu thụ toàn ngành 10 tháng năm 2017, đạt 80% so với kế hoạch năm. Lượng clinker và xi măng  tồn kho cuối tháng 10 khoảng 3,75 triệu tấn, trong đó có 1,45 triệu tấn xi măng, còn lại là 2,3 triệu tấn clinker, tương ứng khoảng 15 - 20 ngày sản xuất. Trên cơ sở số liệu tiêu thụ 10 tháng, dự kiến tổng sản lượng xi măng, clinker tiêu thụ năm 2017 khoảng 80 triệu tấn, tăng 6% so với năm 2016 và đạt 100% kế hoạch năm; trong đó xi măng tiêu thụ nội địa khoảng 62 triệu tấn, tăng 3% với năm 2016 và đạt 97% kế hoạch năm; xuất khẩu sản phẩm xi măng và clinker khoảng 18,0 triệu tấn, tăng 20% so với năm 2016, đạt 120% kế hoạch năm. Để hoàn thành mục tiêu kế hoạch năm 2017 tiêu thụ từ 70 - 80 triệu tấn sản phẩm  xi măng, gần 2 tháng cuối năm còn lại, các doanh nghiệp ngành xi măng sẽ phải nỗ lực tiêu thụ 15 - 17 triệu tấn sản phẩm. Trong cuộc cạnh tranh khốc liệt khi cung vượt cầu của thị trường, các doanh nghiệp sẽ phải nỗ lực tiêu thụ sản phẩm. 

Trên bình diện giá cả, về cơ bản giá xi măng trong những tháng gần đây đều giữ ở mức ổn định do giá nguyên vật liệu đầu vào và chi phí sản xuất không có biến động. Cụ thể, giá xi măng tháng 11/2017 của các công ty thuộc VICEM đều dao động trong khoảng 1.250 – 1.705 tr.đ/tấn (đối với PCB40) và khoảng 1.270 tr.đ/tấn (đối với PCB30).  Còn theo báo cáo của Sở Tài chính các tỉnh, thành phố, giá bán lẻ xi măng 15 ngày đầu tháng 11/2017 tại các tỉnh miền Bắc, miền Trung ở mức 1.050.000-1.550.000 đồng/tấn; tại các tỉnh miền Nam ở mức 1.460.000-1.850.000 đồng/tấn.

Về tình hình xuất khẩu xi măng, trong 10 tháng của năm 2017, xuất khẩu xi măng sang các thị trường đều tăng cả về lượng và trị giá. Cụ thể, tháng 10/2017, xuất khẩu xi măng đạt 1,6 triệu tấn, trị giá 56,9 triệu USD, tăng 9,7% về lượng và tăng 6,0% về trị giá so với tháng 9 (đây là tháng tăng thứ hai liên tiếp), nâng xuất khẩu nhóm hàng này 10 tháng 2017 lên 15,1 triệu tấn, trị giá 532,3 triệu USD, tăng 23,9% về lượng và tăng 14,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2016.

GAS

Giá gas tháng 11 không đổi so với tháng 10/2017

Chiều 31.10, thông tin từ các công ty kinh doanh và phân phối gas tại khu vực phía nam, giá gas tháng 11 sẽ không thay đổi so với giá gas tháng 10.2017.

Theo đó, giá bán lẻ tối đa đến tay người tiêu dùng là 349.000 đồng/bình 12 kg. Lý do giá gas nhập khẩu thế giới bình quân của tháng là 577,5 USD/tấn, bằng giá bình quân tháng trước. Trước đó, liên tục trong 3 tháng 7, 8, 9, giá gas bán lẻ trên thị trường đều nhích lên với tổng mức tăng là 71.000 đồng/bình 12 kg.

XĂNG DẦU

Xăng dầu đồng loạt tăng giá ở cả hai kỳ điều chỉnh

Trong tháng 11/2017, mặt hàng xăng dầu được Liên Bộ Tài chính – Công thương điều chỉnh ở mức tăng.

Cụ thể, tại kỳ điều chỉnh ngày 4/11,  từ 15h00, giá xăng RON 92 tăng 271 đồng/lít, xăng E5 tăng 224 đồng/lít; Dầu mazut 180CST 3.5S tăng 201 đồng/kg; dầu hỏa tăng 199 đồng/lít; Dầu diesel 0.05S tăng 265 đồng/lít. Sau khi thực hiện trích lập và chi sử dụng Quỹ bình ổn, xăng RON 92 tối đa không cao hơn 18.146 đồng/lít. Trong khi đó Xăng E5 tăng 224 đồng/lít giá bán không cao hơn 17.858 đồng/lít; Dầu diesel 0.05S tăng 265 đồng/lít, giá bán lẻ không cao hơn 14.611 đồng/lit; Dầu hỏa giá bán không cao hơn 13.198 đồng/lít; Dầu mazut 180CST 3.5S giá bán tối đa 11.909 đồng/kg. 

Tại kỳ điều chỉnh thứ hai trong tháng, kể từ 15h ngày 20/11, mỗi lít xăng RON 92 tăng 434 đồng, xăng E5 tăng 385 đồng một lít; các mặt hàng dầu cũng tăng 408 - 473 đồng một lít, kg tuỳ loại. Sau điều chỉnh, giá xăng khoáng tăng lên mức tối đa 18.580 đồng một lít; xăng E5 là 18.243 đồng một lít; dầu diesel 15.019 đồng một lít; dầu hoả là 13.617 đồng một lít và dầu mazut tối đa 12.382 đồng một kg.

Cơ sở tăng giá xăng, dầu trong nước theo cơ quan điều hành, là do bình quân giá xăng dầu thế giới tăng mạnh trong 15 ngày qua. Bình quân mỗi thùng xăng RON 92 ở mức 73,384 USD, 72,756 USD thùng dầu diesel… 

Như vậy từ đầu năm đến nay, giá xăng đã trải qua 22 kỳ điều chỉnh, trong đó có 10 kỳ tăng giá, 9 đợt giảm giá và 3 kỳ giữ nguyên...

Vào ngày 27-11, thông tin từ Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) cho biết sẽ thực hiện việc kinh doanh xăng E5 trên toàn hệ thống sớm hơn kế hoạch đề ra ít nhất là 15 ngày. Như vậy, muộn nhất là từ ngày 15-12, trên toàn hệ thống Petrolimex cả nước với khoảng 2.400 cửa hàng, sẽ chỉ kinh doanh hai loại là xăng E5 và xăng RON 95. Với hệ thống cửa hàng xăng dầu trực thuộc, tính đến ngày 10-11, đã chuyển đổi khoảng 40% cửa hàng xăng dầu và mục tiêu chậm nhất đến ngày 25-12 sẽ ngừng bán xăng RON 92.

Ô TÔ         

Thị trường ô tô đang di chuyển thận trọng trước thời điểm đầu năm 2018


Thị trường ô tô Việt Nam đang di chuyển thận trọng trước thời điểm giảm thuế xuống 0% vào đầu năm 2018. Các số liệu thống kê cho thấy, doanh số của các hãng xe giảm mạnh về cuối năm, bất chấp mọi biện pháp giảm giá từ các hãng xe.

Như dự đoán, tháng 11, giá ô tô trên thị trường tiếp tục có đợt giảm sâu và lần này đến từ các ông lớn như Toyota Việt Nam, Ford Việt Nam, Mitsubishi Việt Nam, Hyundai Thành Công… với những mẫu xe sản xuất trong nước đang bán chạy. Một câu hỏi được đặt ra, giá ô tô tại Việt Nam liệu đã xuống đến đáy và hiện đã là thời điểm mua xe tốt nhất hay chưa?

Và ngay trong tháng 11, thị trường đã ghi nhận một diễn biến khá bất ngờ, Công ty ô tô Trường Hải (Thaco), “kẻ châm ngòi” cơn lốc giảm giá ô tô trên thị trường lại bất ngờ điều chỉnh tăng giá với các mẫu xe Mazda. Trong đợt điều chỉnh này, cả ba mẫu Mazda6, Mazda CX-5 và BT-50 đều đồng loạt tăng từ 15-35 triệu đồng theo từng mẫu xe. Liệu “cánh chim báo bão” Thaco có mở đầu xu thế tăng giá trên thị trường ô tô trong thời gian tới? Câu trả lời này khó có một câu trả lời chính xác, và khiến cho người tiêu dùng như lạc vào “mê hồn trận” không đoán định đâu là mức giá cuối cùng của thị trường.

Về tình hình tiêu thụ, theo số liệu thống kê của Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), trong tháng 10 vừa qua doanh số bán hàng của toàn thị trường ôtô đạt 21.868 xe các loại, tăng 3% so với tháng 9, nhưng lại giảm tới 22% so với cùng kỳ năm ngoái. Tính chung 10 tháng năm 2017, tổng doanh số bán hàng của toàn thị trường ôtô đạt gần 205.000 xe, giảm 9% so với cùng kỳ năm trước.

Còn theo số liệu công bố của Tổng cục Hải quan, tính đến nửa đầu tháng 10, Việt Nam nhập khẩu 2.511 ô tô nguyên chiếc (CBU) các loại, trị giá 61 triệu USD. Trong số xe nhập khẩu, chỉ có 526 chiếc dưới 9 chỗ ngồi. Ô tô trên 9 chỗ ngồi là 25 chiếc và ô tô tải là 1.595 chiếc. Theo đó, số lượng xe nhập khẩu nửa đầu tháng 10 được cho là tiếp tục đà giảm từ tháng 9. Và nhìn chung thị trường ô tô Việt, càng cuối năm 2017, lượng ô tô nhập về Việt Nam càng giảm.

Nhu cầu mua xe thực sự của người Việt còn rất lớn, tuy nhiên thị trường chững lại thời gian qua do tâm lý chờ đợi giá giảm. Tâm lý này có lẽ sẽ được “giải tỏa” vào đầu năm 2018, khi các chính sách về thuế, điều kiện kinh doanh sản xuất ô tô đã rõ ràng.

THỦY SẢN

Giá trị xuất khẩu thủy sản tăng 18,3% so với cùng kỳ năm 2016

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản trong tháng 11/2017 ước đạt gần 3 tỷ USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu 11 tháng năm 2017 đạt 33,14 tỷ USD, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, giá trị xuất khẩu thuỷ sản ước đạt 7,57 tỷ USD, tăng 18,3% so với cùng kỳ của năm 2016.

Còn theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, từ ngày 1/1 - 15/11/2017 xuất khẩu thủy sản đã đạt giá trị trên 7,2 tỷ USD và kim ngạch xuất khẩu thủy sản trong tháng 11/2017 ước đạt 728,118 triệu USD. Cộng dồn 11 tháng đạt giá trị 7,565 tỷ USD. Như vậy, kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2017 sẽ vượt dự báo khoảng 156 triệu USD.

Hiện nay, top 4 thị trường XK thủy sản hàng đầu của Việt Nam đã có sự thay đổi, theo đó lần lượt là: Liên minh châu Âu (EU), Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc và đã có sự thay đổi vị trí số 1 giữa Mỹ và EU. Nhìn chung 10 tháng đầu năm 2017, xuất khẩu thủy sản sang hầu hết các thị trường chính đều tăng trưởng khả quan so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, xuất khẩu thủy sản sang thị trường EU trong tháng 10 đạt 168,803 triệu USD, tăng 37,5% so với cùng kỳ 2016 và 8,84% so với tháng 9. Cộng dồn 10 tháng, xuất khẩu thủy sản vào thị trường EU đạt giá trị 1,215 tỷ USD, tăng 21,2% so với cùng kỳ 2016. Đây là lần đầu tiên EU vượt qua Mỹ để trở thành thị trường xuất khẩu thủy sản số 1 của Việt Nam. Trong khi đó, xuất khẩu thủy sản sang Mỹ - từ thị trường số 1, rớt xuống vị trí thứ 2 do tăng trưởng chậm lại và bị sụt giảm nhẹ (2,5%) về kim ngạch. Nguyên nhân chính là do Bộ Thương mại Mỹ áp thuế chống bán phá giá cao đối với 2 mặt hàng tôm và cá tra, khiến các mặt hàng này bị giảm khả năng cạnh tranh so với các đối thủ.

Đối với mặt hàng chủ lực trong xuất khẩu, theo khảo sát Tổng cục Thủy sản, giá cá tra nguyên liệu ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long vẫn trên đà tăng liên tiếp từ thời điểm cuối tháng 8/2017 đến nay. Hiện mức giá bán cá tra tại ao đang dao động từ 27.500 - 28.000 đồng/kg đối với loại trên 1kg/con; 28.500 - 30.000 đồng/kg loại 0,8 - 1 kg/con. Đây cũng là mức giá cao nhất trong năm 2017, cao hơn 6.000 - 7.000 đồng/kg so với cùng kỳ 2016. Với mức giá tăng như trên, theo lý thuyết, người nuôi cá tra sẽ có lời từ 6.000 - 8.000 đồng/kg và có một năm “bội thu”. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều hộ nuôi đang tiếc “đứt ruột” với tình cảnh này do phần lớn các ao nuôi lại không còn cá để bán hoặc cá còn khá nhỏ chưa đến thời điểm thu hoạch

Tổng cục Thủy sản (Bộ NN-PTNT) cũng cho biết, nguyên nhân giá cá tra tăng mạnh trong thời gian qua là nhờ nhu cầu thu mua nguyên liệu để chế biến xuất khẩu từ các doanh nghiệp tăng phục vụ các đơn hàng cuối năm, trong khi nguồn cung hạn chế. Diện tích nuôi cá tra của các tỉnh ĐBSCL 10 tháng qua đạt 5.410,3 ha, giảm 0,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Sản lượng thu hoạch 10 tháng tăng trưởng khá, đạt hơn 1,1 triệu tấn.

Do giá cá nguyên liệu tăng cao, nhiều hộ đã chủ động thả nuôi làm lượng cá giống thiếu hụt và tăng giá mạnh. Giá cá tra giống đang ở mức đỉnh điểm, từ 40 - 60 nghìn đồng/kg (loại 20 con/kg) và từ 30 - 45 nghìn đồng/kg (30 con/kg), tăng hơn 20 nghìn đồng/kg so với tuần trước và cao gấp 2 - 3 lần so với cùng kỳ năm ngoái.

Đánh giá về hoạt động xuất khẩu, ông Trương Đình Hoè, Tổng Thư ký Vasep cho biết, nhìn chung tình hình xuất khẩu thủy sản trong năm 2017 không có những đột biến như giai đoạn 2010-2011, nhưng cái chính yếu là một số thị trường bắt đầu chú ý nhiều hơn tới thủy sản Việt Nam.“Có thể khối lượng thủy sản xuất khẩu năm nay không tăng nhiều nhưng xét về mặt giá trị thì tăng cao, vì có thuận lợi là các doanh nghiệp tập trung sản xuất các mặt hàng xuất khẩu có hàm lượng chế biến để nâng cao giá trị gia tăng. Đặc biệt là xuất sang thị trường EU. Chính điều này đã góp phần đưa kim ngạch xuất khẩu về đích sớm hơn 1 tháng”, ông Hoè nhấn mạnh.

EU hiện đang là thị trường số 1 của xuất khẩu thủy sản Việt Nam, nhưng với việc bị “dính” thẻ vàng IUU và có nguy cơ đổi màu thẻ, nếu vấn đề này xảy ra sẽ tác động lớn đến kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào thị trường EU trong năm sau. Do vậy, vấn đề bây giờ là toàn ngành thủy sản và các cơ quan Chính phủ phải hành động tích cực và quyết liệt để “thoát” thẻ vàng, và chí ít thì cũng không để đổi màu thẻ làm ảnh hưởng lớn đến kế hoạch xuất khẩu của ngành thủy sản trong năm 2018.

Bên cạnh mặt hàng chủ lực là cá tra, xuất khẩu tôm cũng đóng góp phần lớn vào giá trị xuất khẩu thủy sản. Trong tháng 11, tại thị trường nội địa, theo các doanh nghiệp chế biến và đại lý thu mua tôm tại Sóc Trăng, giá tôm sú lẫn tôm thẻ chân trắng liên tục có sự biến động theo kích cỡ tôm, nhưng nhìn chung vẫn còn ở mức cao so cùng kỳ những năm trước.

 

Biến động và bất ngờ nhất chính là sự sụt giảm mạnh của giá tôm sú cỡ lớn. Nếu như đầu tháng 11, giá tôm sú loại 30 con/kg được các thương lái và nhà máy thu mua ở mức 235.000 - 260.000 đồng/kg, đến ngày 10/11 giá chỉ còn 200.000 đồng/kg. Loại tôm sú từ 40 con/kg trở lên giá giảm 15.000 - 25.000 đồng/kg. Cụ thể, tôm sú loại 40 - 50 con/kg chỉ còn 145.000 - 155.000 đồng/kg và loại trên 50 con/kg đến 60 con/kg giá ở mức 140.000 - 145.000 đồng/kg.

 

Đối với tôm thẻ chân trắng (TTCT), sau thời gian tăng giá mạnh, gần đây, giá tôm cỡ nhỏ bắt đầu giảm đáng kể. Hiện, TTCT loại 80 - 100 con/kg chỉ được mua vào với giá 100.000 - 115.000 đồng/kg, giảm khoảng 10.000 - 15.000 đồng/kg. Tôm loại 40 - 50 con/kg cũng giảm 3.000 - 5.000 đồng/kg còn 140.000 - 150.000 đồng/kg, loại 30 con/kg giá 158.000 đồng/kg.

 

Còn theo các doanh nghiệp chế biến tôm tại Sóc Trăng, nguyên nhân giá tôm vào cuối vụ lại giảm thay vì tăng so những năm trước, là vì vào đầu tháng 11, giá tôm có phần nhích lên, nhất là đối với tôm cỡ lớn, nhưng chủ yếu và tôm của những trại nuôi đạt chuẩn ASC hoặc VietGAP và chỉ diễn ra trong thời gian ngắn. Nguyên nhân là do một số doanh nghiệp gom hàng cung ứng cho các nhà hàng, khách sạn ở Đà Nẵng phục vụ khách đến tham dự APEC. Hiện, giá tôm giảm trở lại là do phần lớn các doanh nghiệp đã gom đủ hàng cho các phiếu giao trong tháng 12, trong khi các hợp đồng cho năm 2018 vẫn chưa được ký kết nhiều. 

Về tình hình xuất khẩu tôm, hiệp hội chế biết xuất khẩu thủy sản (Vasep) cho biết, sau khi giảm trong quý I, xuất khẩu tôm quý II và III tăng trưởng tốt, giá trị xuất khẩu trong quý II tăng 52% so với quý I, xuất khẩu trong quý III tăng 25% so với quý II, quý III tăng 90% so với quý I (mức tăng trưởng cao nhất trong số các quý III so với quý I từ năm 2014 đến nay). Xuất khẩu tôm trong 9 tháng năm 2017 đạt 2,7 tỷ USD tăng 21,4% so với cùng kỳ năm 2016. Tôm Việt Nam được xuất khẩu sang 93 thị trường, tăng 8 thị trường so với cùng kỳ năm 2016. 

Theo nhận định của VASEP, xuất khẩu tôm khởi sắc nhờ nhu cầu tăng từ các thị trường nhập khẩu chính, giá tôm thế giới tăng, tỷ giá các đồng EUR và yên tăng so với USD. Top các thị trường chính, gồm: EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Mỹ, Hàn Quốc, Canada, Australia, Đài Loan, Thụy Sỹ chiếm 96,6% tổng giá trị xuất khẩu tôm của Việt Nam.

Trong giai đoạn này, xuất khẩu tôm sang Top 5 thị trường chính đều tăng ở mức 2 con số trừ Mỹ giảm 6,3%. Vị trí Top 5 thị trường chính đã có sự thay đổi: EU vươn lên trở thành thị trường số 1 về nhập khẩu tôm, Nhật Bản giữ vị trí thứ hai, Trung Quốc đứng ở vị trí thứ 3 và Mỹ tụt xuống vị trí thứ 4. VASEP cũng cho biết, hiện các nước tăng cường nhập khẩu tôm để phục vụ nhu cầu cho các lễ hội cuối năm nên xuất khẩu tôm quý IV dự kiến vẫn tiếp tục tăng.

LÚA GẠO

Giá lúa Đồng bằng sông Cửu Long tăng cao những tháng cuối năm

Nhu cầu xuất khẩu gạo những tháng cuối năm đang tăng mạnh khiến nhiều doanh nghiệp tìm kiếm nguồn nguyên liệu để cung ứng cho các hợp đồng xuất khẩu. Trong khi đó, tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, vụ lúa Thu Đông 2017 đã hoàn thành thu hoạch. Hiện giá lúa tăng mạnh và rất khó tìm mua. Nguồn cung khan hiếm nên hầu hết diện tích lúa hoàn thành thu hoạch đều được thương lái thu mua ngay tại ruộng. Giá lúa tại thời điểm này tăng trên dưới 500 đồng/kg so với vụ trước. Nhờ vậy, lợi nhuận vụ này đạt được khá cao, khoảng 20 triệu đồng/ha. 

Tại các địa phương lân cận Cần Thơ như Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang... phần lớn nông dân phấn khởi trước tình hình giá lúa tăng cao nhưng nhiều hộ cũng tiếc vì thu hoạch sớm, bán sớm.

Năm nay, ngoài việc ký được các hợp đồng xuất khẩu gạo chính ngạch sang thị trường Trung Quốc, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo trên địa bàn thành phố Cần Thơ còn ký kết xuất khẩu gạo sang các thị trường mới như Bangladesh, Iran, Philippines... Vì vậy, nhu cầu gạo nguyên liệu hiện tại cũng như trong thời gian tới sẽ còn tăng mạnh.

Cụ thể, giá lúa tươi giống IR 50404 được thương lái đặt cọc thu mua với giá trên dưới 5.000 đồng/kg, giống OM 5451 và Jasmine có giá từ 5.400-5.500 đồng/kg...

Tại thị trường lúa gạo miền Bắc, từ giữa tháng 10 đến nay, giá lúa gạo tại thị trường miền Bắc cũng tăng mạnh so với cùng kỳ năm ngoái do ảnh hưởng của dịch bệnh và mưa bão. Cụ thể, những loại gạo có chất lượng trung bình như IR50404, Khang dân, BC15... hiện được bán với giá từ 12.000 - 15.000 đồng/kg, tăng từ 800 đến 1.000 đồng/kg. Các loại gạo chất lượng cao hơn như Bắc thơm, tám thơm Hải Hậu, nếp cái hoa vàng… tăng từ 2.000 đồng - 5.000 đồng/kg.

Về thị trường xuất khẩu, theo thống kê của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu gạo của Việt Nam trong 10 tháng đầu năm 2017 đạt gần 5,1 triệu tấn, trị giá 2,29 tỷ USD, tăng 23,5% về lượng và tăng 23,2% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái. Như vậy so với mục tiêu đề ra là năm 2017 xuất khẩu gạo đạt 5,7 triệu tấn, thì chỉ còn 2 tháng cuối năm, xuất khẩu gạo có thể sẽ vượt mục tiêu.

CÀ PHÊ

Giá cà phê lao dốc, nông dân găm hàng, doanh nghiệp khó thu mua


Sau khi đạt mức giá 45 triệu đồng/tấn ở đầu vụ, hiện nay giá cà phê chỉ còn 38 triệu đồng/tấn và tiếp tục có xu hướng lao dốc. Trước tình hình đó, người trồng cà phê tại tỉnh Gia Lai đang trữ hàng, chờ giá lên, nên doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc thu mua.

Hiện nay, giá cà phê nhân đang ở mức 38 triệu đồng/ tấn, giảm 6 triệu đồng/tấn so với đầu vụ. Việc nông dân tích trữ cà phê chờ giá, khiến doanh nghiệp thu mua gặp khó khăn. Nguồn cung khan hiếm, các nhà rang xay và doanh nghiệp xuất khẩu ở TP HCM cũng đang nhập hàng cầm chừng. Vì vậy, doanh nghiệp thu mua cà phê nhân xô cũng lựa chọn phương án mua bán trao tay kiếm lợi nhuận chênh lệch, thay vì tích trữ chờ giá lên như các năm.

“Năm nay, sản lượng vượt hơn năm ngoái 20%, nên tất cả đơn vị đều nhận định giá sẽ xuống tầm 37.000 - 38.000 đồng/kg. Ông Phạm Tấn Lực, Trưởng phòng Quản lý Xuất - Nhập khẩu, Sở Công thương tỉnh Gia Lai cho biết: "Hiện tại, giá cà phê nội địa và xuất khẩu đều sụt giảm so với cùng kỳ các năm. Đây là hiện tượng khác với quy luật nhiều năm, khó dự đoán. Vì vậy, cả doanh nghiệp thu mua lẫn người trồng cà phê cần thận trọng để tránh rủi ro".

Theo báo cáo mới nhất của Bộ NN & PTNT, xuất khẩu cà phê tháng 11/2017 ước đạt 83.000 tấn đạt trị giá 185 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu cà phê 11 tháng đầu năm 2017 ước đạt 1,27 triệu tấn và 2,89 tỷ USD, giảm 22,5% về khối lượng và giảm 3,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Giá cà phê xuất khẩu bình quân 10 tháng đầu năm 2017 đạt 2.289,9 USD/tấn, tăng 26,1% so với cùng kỳ năm 2016.

HỒ TIÊU 

Tồn kho lớn, giá hồ tiêu xuất khẩu giảm mạnh

 

Trong 10 tháng đầu năm nay, xuất khẩu hồ tiêu sang hầu như tất cả các thị trường đều bị sụt giảm về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái, do giá xuất khẩu giảm mạnh, cho dù khối lượng hạt tiêu xuất khẩu tăng.

Khối lượng hồ tiêu xuất khẩu trong 10 tháng đầu năm 2017 ước đạt 192 ngàn tấn, đạt 1,02 tỷ USD, tăng 20,7% về khối lượng nhưng giảm 21% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Giá tiêu xuất khẩu bình quân đạt 5.340 USD/tấn, giảm 34,3% so với cùng kỳ năm 2016.

Ba thị trường xuất khẩu hồ tiêu lớn nhất của Việt Nam là: Hoa Kỳ, Ấn Độ, và Các tiểu vương quốc Ảrập Thống Nhất (UAE) với thị phần lần lượt là 19,3%, 6,8%, và 6%.

Hoa Kỳ là thị trường lớn nhất tiêu thụ lớn nhất các loại hạt tiêu của Việt Nam, chiếm 18% trong tổng lượng hạt tiêu xuất khẩu của cả nước và chiếm 19% trong tổng kim ngạch, đạt 31.876 tấn, tương đương 186,46 triệu USD, (giảm 6,7% về lượng và giảm 37% giá trị so với cùng kỳ 2016).

Ấn Độ thị trường xuất khẩu hồ tiêu lớn thứ 2 của Việt Nam, chiếm 7,2% trong tổng lượng và chiếm 6,8% tổng kim ngạch; đạt 12.993 tấn, trị giá 65,46 triệu USD (tăng 35% về lượng nhưng giảm 11% giá trị). Tiếp đến thị trường UAE chiếm 6,7% trong tổng lượng và 6% trong tổng kim ngạch, đạt 12.081 tấn, trị giá 57,92 triệu USD.

Bước sang tháng 11/2017, mặt hàng tiêu vẫn chứng kiến cảnh giá xuất khẩu giảm mạnh. Khối lượng tiêu xuất khẩu ước đạt 203.000 tấn với 1,06 tỷ USD, tăng 20% về khối lượng nhưng giảm gần 22% về giá trị. 

Trên bình diện giá cả, giá tiêu tại Đắk Lắk – Đắc Nông trong tháng 11/2017 giữ quanh mức 77.000 đồng/kg. Giá tiêu tại Gia Lai là 76.000 đồng/kg và giá tiêu tại Bà Rịa Vũng Tàu có mức giá cao nhất 78.000 đồng. Nhìn chung ở các vùng nguyên liệu giá tiêu hiện vẫn ở mức thấp do nhu cầu của thị trường suy yếu.

Trên thị trường hồ tiêu thế giới, hồ tiêu Việt Nam đang chiếm tỷ trọng rất cao, đến 62,5% lượng hồ tiêu toàn cầu, dù giá xuất khẩu rớt nhưng giá tiêu trong nước vẫn duy trì ở mức 80.000-90.000 đồng/kg. Nhưng nếu hồ tiêu vẫn tiếp tục duy trì tình trạng “cung vượt cầu” thì giá hồ tiêu chắc chắn sẽ xuống tiếp. Hiện tượng này “báo động” cho vụ tiêu năm sau cũng sẽ tiếp tục khó khăn trong vấn đề giá.

Dự báo giá hồ tiêu từ nay đến cuối năm, các chuyên gia cho rằng, giá tiêu sẽ phụ thuộc vào 2 yếu tố: tồn kho của Việt Nam và thu hoạch vụ mới của Ấn Độ. Vụ tiêu của Việt Nam đã qua rất lâu và chỉ còn lượng tồn kho trong dân, nhưng người nông dân với xu hướng bán dần chứ không bán ồ ạt nên giá tiêu trên thị trường vẫn ổn định và duy trì đến cuối năm.

CAO SU 

Tháng 11, Việt Nam xuất khẩu 143 nghìn tấn cao su, giá trị đạt 210 triệu USD




Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, tháng 11/2017, khối lượng xuất khẩu cao su của Việt Nam ước đạt 143 nghìn tấn với giá trị đạt 210 triệu USD. Với ước tính này, khối lượng xuất khẩu cao su 11 tháng đầu năm 2017 ước đạt 1,21 triệu tấn và 2,01 tỷ USD, tăng 8,2% về khối lượng và tăng 38,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.


Giá cao su xuất khẩu bình quân 10 tháng đầu năm 2017 đạt 1.680,4 USD/tấn, tăng 32,6% so với cùng kỳ năm 2016.

Trung Quốc, Malaysia và Ấn Độ là 3 thị trường tiêu thụ cao su lớn nhất của Việt Nam trong 10 tháng đầu năm 2017, chiếm thị phần lần lượt 63,1%, 5,7% và 4,0%. Giá trị xuất khẩu cao su sang 3 thị trường này lần lượt là: 1,14 tỷ USD, tăng 55,6%; 102,1 triệu USD, tăng 5,1% và 71,2 triệu USD, giảm -31% so với cùng kỳ năm 2016.

Theo hệ thống cung cấp giá tại địa phương, giá thu mủ cao su dạng nước tại Đồng Nai đã tăng trở lại sau nhiều tháng không biến động, từ mức 12.500 đồng/kg lên 13.200 đồng. Trong khi đó, giá mủ cao su nguyên liệu tại Bình Phước tháng 11/2017 diễn biến giảm, từ mức 275 đồng/độ vào đầu tháng xuống còn 260 đồng/độ (22/11).

Ở chiều ngược lại, khối lượng nhập khẩu cao su trong tháng 11/2017 ước đạt 58 nghìn tấn với giá trị đạt 103 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu cao su 11 tháng đầu năm 2017 lên 501 nghìn tấn và 998 triệu USD, tăng 29,4% về khối lượng và tăng 65,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Bốn thị trường nhập khẩu cao su chủ yếu trong 10 tháng đầu năm 2017 là Hàn Quốc, Nhật Bản, Campuchia và Thái Lan chiếm 54,5% thị phần.

HẠT ĐIỀU

Theo báo cáo của bộ NN & PTNT, giá điều trong tháng 11 cũng không có nhiều biến động. Cụ thể, tại Bình Phước điều nhân loại W240 giá 240.000 đồng/kg, loại W320 giá 230.000 đồng. Giá hạt điều khô mua xô tại Đăk Lăk dao động từ 40.000 – 45.000 đồng/kg. Tại Đồng Nai bắt đầu vào vụ thu hoạch điều tươi, mức giá thu mua điều tươi là 11.500 đồng/kg.



Theo kế hoạch xuất khẩu của Hiệp hội điều Việt Nam (VINACAS), trong bối cảnh gặp nhiều khó khăn, cả năm 2017 toàn ngành phấn đấu xuất khẩu đạt số lượng 330.000 tấn điều nhân các loại với kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm điều trên 3,3 tỷ USD (trong đó xuất khẩu nhân điều là 3,0 tỷ USD) - cao nhất từ trước đến nay. Với kết quả đạt được trong năm 2017, ngành điều Việt Nam sẽ tiếp tục duy trì thị phần trên 50% tổng giá trị xuất khẩu nhân điều toàn cầu (khoảng 5,5 tỷ USD). Năm 2017 cũng là năm thứ 12 liên tiếp ngành điều Việt Nam giữ vị trí số 1 thế giới về chế biến, xuất khẩu nhân điều.

(TTGCVT tổng hợp)


 

Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (024) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (024) 39762593 
Email: ttgcvattu@yahoo.com