Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Thị trường hàng hóa nguyên liệu trong nước tháng 10/2017
Cập nhật: 31-10-2017

VÀNG 

Mức giá cao nhất của vàng trong tháng 10 là 36,76 triệu đồng, mức thấp nhất là 36,44 triệu đồng (chiều bán ra)


Trong tuần đầu tháng 10, giá vàng trong nước mặc dù có những phiên biến động nhưng sức tăng giảm không đáng kể, dao động ở khoảng 36,27 - 36,39 triệu đồng/lượng (chiều mua vào) và 36,45 – 36,58 triệu đồng/lượng (chiều bán ra) Theo một số doanh nghiệp vàng trong nước thống kê, xu hướng giảm chiếm áp đảo khiến lượng giao dịch trong tuần vẫn chưa có đột biến. Tuy nhiên, nhu cầu mua bán ở thời điểm này vẫn phát sinh đan xen, nhu cầu này góp phần hỗ trợ khá tốt cho thị trường vàng. Kết thúc tuần, giá vàng SJC của công ty VBĐQ Sài Gòn thời điểm lúc 8h25’ sáng 6/10 được niêm yết ở mức 36,34 - 36,56 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), giảm 60 nghìn đồng/lượng ở cả hai chiều so với chốt ngày 5/10. Quy đổi theo tỷ giá tại Vietcombank, giá vàng trong nước đắt hơn giá thế giới khoảng 1,7 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế và các khoản phí).

Bước sang tuần thứ 2, giá vàng trong nước hầu như đứng yên. Giá mua vào chủ yếu ở mức 36,45 triệu đồng/lượng và giá bán ra xấp xỉ 36,70 triệu đồng/lượng. Có thể thấy xuyên suốt trong hai tuần qua của thị trường vàng là bầu không khí giao dịch ảm đạm, giá vàng không có lực đẩy dù cho giá vàng thế giới vẫn biến động. Giá vàng chững phản ánh lực cầu của thị trường yếu. Dường như các nhà đầu tư vẫn thờ ơ và vàng không phải là kênh đầu tư dễ sinh lời ở thời điểm hiện tại. Vào lúc 8 giờ 34 phút sáng 13/10 tại Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn, giá vàng SJC đứng ở mức 36,48 - 36,70 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), giảm nhẹ 10 nghìn đồng/lượng ở cả hai chiều so với chốt phiên hôm 12/10. Quy đổi theo tỷ giá tại Vietcombank, giá vàng trong nước đắt hơn giá thế giới gần khoảng 1,2 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế và các khoản phí).

Trung tuần tháng 10, giá vàng trong nước đồng loạt đi xuống theo đà giảm của giá vàng thế giới, duy chỉ có ngày giao dịch cuối tuần 20/10 giá có xu hướng tăng nhẹ. Giá vàng dao động trong tuần ở khoảng 36,32 – 36,49 triệu đồng/lượng (chiều mua vào) và 36,54 – 36,71 triệu đồng/lượng (chiều bán ra). Theo các chuyên gia phân tích, diễn biến giảm đã làm thay đổi tâm lý nhà đầu tư. Nhu cầu săn vàng giá rẻ giúp cho thị trường sôi động hơn với số lượng khách mua vàng chiếm phần lớn 70% số lượng trong nhiều phiên giao dịch. Tuy nhiên, bao trùm thị trường vẫn chủ yếu là các giao dịch nhỏ lẻ. Kết thúc tuần giao dich, vào giờ mở cửa sáng 20/10, giá vàng SJC của công ty VBĐQ Phú Nhuận neo ở mức 36,37 – 36,55 triệu đồng/lượng và đắt hơn giá vàng thế giới 1,13 triệu đồng/lượng. 

Tuần cuối cùng của tháng 10, giá vàng tăng giảm xen kẽ qua các phiên, dao động trong khoảng 36,22 – 36,36 triệu đồng/lượng (chiều mua vào) và 36,44 – 36,58 triệu đồng/lượng (chiều bán ra). Nhìn chung, trong vài tuần trở lại đây, giá vàng luôn bám sát mốc 36,50 triệu đồng/lượng.  Theo nhận định của Doji, mức giá dao động quanh ngưỡng thấp đã tạo sự “rung lắc” nhẹ với thị trường vàng bởi nhu cầu sở hữu vàng được nhà đầu tư dần chú trọng. Tuy nhiên, động thái mua vàng chỉ tạo hiệu ứng mạnh ở các phiên sáng rồi giảm nhiệt ở các phiên chiều. Hiện nhiều nhà đầu tư vẫn đang chờ đợi những cơ hội mới ở những phiên tiếp theo. Kết thúc tuần giao dịch, vào giờ mở cửa sáng 27/10, giá vàng SJC của Công ty VBĐQ Sài Gòn đứng ở mức 36,22 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,44 triệu đồng/lượng (bán ra), giảm 50 ngàn đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với cuối giờ chiều ngày 26/10. Với mức giá trên, vàng trong nước vẫn cao hơn với vàng thế giới khoảng 1,3 triệu đồng/lượng.

ĐÔ LA

Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng cao, giá giao dịch USD tại Ngân hàng nhìn chung ổn định

Càng tiệm cận về thời điểm cuối năm, khi nhu cầu nhập khẩu hàng hóa trở nên nhiều hơn, đặc biệt trước các biến động không ngừng của thị trường tài chính thế giới, đồng USD luôn đứng trước áp lực căng thẳng. Sự biến động của đồng đô la luôn phản ánh xác thực sự nhanh nhạy của thị trường khi các nhà đầu tư luôn tìm kiếm hoặc rời bỏ một kênh “trú ẩn an toàn”. Trong tháng 10/2017, tỷ giá trung tâm của Ngân hàng nhà nước luôn biến động không ngừng. Điều này cho thấy các nhà điều hành tiền tệ luôn bám sát và điều chỉnh nhằm bình ổn thị trường.

Trong tháng 10, mức tỷ giá trung tâm cao nhất là 22.477 đồng/USD (thuộc về sáng 30/10) và mức thấp nhất là 22.451 đồng/USD. Đặc biệt vào ngày 10/10, theo biểu niêm yết được công bố, mức giá mua vào USD của Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước áp dụng cho ngày 10/10 là 22.720 VND, giảm 5 VND so với mức áp dụng kể từ cuối tháng 6/2017 đến nay; giá bán vẫn thấp hơn mức trần một bước 20 VND, với 23.121 VND. Việc Ngân hàng Nhà nước liên tiếp hạ giá mua vào USD như trên là tín hiệu mới, cho thấy sự linh hoạt hơn của nhà điều hành trong ứng xử với tỷ giá.

Trước sự biến động của tỷ giá trung tâm, giá giao dịch đồng đô la tại các ngân hàng chủ yếu nằm ở mức 22.685 – 22.755 đồng/USD.

Vào ngày 11/10, dẫn lời Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, dự trữ ngoại hối của Việt Nam hiện đạt 45 tỷ USD, tăng thêm 6 tỷ USD so với cuối năm 2016. Đây là mức dự trữ ngoại hối lớn nhất được công bố từ trước đến nay. Theo phó thống đốc Đào Minh Tú cho biết với dự trữ ngoại hối 45 tỷ USD, Ngân hàng Nhà nước tin rằng có thể giữ tỷ giá ở mức ổn định. Phó thống đốc cũng cho rằng, các doanh nghiệp sẽ không phải lo cất trữ ngoại tệ hay phập phồng về rủi ro tỷ giá..., đồng thời việc mua ngoại tệ trở nên dễ dàng hơn.

THÉP

9 tháng, ngành thép tăng trưởng trên 2 con số

Theo thông tin từ Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), 9 tháng đầu năm 2017, mặc dù việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thép vẫn gặp nhiều khó khăn, tuy nhiên, với kinh nghiệm và sự nỗ lực không ngừng của DN đã giúp cho việc sản xuất và tiêu thụ thép đều tăng trưởng khá.

Cụ thể, tháng 9/2017, sản xuất thép của các doanh nghiệp (DN) thép trong nước đạt 836.624 tấn, tăng 19,4% so với cùng kỳ 2016 và tăng 18,13% so với tháng trước. Trong đó, tiêu thụ đạt 740.565 tấn, giảm 6,5% so với tháng trước, nhưng tăng so với cùng kỳ 2016 là 16,5%. Tồn kho tính tới thời điểm 30/9/2017 là 579.342 tấn, tăng 28% so với thời điểm cuối tháng 8/2017.

Đối với nguyên liệu đầu vào cho cán thép như phôi thép cũng có giá giao dịch bất thường, ngày 6/10/2017 giá phôi dao động ở mức 525-530 USD/tấn tại cảng Đông Á - mức này giảm khoảng 15 USD/tấn so với đầu tháng 9/2017, sau khi tăng 70 USD/tấn ở mức 540-550 USD/tấn vào hồi đầu tháng 9/2017.

Nếu tính tổng 9 tháng đầu năm 2017, sản xuất thép của các DN trong nước đạt hơn 15,4 triệu tấn, tăng 24,2% so với cùng kỳ 2016. Trong đó, tiêu thụ đạt gần 13 triệu tấn, tăng tương ứng là 20,5% so với cùng kỳ năm trước.

Những con số nêu trên cho thấy, trải qua 9 tháng đầu năm 2017 việc SXKD của các DN thép trong nước tăng trưởng khá tốt. Tuy nhiên, để đáp ứng được hết công suất thiết kế của DN thép trong nước là điều còn rất xa vời, vì tính trung bình sản xuất của cả ngành thép hiện nay chỉ chạy được khoảng trên 70% công suất thiết kế, tương ứng với dự báo tiêu thụ, tránh tình trạng để tồn kho nhiều.

Nguyên nhân các DN trong nước chưa chạy hết 100% thiết kế chính là sức ép tiêu thụ từ hàng nhập khẩu vẫn nhiều, tính từ 01/1/2017 đến 31/8/2017, nhập khẩu thép các loại đạt hơn 13,5 triệu tấn, với tổng kim ngạch nhập khẩu đạt gần 7 tỷ USD, giảm 22% về lượng, nhưng tăng 3,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Về tình hình XNK, theo TCHQ, so với nửa cuối tháng 9/2017, nhập khẩu mặt hàng sắt thép trong kỳ 1 tháng 10/2017 tăng 23,4%, tương ứng tăng 72 triệu USD. Lũy kế đến 15/10, nhập khẩu sắt thép các loại đã đạt 7,07 tỷ USD, cao hơn so với cùng kỳ năm 2016.

Trên bình diện giá cả, giá thép luôn biến động tức thì theo giá thế giới. Theo đó, giá thép công nghiệp cũng đã tăng 20% từ đầu quý III đến nay và được dự báo khó giảm trong thời gian tới.

Đại diện một của hàng bán thép cho biết, giá thép xây dựng các loại vẫn trên đà tăng trong tháng 9 và tháng 10. Hiện giá thép xây dựng bán ra chưa có thuế VAT là 14,5 triệu VND/tấn. Tương tự, giá thép công nghiệp cũng đang trên đà tăng. Ông Đinh Công Khương, Chủ tịch HĐTV Công ty Thép Khương Mai nhận định: “Hiện nay, do ảnh hưởng từ Trung Quốc, giá thép cán nóng đang dao động ở mức 590 – 620 USD/ tấn, mặc dù, tháng trước chỉ 420 – 450 USD/tấn”. Như vậy, giá thép hiện giờ ở trong nước đang ở mức cao nhất tính từ năm 2009 – 2010 trở lại đây và chỉ thấp hơn đỉnh của năm 2008 là trên 700 USD/tấn.

Đặc biệt, tại thị trường phía Nam, giá thép liên tục điều chỉnh giá theo chiều hướng đi lên, nguồn cung không dồi dào, tâm lý người tiêu dùng và doanh nghiệp (DN) đều dè dặt. Mặc dù đã bắt đầu bước vào mùa xây dựng cuối năm ở miền Nam, song theo khảo sát của phóng viên , nhiều công trình đã giãn tiến độ do giá nguyên vật liệu xây dựngnhư tôn, thép không ngừng tăng cao.

Theo phản ánh của các chủ cửa hàng, khoảng 3 tháng nay, giá mặt hàng tôn, thép không ngừng gia tăng. Đến thời điểm hiện tại, giá đã ở mức đỉnh trong khoảng hai năm trở lại đây. Ông Nguyễn Đức Giang - Giám đốc Nhà máy Tôn Nguyễn Đức Anh Khoa - cho hay, do ảnh hưởng từ thị trường Trung Quốc, giá tôn trong nước đã tăng gần 30% trong quý III. Các thương hiệu lớn như Hoa Sen, Đại Thiên Lộc, TVP, Đông Á… hiện đều niêm yết giá chênh tới 4 triệu đồng/tấn so với quý II.

Xu hướng này cũng xảy ra đối với mặt hàng thép xây dựng, thép mạ kẽm. Theo thông báo của Công ty CP Thép Nam Kim, nguyên liệu cán nóng và cán nguội đang biến động mạnh do lo ngại vào mùa cao điểm tiêu thụ thép quý IV. Giá nguyên liệu cán nóng nhập khẩu đang chào lên đến 615 - 626 USD/tấn. Do đó, thương hiệu này đã điều chỉnh nâng giá bán cả hai sản phẩm tôn và thép.

Nhiều DN thép tại phía Nam cho biết, hiện chỉ nhập hàng trữ trong 1 tháng thay vì 3 tháng như trước đây, số lượng mã hàng trữ cũng không đa dạng. Vì vậy, các nhà thương mại phải nhập nhiều mã hàng từ nhiều nhà phân phối khác nhau, khiến chi phí vận chuyển bị đội lên trong khi lợi nhuận lại suy giảm. Theo dư báo của VSA, các thang cuối năm nhu cầu thép sẽ tăng hơn so với quy III/2017. Bên canh đó, trong quý vừa qua, nhiều đại lý đã thu mua thép để dự trữ và có khả năng xả hàng trong quý IV.

XI MĂNG

Xi măng: Tiêu thụ nội địa giảm, xuất khẩu tăng trở lại

Theo số liệu của Vụ Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng) ước sản phẩm xi măng tiêu thụ trong 10 tháng năm 2017 đạt khoảng 62,89 triệu tấn tăng 2% so với cùng kỳ năm 2016 và đạt khoảng 79% kế hoạch của cả năm.

Trong đó, đáng chú ý sản lượng sản phẩm xi măng tiêu thụ tại thị trường nội địa trong 10 tháng 2017 của cả nước ước đạt khoảng 47,22 triệu tấn, giảm 3% so với cùng kỳ. Riêng trong tháng 10, con số này đạt khoảng 4,92 triệu tấn giảm khoảng 3% so với cùng kỳ.

Trong khi đó tại thị trường xuất khẩu lại có những diễn biến trái chiều khi trong 10 tháng năm 2017 ước sản lượng sản phẩm xi măng xuất khẩu đạt khoảng 15,67 triệu tấn, tăng 20% với cùng kỳ năm 2016. Riêng trong tháng 10 xuất khẩu sản phẩm xi măng ước đạt khoảng 1,6 triệu tấn.

Các chuyên gia trên lĩnh vực vật liệu xây dựng cho rằng, sở dĩ sản lượng tiêu thụ xi măng taị thị trường nội địa giảm là do từ đầu năm đến nay và riêng trong tháng 10 điều kiện thời tiết bất thuận, mưa nhiều, kéo dài, ảnh hưởng đến hoạt động xây dựng làm nhu cầu xi măng tại thị trường trong nước giảm

Tình trạng này sẽ được cải thiện trong những tháng cuối năm khi nhiều công trình, dự án xây dựng tiếp tục được triển khai với khối lượng lớn hơn.

Về giá cả, so với tháng 9 giá xi măng trong tháng 10 nhìn chung không có biến động do giá nguyên vật liệu đầu vào, chi phí sản xuất cơ bản ổn định nên các nhà máy sản xuất kinh doanh xi măng cơ bản giữ ổn định giá bán..Giá xi măng của các công ty thuộc Tổng công ty Công nghiệp xi măng Việt Nam (Vicem) đứng ở mức khoảng 1.270.000 đồng/tấn (xi măng PCB30, đã có thuế VAT) và 1.705.000 đồng/tấn (Xi măng PCB40).

Cục Quản lý Giá dự báo trong các tháng còn lại của năm 2017, giá bán xi măng tại các doanh nghiệp sản xuất xi măng vẫn cơ bản giữ ổn định.

GAS

Giá gas tháng 10 tiếp tục tăng 28.000 đồng

Công ty TNHH MTV Dầu khí Sài Gòn (Saigon Petro) cho biết kể từ ngày 1-10, giá gas Saigon Petro tăng 28.000 đồng/bình 12 kg nên giá bán lẻ đến người tiêu dùng là 349.000 đồng/bình 12 kg.

Các công ty Gas Pacific Petro, Citi Petro, Elf gas… cũng tăng 28.000 đồng/bình 12 kg. Giá bán lẻ đến người tiêu dùng không vượt quá 357.000 đồng/bình 12 kg. Các hãng như PetroVietnam gas, Petrolimex cũng tăng 28.000 đồng, giá bán lẻ đến người tiêu dùng 350.000 đồng và 356.500 đồng/bình 12 kg.

Các công ty gas cho biết do giá gas thế giới tháng 10 công bố 577,5 USD/tấn, tăng 87,5 USD/tấn so với tháng 9. Vì vậy các công ty điều chỉnh giá tăng theo.

Đây là lần thứ năm trong năm 2017 giá gas tăng và là lần tăng mạnh thứ hai kể từ đầu năm đến nay (tháng 2 cũng tăng 28.000 đồng).

XĂNG DẦU

Giá xăng giảm 2 lần trong tháng 10 với mức giảm ít

Theo thông báo của Liên bộ Công Thương - Tài chính về việc điều hành giá bán lẻ xăng dầu trong phiên điều chỉnh ngày 5/10, giá xăng RON 92 giảm 112 đồng/lít.

Sau khi thực hiện trích lập và chi sử dụng Quỹ bình ổn, xăng RON 92 giảm xuống mức tối đa không cao hơn 17.999 đồng/lít. Trong khi đó Xăng E5 giảm 105 đồng/lít - giá bán không cao hơn 17.731đồng/lít; Dầu diesel 0.05S tăng 147 đồng/lít, giá bán lẻ không cao hơn 14.588 đồng/lit; Dầu hỏa giá bán không cao hơn 13.433 đồng/lít; Dầu mazut 180CST 3.5S giá bán tối đa 11.748 đồng/kg.

Việc trích lập Quỹ Bình ổn giá xăng dầu đối với các mặt hàng xăng dầu áp dụng từ 15h ngày 5/10. Theo đó mặt hàng xăng trích lập 130 đồng/lít, xăng E5 110 đồng/lít, dầu diesel 180 đồng/lít.

Trong kỳ điều chỉnh lần thứ 2, từ 17h00 ngày 20/10, giá xăng RON 92 giảm 124 đồng/lít, xăng E5 giảm 97 đồng/lít; Dầu mazut 180CST 3.5S giảm 104 đồng/kg; dầu hỏa giảm 434 đồng/lít; Dầu diesel 0.05S giảm 178 đồng/lít.

Sau khi thực hiện trích lập và chi sử dụng Quỹ bình ổn, xăng RON 92 tối đa không cao hơn 17.875 đồng/lít. Trong khi đó Xăng E5 giá bán không cao hơn 17.635đồng/lít; Dầu diesel 0.05S có giá bán lẻ không cao hơn 14.410 đồng/lit; Dầu hỏa giá bán không cao hơn 12.999 đồng/lít; Dầu mazut 180CST 3.5S giá bán tối đa 11.644 đồng/kg.

Việc trích lập Quỹ Bình ổn giá xăng dầu đối với các mặt hàng xăng dầu áp dụng từ 17h ngày 20/10. Theo đó mặt hàng xăng trích lập 130 đồng/lít, xăng E5 97 đồng/lít, dầu diesel 180 đồng/lít.

Theo Bộ Công Thương, bình quân giá thành phẩm xăng dầu thế giới trong 15 ngày trước ngày 20/10 là 66,98 USD/thùng xăng RON 92; giá dầu diesel 68,142 USD/thùng.

Từ đầu năm đến nay, giá bán lẻ xăng trong nước đã trải qua 19 kỳ điều chỉnh, trong đó có 11 kỳ tăng giá và 9 kỳ giảm giá.

Ô TÔ      

Việt Nam chi hơn 1,6 tỷ USD nhập khẩu ô tô

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, thị trường ô tô Việt Nam tiếp tục dấu hiệu ảm đạm khi 15 ngày đầu tháng 10 chỉ có 2.511 ô tô nguyên chiếc các loại nhập về, tổng trị giá 61 triệu USD. Trong đó, ô tô 9 chỗ ngồi trở xuống (ô tô con) chỉ có 526 chiếc, ô tô trên 9 chỗ ngồi được 25 chiếc, còn ô tô tải được 1.595 chiếc.

Cộng dồn từ đầu năm đến 15/10, Việt Nam đã chi hơn 1,6 tỷ USD nhập về 74.112 ô tô nguyên chiếc các loại. Trong đó, ô tô 9 chỗ ngồi trở xuống chiếm 34.098 chiếc, ô tô trên 9 chỗ ngồi chiếc 516 chiếc, còn ô tô tải 31.053 chiếc.

Trước đó, theo thống kê của Tổng cục Hải quan, trong tháng 9, Thái Lan lại vượt lên trên Indonesia, dẫn đầu thị trường ô tô nhập khẩu. Thống kê cho thấy, cả tháng 9, Thái Lan xuất khẩu 2.765 chiếc ô tô vào Việt Nam, trị giá trung bình khoảng 433 triệu đồng/xe. Trung Quốc xếp vị trí thứ 2 với 1.100 xe xuất khẩu vào Việt Nam, trị giá trung bình khoảng 861 triệu đồng/chiếc. Đáng chú ý, cả tháng 9 không có chiếc xe Pháp nào nhập vào Việt Nam. Trong khi đó, Campuchia bất ngờ có 2 xe nhập vào Việt Nam.

Thực tế cho thấy, kim ngạch nhập khẩu ôtô CBU đã giảm dần cả về lượng lẫn giá trị kể từ đầu năm và đến nay, con số ước tính của tháng 10 đã là thấp nhất.  

Sự suy giảm được nhận định xuất phát chủ yếu từ nguyên nhân thị trường chờ đợi đến năm 2018 để bắt đầu chính thức hưởng khung thuế nhập khẩu mới theo nội dung Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA).  

Theo ATIGA, kể từ ngày 1/1/2018, thuế suất thuế nhập khẩu ôtô CBU từ các nước nội khối ASEAN sẽ giảm về 0%. Lộ trình này vẽ ra viễn ôtô nhập khẩu giá thấp vào năm 2018 và do đó, người tiêu dùng đã và đang tiếp tục "kiềm chế" nhu cầu mua sắm để chờ đợi.  

Cho dù số lượng các loại xe được hưởng thuế suất 0% là không nhiều nhưng đa số lại là các loại xe đang được ưa chuộng tại Việt Nam. Bởi vậy, sức ảnh hưởng từ tâm lý chờ đợi lên thị trường ôtô nói chung và kim ngạch nhập khẩu ôtô CBU nói riêng là không hề nhỏ.  

Càng về cuối năm, khi quãng thời gian chờ đợi được rút ngắn thì không có lý do gì để người tiêu dùng không tiếp tục chờ đợi thêm. Vì thế, khả năng kim ngạch nhập khẩu ôtô CBU hồi phục trở lại là rất khó xảy ra.  

Cũng theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, cộng dồn 10 tháng năm 2017, tổng kim ngạch nhập khẩu ôtô CBU ước đạt 77.000 chiếc và hơn 1,68 tỷ USD, giảm 11,2% về lượng và giảm 13,7% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái.

Tại thị trường sản xuất và tiêu thụ trong nước, theo báo cáo của Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), doanh số tháng 9 của toàn thị trường đạt 21.216 xe, giảm 20% so với cùng kỳ năm ngoái và giảm 4% so với tháng 8. Trong đó bao gồm 11.637 xe du lịch; 8.700 xe thương mại và 819 xe chuyên dụng. Doanh số xe du lịch giảm 7%; xe thương mại không đổi và xe chuyên dụng tăng 4% so với tháng trước.

Sản lượng của xe lắp ráp trong nước đạt 14.739 xe, giảm 5% so với tháng trước và số lượng xe nhập khẩu nguyên chiếc là 6.477 xe, giảm 2% so với tháng 8.

Tính chung 9 tháng đầu năm, tổng doanh số bán hàng của toàn thị trường chỉ đạt 198.253 xe, giảm 8% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, ô tô du lịch giảm 7%; xe thương mại giảm 7% và xe chuyên dụng giảm 18%. Xét về xuất xứ, doanh số bán hàng của xe lắp ráp trong nước giảm 28% trong khi xe nhập khẩu tăng 8% so với cùng kì năm ngoái.

Đây không phải là tháng duy nhất sức mua trên thị trường ô tô lao dốc mạnh. Nhiều người tiêu dùng vẫn đang có tâm lý chờ giá xe giảm sâu hơn trong năm tới. Tuy nhiên, liệu giá xe có thật sự xuống thấp hơn không vẫn là điều khó đoán.

Một DN ô tô cho hay họ lo ngại thị trường còn tiếp tục sụt giảm hơn nữa. Ngoài tâm lý chờ đợi của khách hàng, yếu tố quan trọng dẫn đến thị trường suy giảm mạnh là người tiêu dùng cảm thấy hoang mang trước các đợt giảm giá liên tiếp vừa qua. Điều này, đã tạo nên bức tranh u ám, bao phủ thị trường ô tô trước thời điểm 2018.

Trong tháng 10, để thu hút người mua, nhiều DN ô tô lại mạnh tay đại hạ giá từ hàng chục cho tới cả trăm triệu đồng với một số mẫu xe. Không chỉ xe bình dân, mà ngay cả xe sang nhập khẩu từ châu Âu, Nhật Bản,... cũng vào cuộc hạ giá. Đây là hiện tượng chưa có tiền lệ trong lĩnh vực kinh doanh ô tô vào thời điểm cuối năm. Điều này càng củng cố thêm cho nhận định: giá xe từ nay tới cuối năm 2017 sẽ còn tiếp tục giảm.

THỦY SẢN

Giá cá tra, tôm nguyên liệu tăng do doanh nghiệp đẩy mạnh thu mua 

Theo Bộ NN-PTNT, giá trị xuất khẩu thủy sản tháng 10/2017 ước đạt 733 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu thủy sản 10 tháng qua ước đạt 6,73 tỷ USD, tăng 17,6% so với cùng kỳ năm 2016. Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc là 4 thị trường nhập khẩu hàng đầu của thủy sản Việt Nam, chiếm 55,3% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản. Các thị trường có giá trị xuất khẩu thủy sản tăng mạnh là Trung Quốc (65,8%), Hà Lan (42,9%), Anh (29,7%)...

Giá cá tra nguyên liệu tại ĐBSCL trong tháng qua tiếp tục tăng trong bối cảnh nguồn cung yếu, hiện dao động ở mức 25.000 - 28.000 đồng/kg tùy theo chất lượng cá và phương thức thanh toán. Tại An Giang cá tra nguyên liệu trong size (trọng lượng 0,8-0,9 kg/con), thịt trắng đạt mức giá 26.000-27.500 đồng/kg , tăng 500-1.000 đồng/kg so 15 với tháng trước. Tại Vĩnh Long, giá trung bình cá tra thịt trắng trong size đạt mức cao nhất là 28.000 đồng/kg, tăng 1.000-1.500 đồng/kg so với tháng trước.

Giá cá tra tăng mạnh trong thời gian qua là nhờ nhu cầu thu mua nguyên liệu để chế biến xuất khẩu từ các doanh nghiệp tăng phục vụ các đơn hàng cuối năm, trong khi nguồn cung hạn chế.

Với mức giá này, người nuôi đã có lãi khoảng 5.500 đồng/kg. Mặc dù chưa trở lại thời "vàng son" nhưng với giá cá như hiện nay, người nuôi đã "sống" trở lại sau nhiều năm thua lỗ, trắng tay.

Ông Lê Chí Bình - Phó Chủ tịch Hiệp hội Nghề nuôi và Chế biến thủy sản tỉnh An Giang (AFA) – cũng cho rằng đã đến lúc người dân không nên tự ý nuôi cá tra, mà nên tham gia vào chuỗi liên kết với nhà máy hoặc nuôi gia công. Từ đây sẽ góp phần cân bằng cung – cầu vì cầu tới đâu thì doanh nghiệp nuôi tới đó.

Một tin buồn với ngành khai thác và xuất khẩu thủy sản của Việt Nam là trong những ngày gần cuối tháng 10/2017, EU đã quyết định rút thẻ vàng đối với hoạt động khai thác thủy sản của Việt Nam. Mặc dù quyết định này chỉ áp dụng với sản phẩm khai thác trên biển; không áp dụng cho sản phẩm thủy sản từ nuôi trồng. Tuy nhiên, theo Tổng cục Thủy sản, sự việc trên sẽ có những tác động nhất định như: các lô hàng bị tăng tuần suất kiểm tra hồ sơ nguồn gốc sản phẩm khai thác nhập khẩu từ Việt Nam (có thể lên đến 100%), dẫn đến thời gian lưu kho tăng, phát sinh chi phí kiểm tra, chi phí lưu kho đối với doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu vào thị trường EU. Bên cạnh đó, việc này cũng có khả năng gây tâm lý lo ngại đến các nhà nhập khẩu ở các thị trường khác, đặc biệt là đối với các thị trường nhập nguyên liệu của Việt Nam để tái xuất sang thị trường EU hoặc Mỹ và các nước có quy định áp dụng nghiêm ngặt các biện pháp chống khai thác IUU.

Thị trường tôm nguyên liệu trong tháng 10/2017 duy trì ở mức cao. Tại TP Bạc Liêu, giá tôm sú ướp đá cỡ 30 con/kg giữ ở mức 235.000 đồng/kg của tuần trước, cỡ 40 con/kg giữ mức 190.000 đồng/kg; giá tôm thẻ ướp đá cỡ 50, 60 con/kg ổn định ở mức 134.000 đồng/kg và 125.000 đồng/kg, riêng cỡ 100 con/kg tăng 6.000 đồng/kg lên mức 110.000 đồng/kg.

Tại Sóc Trăng, giá tôm thẻ chân trắng nhích nhẹ so với tháng trước khoảng 1.000-3.000 đồng/kg, các cỡ 40, 60, 80, 100 con/kg lần lượt ở mức 153.000 đồng/kg, 132.000 đồng/kg, 127.000 đồng/kg, 105.000 đồng/kg. Giá tôm nguyên liệu thời gian vừa qua tăng do nguồn cung yếu, trong khi các doanh nghiệp lại đẩy mạnh thu mua phục vụ xuất khẩu cuối năm.

Hiện nay, thị trường EU và Mỹ đang nhập mạnh mặt hàng tôm để chuẩn bị cho dịp lễ, tết cuối năm dẫn đến giá tôm tăng mạnh. Tuy nhiên, thông thường chỉ đến khoảng cuối tháng 11 nhu cầu tiêu thụ tại các thị trường này sẽ giảm mạnh và giá tôm khó duy trì. Chính vì vậy, người nuôi tôm cần cân nhắc xuống giống vụ mới khi điều kiện nuôi hiện nay không thật sự thuận lợi và một vụ tôm kéo dài ít nhất 2 tháng.

LÚA GẠO

Đạt hơn 5,2 triệu tấn, xuất khẩu gạo đã vượt cả năm 2016

Thông tin cập nhật diễn biến thị trường lúa gạo trong nước và thế giới của Hiệp hội lương thực Việt Nam (VFA) cho biết, lũy kế từ đầu năm đến ngày 3-10-2017, xuất khẩu gạo Việt Nam đạt 5,274 triệu tấn, tăng 41,02% so với cùng kỳ năm ngoái.

Với kết quả như trên, xuất khẩu gạo Việt Nam tính đến ngày 3-10-2017 đã chính thức vượt tổng khối lượng xuất khẩu gạo Việt Nam đã đạt được trong cả năm 2016 là 4,862 triệu tấn.

Ông Phạm Thái Bình, TGĐ Cty CP Nông nghiệp Công nghệ cao Trung An cho biết vụ lúa hè thu ở ĐBSCL đã thu hoạch xong từ nhiều ngày nay. Do đó, ở thời điểm này hầu như không còn giao dịch lúa tươi trên các cánh đồng. Còn lúa thu đông nhìn chung vẫn chưa vào vụ thu hoạch.

Do lúa hè thu đã thu hoạch hết, trong khi nhu cầu thu mua XK tăng lên, nên trong tháng 10/2017, giá lúa gạo hàng hóa ở ĐBSCL hiện đã tăng khá nhiều. Giá lúa tươi các loại bán tại ruộng không dưới 5.000 đ/kg. Ngày 24/10, giá lúa tươi IR 50404 đã ở mức 5.200 đ/kg. Còn theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, giá lúa khô tại kho vào khoảng 5.600-5.700 đ/kg đối với lúa thường và 5.900-6.000 đ/kg đối với lúa chất lượng cao. Giá gạo nguyên liệu để làm gạo 5% tấm đã tăng thêm 350 đ/kg để lên mức 7.700-7.800 đ/kg, gạo nguyên liệu làm gạo 25% tấm cũng tăng thêm 300 đ/kg lên mức 7.500-7.600 đ/kg. Gạo trắng thành phẩm XK cũng tăng 100 đ/kg…  

Ông Phạm Thái Bình cho biết, thị trường XK gạo cuối năm đang có xu hướng thuận lợi, khi nhiều nhà NK đến từ nhiều quốc gia ở châu Á, châu Phi… đang liên tục gửi đơn hàng đến các nhà XK gạo Việt Nam. Tuy nhiên, do nguồn cung hạn hẹp, nhiều DN XK gạo đang phải từ chối những phiếu mới, để tập trung giao hàng cho những hợp đồng đã ký trước đó.

Nhờ nguồn cung hạn hẹp trong khi nhu cầu NK tăng, giá gạo XK của Việt Nam đang tiếp tục tăng lên. Gạo 5% tấm (giá FOB) hiện đã vào khoảng 390-400 USD/tấn. Như vậy, giá gạo XK của Việt Nam hiện đang cao hơn giá gạo cùng loại của Thái Lan, Pakistan... Đây là điểm bất lợi về khả năng cạnh tranh. Nhưng theo ông Huỳnh Minh Huệ, Tổng thư ký VFA, điều đó không gây ra nhiều lo ngại bởi lượng gạo trắng XK của Việt Nam từ đầu năm đến nay và trong những tháng cuối năm sẽ không nhiều, mà tập trung vào các loại gạo thơm, gạo nếp, gạo Japonica… Đây là những loại gạo mà Việt Nam đang có lợi thế cạnh tranh ở nhiều thị trường NK.

Với nhu cầu của thị trường như trên, cộng với nguồn cung đang khá hạn hẹp, nhiều khả năng trong vụ thu đông 2017 và đầu vụ đông xuân 2017/2018, giá lúa gạo hàng hóa ở ĐBSCL vẫn sẽ ổn định ở mức cao.

MÍA ĐƯỜNG  

10.000 tấn đường vừa "ra lò" đã bị đóng băng, không thể tiêu thụ

Đó là lời cảm thán của ông Phạm Quốc Doanh - Chủ tịch Hiệp hội Mía đường Việt Nam (VSSA). Ông Doanh cho biết, tính từ ngày 10.10 đến nay, hàng loạt nhà máy đường của Việt Nam đã sản xuất được 10.000 tấn đường, cộng với khoảng 300.000 tấn đường hiện đang tồn trong kho, nhưng tuyệt đối không hề bán được kilogram nào.  

Mặc dù giá đường tinh luyện tại thời điểm này giảm sát đáy với mức 12.000đ/kg, nhưng các doanh nghiệp (DN) mua đường vẫn “án binh bất động”, hiện tại đang là giai đoạn cao điểm các DN cần mua đường phục vụ cho công việc sản xuất, chế biến bánh kẹo, hàng hóa phục vụ tết.  

Việc không bán được kilogram đường nào đã khiến nhiều nhà máy sản xuất mía đường không còn đủ tiền để mua nguyên liệu mía phục vụ cho sản xuất.

Lý giải nguyên nhân này, ông Phạm Quốc Doanh cho biết: Các DN mua đường đang đợi đến đầu năm 2018 để được mua đường với giá rẻ, bởi đến lúc đó, Việt Nam chính thức thực hiện lộ trình cam kết Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA).

Từ năm 2018, các nước trong khối sẽ không còn bị hạn chế nhập khẩu đường vào Việt Nam, trong khi thuế suất, nhập khẩu chỉ ở mức 5%. Điều này đặt nhiều nhà máy sản xuất mía đường trong nước, nhất là các nhà máy có công suất nhỏ, nguy cơ “đắp chiếu” bởi sản phẩm làm ra không thể cạnh tranh nổi với đường trong khu vực. Điều này có thể dẫn đến hàng nghìn lao động ngành mía đường có nguy cơ bị mất việc làm.

Để tháo gỡ khó khăn cho ngành đường, VSSA đã gửi văn bản kiến nghị lên Thủ tướng Chính phủ đề nghị cho lùi thời gian thực hiện cam kết trong khối ASEAN theo Hiệp định ATIGA đến năm 2022, nếu sớm hơn là 2020. Thay vào đó, lượng nhập khẩu hạn ngạch sẽ tiếp tục được tăng lên 10% so với mức 5% của năm 2017. Đồng thời, VSSA cũng kiến nghị, thuế suất nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan cũng giảm 50% so với trước đây chỉ còn 40% đối với đường thô và 45% đối với đường trắng.

CÀ PHÊ

Xuất khẩu cà phê giảm sản lượng nhưng giá XK bình quân tăng so với cùng kỳ năm 2016. 

Thị trường cà phê trong nước diễn biến giảm theo đà giảm của thị trường cà phê thế giới. Việt Nam đang bước vào thu hoạch vụ mùa mới với dự báo sản lượng đạt mức cao. Giá cà phê trong nước những ngày cuối tháng 10 thấp nhất ở 40.700 đồng/kg chốt tại Lâm Đồng và cao nhất cũng chỉ ở 41.900 đồng/kg tại Đăk Lăk.

Xuất khẩu cà phê tháng 10/2017 của Việt Nam ước đạt 71 nghìn tấn với giá trị đạt 164 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu cà phê 10 tháng đầu năm 2017 ước đạt 1,17 triệu tấn và 2,69 tỷ USD, giảm 22,7% về khối lượng và giảm 2,5% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Tuy nhiên, giá cà phê xuất khẩu bình quân 9 tháng đầu năm 2017 đạt 2.286,7 USD/tấn, tăng 27,5% so với cùng kỳ năm 2016, theo Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn.

Đức và Hoa Kỳ tiếp tục là hai thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam trong 9 tháng đầu năm 2017 với thị phần lần lượt là 14,6% và 13,1%. Các thị trường có giá trị xuất khẩu cà phê trong 9 tháng đầu năm 2017 tăng mạnh là: Italia (15,2%), Ấn Độ (15,2%) và Bỉ (14,5%).

HỒ TIÊU 

Tháng 10/2017: Xuất khẩu hồ tiêu tăng về lượng nhưng giảm về giá trị, giá nằm ở mức thấp từ 76.000 – 78.000/kg

Bộ NN&PTNT cũng cho biết, khối lượng tiêu xuất khẩu tháng 10 ước đạt 11 nghìn tấn, với giá trị đạt 49 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu tiêu 10 tháng đầu năm ước tính tăng 20,7% về khối lượng so với cùng kỳ năm 2016 lên 192 nghìn tấn, nhưng giảm 21% về giá trị xuống 1,02 tỷ USD. Trong đó, 3 thị trường xuất khẩu tiêu lớn nhất của Việt Nam trong 9 tháng đầu năm là Mỹ, Ấn Độ, và Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất với thị phần lần lượt là 19,3%, 6,8%, và 6,0%.

Giá tiêu xuất khẩu bình quân 9 tháng đầu năm giảm 34,3% so với cùng kỳ năm 2016 xuống 5.340 USD/tấn.

Tại thị trường trong nước, thị trường hồ tiêu biến động giảm trong tháng 10. So với cuối tháng 9, giá tiêu tại Đắk Lắk – Đắc Nông và Đồng Nai giảm 5.000 đ/kg, đứng ở mức 77.000 đ/kg. Giá tiêu tại Gia Lai và Bà Rịa Vũng Tàu giảm 6.000 đ/kg xuống còn 76.000 – 77.000 đ/kg. Bộ NN&PTNT cho biết, giá tiêu giảm do sức tiêu thụ thấp trong khi lượng tiêu trữ trong dân còn nhiều. Giá tiêu đứng ở mức thấp và chỉ bằng gần một nửa giá so với hồi đầu năm nên các nhà buôn, doanh nghiệp đang bị lỗ nặng.

CAO SU 

Giá cao su giảm

Giá cao su trong nước tháng 10/2017 diễn biến giảm cùng với xu thế trên thị trường thế giới. Theo hệ thống cung cấp giá tại địa phương, giá mủ cao su nguyên liệu tại Bình Phước giảm từ 285 đồng/độ xuống còn 270 đồng/độ. Giá thu mủ cao su dạng nước tại Đồng Nai không thay đổi ở mức 12.500 đ/kg.

Xuất khẩu mặt hàng cao su thiên nhiên của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc qua hệ thống cửa khẩu phía Bắc đang ổn định, với khối lượng đạt khoảng hơn 54.000 tấn trong thời gian từ 28/9 – 19/10/2017. Dự báo mức khối lượng tham gia xuất khẩu sẽ duy trì trong suốt tháng 10, với khoảng 19.000 tấn mỗi tuần. Cao su SVR 3L vẫn giữ ở giá ở mức 18.750 NDT/tấn; các loại SVR5, SVR-L, SVR-CV50, SVR-CV60 có thỏa thuận 2 bên giảm giá 1,4% so với tuần đầu tháng do độ ẩm cao; 2 loại cao su xám SVR10, SVR20 đã thực hiện phương án tăng giá 3,5% do cung thấp hơn cầu khoảng 15%.

Trên lĩnh vực xuất nhập khẩu, theo Trung tâm Tin học và Thống kê (CIS), ước tính khối lượng xuất khẩu cao su tháng 10 năm 2017 đạt 95 nghìn tấn với giá trị đạt 149 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu cao su 10 tháng đầu năm 2017 ước đạt 1,05 triệu tấn và 1,77 tỷ USD, tăng 5,7% về khối lượng và tăng 40,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Giá cao su xuất khẩu bình quân 9 tháng đầu năm 2017 đạt 1.697,9 USD/tấn, tăng 34,9% so với cùng kỳ năm 2016. Trung Quốc, Malaysia và Ấn Độ là 3 thị trường tiêu thụ cao su lớn nhất của Việt Nam trong 9 tháng đầu năm 2017, chiếm thị phần lần lượt 63,4%, 5,8% và 4,0%.

Khối lượng nhập khẩu cao su trong tháng 10/2017 đạt 47 nghìn tấn với giá trị đạt 84 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu cao su 10 tháng đầu năm 2017 lên 439 nghìn tấn và 887 triệu USD, tăng 28,4% về khối lượng và tăng 68,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Trong 9 tháng đầu năm 2017, giá trị cao su ở tất cả các thị trường nhập khẩu đều tăng. Trong đó, thị trường có giá trị tăng trưởng mạnh nhất so với cùng kỳ năm 2016 là thị trường Indonesia (tăng hơn 2,8 lần), tiếp đến là thị trường Nga (tăng hơn 2,1 lần).

Trong thời gian tới, xuất khẩu cao su của nước ta sang thị trường Trung Quốc được dự báo sẽ tiếp tục thuận lợi bởi nhu cầu cao su của Trung Quốc đang có xu hướng tăng khi nền kinh tế nước này đang có diễn biến tích cực. Ngược lại, xuất khẩu cao su của Việt Nam sang Ấn Độ được nhận định không mấy khả quan do sản lượng cao su Ấn Độ tăng mạnh đã phần nào đáp ứng được nhu cầu và giảm nhập khẩu.

HẠT ĐIỀU

Thời tiết xấu, sản lượng điều giảm 50%

Ông Nguyễn Đức Thanh, Chủ tịch Hiệp hội Điều Việt Nam, cho biết vụ điều năm 2017, không chỉ nông dân mất mùa mà doanh nghiệp (DN) cũng bị thiệt do tổn thất sau thu hoạch cao hơn mọi năm.

Nhiều DN lấy điều thô trữ 5-6 tháng để sản xuất, tỉ lệ thu hồi nhân điều đạt thấp, giảm khoảng 10% so với trước đây. Một số người trồng có điều kiện trữ lại điều thô cũng bị lỗ so với những người bán ngay sau khi thu hoạch.

Tổng sản lượng điều thô niên vụ 2017 chỉ bằng 50% so với năm 2016, chất lượng giảm do dịch bệnh và thời tiết xấu. Tuy nhiên, giá mua điều thô năm 2017 đạt kỷ lục, khoảng 50.000 đồng/kg hạt khô nhập kho, trong khi giá bình quân của năm 2016 là 38.000 đồng/kg.

Từ đầu năm 2017 đến ngày 15-10, Việt Nam đã xuất khẩu được gần 273.000 tấn điều nhân, kim ngạch trên 2,7 tỉ USD, giảm 14% về khối lượng nhưng tăng 10% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Trong tổng giá trị xuất khẩu, 3 thị trường nhập khẩu lớn hạt điều của Việt Nam là Mỹ (35%), EU (25%) và Trung Quốc (15%).

Theo Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas), năm 2017 ngành điều phấn đấu đạt kim ngạch xuất khẩu 3 tỷ USD, tăng160 triệu USD so với năm 2016. Tuy nhiên, do biến động thời tiết bất thường, sâu bệnh tấn công nhiều vùng trồng điều nên ước tính sản lượng điều chỉ đạt 300.000 tấn và sản lượng cho chế biến năm 2017 dự kiến là 250.000 tấn. Như vậy, để đáp ứng mục tiêu xuất khẩu 3 tỷ USD trong năm 2017, nguyên liệu nhập khẩu sẽ phải tăng thêm 200.000 tấn so với năm 2016.

(TTGCVT tổng hợp)

 

 

Các tin khác
Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (024) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (024) 39762593 
Email: ttgcvattu@yahoo.com