Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Thị trường hàng hóa nguyên liệu trong nước tháng 9/2017
Cập nhật: 2-10-2017

VÀNG 

Giá tăng mạnh ngay trong tuần đầu tháng 9 và có xu hướng giảm dần ở các tuần còn lại 


Sau kỳ nghỉ lễ Quốc khánh 2/9, thị trường vàng trong nước bắt đầu sôi động trở lại nhờ những biến động mạnh từ thị trường thế giới. Mở cửa đầu tuần 5/9, giá vàng tại Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn ở mức 36,65 - 36,87 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra). Giá vàng tăng liên tục trong ngày 6, 7 và vượt lên trên 37 triệu đồng/lượng (bán ra) trong ngày cuối tuần 8/9. Cụ thể, giao dịch tại Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn ở mức 37,02 - 37,24 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra). Giá vàng thế giới lên đỉnh 12 tháng, giá vàng trong nước cũng đạt mốc cao nhất kể từ tháng 4/2017, tuy nhiên lượng giao dịch vẫn khá trầm lắng. Chênh lệch giữa thị trường trong nước và quốc tế được thu hẹp còn 200.000 đồng.

Bước sang tuần thứ 2, giá vàng trong nước đồng loạt giảm mạnh, ngắt đứt mạch tăng của vàng ở tuần trước đó. Giá dao động ở khoảng 36,54 – 36,80 triệu đồng/lượng (chiều mua vào) và 36,64 – 37,02 triệu đồng/lượng (chiều bán ra). Sự biến động ở hai trạng thái tăng mạnh và giảm mạnh của giá vàng trong hai tuần vừa qua đã khiến cho không ít các nhà đầu tư đều có chung cảm giác bất ngờ. Vào phiên giao dịch cuối tuần ngày 15/9, giá vàng có xu hướng tăng giá trở lại do tác động của giá vàng thế giới. Thời điểm 8h 25 phút ngày 15/9 tại Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn, giá vàng neo ở mức 36,57 - 36,79 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), tăng 70 nghìn đồng/lượng ở cả hai chiều so với chốt phiên hôm 14/9. Quy đổi theo tỷ giá tại Vietcombank, giá vàng trong nước đắt hơn giá thế giới khoảng 280 nghìn đồng/lượng (chưa tính thuế và các khoản phí).

Sau diễn biến trượt giá và đi ngang hồi tuần trước về ngưỡng 36 triệu đồng, tuần thứ 3 của tháng 9 giá vàng tiếp tục xu hướng giảm giá. Duy nhất chỉ có ngày 20/9 giá tăng nhẹ. Trong tuần giá vàng dao động ở khoảng 36,46 – 36,60 triệu đồng/lượng (chiều mua vào) và 36,68 – 36,82 triệu đồng/lượng (chiều bán ra). Theo nhận định của nhiều nhà kinh doanh vàng, mọi diễn biến của giá vàng trong nước đều đang phù hợp với sự tăng-giảm của giá vàng thế giới, dù biên độ biến động của giá vàng trong nước hẹp hơn nhiều so với giá quốc tế. Kết thúc tuần giao dịch, giá vàng SJC tại thời điểm lúc 8 giờ 23 phút ngày 22/9 tại Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn niêm yết ở mức 36,46 - 36,68 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), giảm nhẹ 20 nghìn đồng/lượng ở cả hai chiều so với chốt phiên hôm 21/9. Quy đổi theo tỷ giá tại Vietcombank, giá vàng trong nước  đắt hơn giá thế giới hơn 1,1 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế và các khoản phí). 

Tuần cuối cùng trong tháng, giá vàng vẫn tiếp đà giảm giá của tuần trước, tuy mức giảm không nhiều. Vào thời điểm mở cửa lúc 8h30 sáng 28/9, giá vàng miếng trong nước được Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn niêm yết ở mức 36,37 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,59 triệu đồng/lượng (bán ra), giảm 30 ngàn đồng/lượng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với cuối giờ chiều ngày 27/9. Giá vàng thế giới đến thời điểm trên thấp hơn giá vàng trong nước khoảng 800 nghìn đồng mỗi lượng.  

Theo nhận định của Doji, giá vàng miếng trong nước có thời điểm có những biến đổi tích cực, nhưng suy yếu dần do 1 phần tác động từ yếu tố quốc tế và nhu cầu thị trường nội tại. Với tình hình diễn biến như hiện nay, thị trường vàng vẫn tạo sức hút đối với nhà đầu tư khi các yếu tố chính trị quốc tế ảnh hưởng tới xu hướng giá vẫn chưa có hồi kết.

ĐÔ LA

Tỷ giá trung tâm đạt mức cao nhất trong tháng ở mức 22.470 đồng/USD, giá USD tại các ngân hàng chỉ biến động nhẹ

Trong tháng 9, tỷ giá trung tâm của Ngân hàng NN liên tục tăng giảm qua các phiên giao dịch. Trước các thông tin trên thị trường tài chính thế giới và các căng thẳng địa chính trị liên tục xảy ra, tỷ giá đã chịu những tác động lớn. Nhiều nhà đầu tư đã coi đồng đô la là một kênh trú ẩn an toàn và có khả năng sinh lời cao ở thời điểm hiện tại. Bên cạnh đó, càng về thời điểm gần cuối năm, trước tình hình xuất nhập khẩu hàng hóa trở nên dồn dập hơn, đặc biệt là hiện tượng nhập siêu có chiều hướng gia tăng, các nhà điều hành tỷ giá đã gặp sức ép lớn để giữ cho tỷ giá không có nhiều biến động bất thường, gây bất lợi cho nền kinh tế. Tuy nhiên, theo khẳng định của nhiều chuyên gia kinh tế, tỷ giá vẫn trong vòng ổn định.

Trong tháng, mức cao nhất của tỷ giá trung tâm là 22.470 đồng/USD (vào ngày 28/9) và mức thấp nhất là 22.428 (vào ngày 11/9). Tuy nhiên, trái ngược với khoảng cách nới rộng của tỷ giá giữa mức thấp nhất và mức cao nhất tới 42 đồng, giá đô la tại các NHTM lớn chỉ biến động nhẹ trong suốt tháng. Mức giá giao dịch chủ yếu neo ở trong khoảng 22.690 – 22.765 đồng/USD. Tính từ đầu tháng 6, tỷ giá đồng đô la Mỹ trong hệ thống ngân hàng tăng 20-25 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra.

THÉP

Giá thép tăng cao kỷ lục

Kể từ tháng 7 đến nay, giá thép xây dựng đã không ngừng đi lên. Đặc biệt trong hai tháng 8 và 9, việc tăng giá diễn ra liên tục với tổng cộng mức tăng từ 2 - 2,2 triệu đồng/tấn. Theo lý giải của đại diện Công ty thép Pomina, thép trong nước hiện nay diễn biến tương tự theo giá thép thế giới. Việc tăng mạnh chủ yếu do nguyên vật liệu từ phôi thép, thép phế... đều đã nâng giá bán lên rất nhiều. Ví dụ giá thép phế liệu từ mức 260 USD/tấn vào cuối tháng 7 đã tăng lên hơn 300 USD/tấn vào đầu tháng 8 và tiếp tục nhích lên xoay quanh mức 340 USD/tấn trong tháng 9.

Theo những người am hiểu thị trường thép, ngoài yếu tố cung cầu, việc cháy một nhà máy rất lớn của Công ty Thép Steel Plates Bengang (Trung Quốc) đã đẩy giá thép cán nóng trên sàn giao dịch Tương lai Thượng Hải tăng lên mức kỷ lục khi đạt 4.400 nhân dân tệ/tấn (tương đương 674,48 USD/tấn). Đó cũng là lý do khiến giá thép toàn thế giới lên đỉnh cao nhất trong nhiều năm qua.

Ông Đinh Công Khương, Chủ tịch HĐTV Công ty Thép Khương Mai, đánh giá sau sự cố ở Trung Quốc, giá thép trong nước tăng theo. Giá thép cán nóng hiện dao động ở mức 590 - 620 USD/tấn, trong khi tháng trước chỉ 420 - 450 USD/tấn.

Theo ông Khương, giá thép trong nước đang ở mức cao nhất từ năm 2009-2010 trở lại đây, chỉ thấp hơn đỉnh của năm 2008 là trên 700 USD/tấn. Nguyên nhân khiến giá thép trong nước và thế giới liên tục tăng trong thời gian gần đây là do Trung Quốc vẫn còn hạn chế sản xuất mặt hàng này. Họ đã buộc đóng cửa các nhà máy không đủ tiêu chuẩn về môi trường. Nhà máy nào muốn duy trì hoạt động thì phải đáp ứng tiêu chuẩn khắt khe. Bên cạnh đó, do việc hạn chế giao thương với Triều Tiên nên nguồn cung than cốc từ nước này giảm. Dự báo giá thép sẽ còn tăng cho đến đầu năm 2018 do nhu cầu xây dựng đang vào mùa. Các công trình dân dụng trong nước vừa né tháng "cô hồn" nên từ nay đến tháng 4 năm sau, tiến độ xây dựng tăng trở lại. Giá thép có thể giảm nhưng không đáng kể, tuy nhiên khả năng tăng vẫn cao hơn.

Bà Kim Nhung, chủ đại lý thép ở Long An, cho biết giá thép xây dựng bán ra hiện không có thuế GTGT đã là 14,5 triệu đồng/tấn, cao hơn vài tuần trước đến 1 triệu đồng/tấn. Tương tự, giá thép công nghiệp cũng trong đà tăng.

Theo Hiệp hội Thép VN nhận định, giá thép thanh giao đường biển châu Á trong tháng 8 đạt mức cao nhất 4 năm qua do các nhà máy và các nhà thương mại Trung Quốc đã nâng chào giá cùng với giá trong nước tăng. Số liệu từ Tổng cục Hải quan cho thấy kể từ đầu năm đến hết tháng 8, VN đã nhập khẩu 10,4 triệu tấn sắt thép các loại trị giá 6,03 tỉ USD, giảm 15,4% về lượng nhưng tăng 17,5% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Còn trong nửa đầu tháng 9, lượng sắt thép nhập khẩu các loại giảm 9,4%, tương ứng giảm 38 triệu USD so với kỳ 2 của tháng 8/2017. Lũy kế đến 15/9 lượng sắt thép nhập khẩu đạt 6,39 tỷ USD, cao hơn so với cùng kỳ của năm 2016. Riêng mức tiêu thụ thép xây dựng trong nước thời gian qua đã đạt hơn 5,9 triệu tấn, tăng 14,7% so cùng kỳ 2016. Tương tự, mức tiêu thụ sắt thép các loại cũng tăng đến 14,9%.

Đơn giá nhập khẩu sắt thép trung bình trong 8 tháng đầu năm 2017 khoảng 580 USD/tấn (tương đương 13,2 triệu đồng/tấn); trong khi cùng kỳ năm 2016, giá nhập trung bình chỉ 415,1 USD/tấn. Dù lượng sắt thép nhập khẩu giảm so với cùng kỳ năm ngoái, nhưng giá sắt thép nhập khẩu đã và đang có xu hướng tăng khá mạnh.

Điểm đặc biệt chú ý là gần 50% trong tổng lượng sắt thép nhập khẩu vào Việt Nam có xuất xứ từ Trung Quốc. Cụ thể, trong 8 tháng đầu năm, nhập khẩu gần 5,18 triệu tấn sắt thép Trung Quốc, trị giá gần 2,9 tỷ USD (tuy giảm 29% về lượng nhưng tăng 1,2% về trị giá so với cùng kỳ). 

Thị trường đáng quan tâm nhất là thị trường Ấn Độ, lượng sắt thép nhập khẩu từ Ấn Độ về Việt Nam 8 tháng đầu năm 2017 tăng đột biến so với cùng kỳ (tăng gấp 16 lần về lượng và tăng gấp 11 lần về trị giá), đạt 1,03 triệu tấn, tương đương 529,47 triệu USD. Giá nhập khẩu thép trung bình từ Ấn Độ tương đối thâp so với giá nhập từ các thị trường khác, chỉ khoảng 516 USD/tấn.  

Trong những tháng cuối năm 2017, theo báo cáo tình hình hoạt động ngành Công nghiệp và Thương mại của Bộ Công thương, thị trường thép sẽ tiếp tục phải đối mặt với những khó khăn và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Sự tăng trưởng chủ yếu do sự tăng giá của nguyên liệu và tâm lý tích trữ của người dân, còn nhu cầu thực tế trong thời điểm hiện tại vẫn chưa cao. Cùng với đó là tác động của việc tăng tỷ giá, tăng lãi suất, việc kiểm soát chặt dòng tiền và nguồn tín dụng bị thu hẹp khiến thị trường địa ốc tăng trưởng chậm, tính thanh khoản thấp kéo theo giảm nhu cầu sử dụng thép. Điều này đòi hỏi ngành thép phải có những giải pháp để tháo gỡ khó khăn, đẩy mạnh tăng trưởng trong thời gian tới.

XI MĂNG

9 tháng: Tiêu thụ xi măng khoảng 59,27 triệu tấn 

Vụ Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng) cho biết, trong 9 tháng năm 2017, thị trường nội địa và xuất khẩu đã tiêu thụ khoảng 59,27 triệu tấn xi măng, tăng 6% so với cùng kỳ năm 2016, ước đạt hơn 74% kế hoạch năm.

Tiêu thụ sản phẩm tại thị trường nội địa 9 tháng qua ước đạt khoảng 45,28 triệu tấn, tăng 4% so với cùng kỳ năm 2016, trong đó Tổng Công ty Công nghiệp xi măng Việt Nam (Vicem) tiêu thụ khoảng 18,9 triệu tấn.

Tính chung từ đầu năm đến nay, sản phẩm xi măng xuất khẩu ước đạt khoảng 13,99 triệu tấn, gần cán mốc chỉ tiêu kế hoạch năm 2017 xuất khẩu từ 14 - 15 triệu tấn sản phẩm.

Riêng trong tháng 9, sản lượng xi măng tiêu thụ tại thị trường nội địa ước đạt 5,2 triệu tấn, tương đương so với cùng kỳ năm 2016, nhưng tăng nhẹ so với tháng liền kề trước đó. Trong khi đó, xuất khẩu xi măng trong thời gian này đã tăng trở lại, ước đạt khoảng 1,45 triệu tấn.

Theo các chuyên gia trong lĩnh vực vật liệu xây dựng, mặc dù chịu sự cạnh tranh gay gắt từ Thái Lan và Trung Quốc tại thị trường xuất khẩu, nhưng sản lượng xuất khẩu xi măng tính đến thời điểm này đã đạt 13,99 triệu tấn là nỗ lực rất lớn của ngành công nghiệp xi măng trong bối cảnh các doanh nghiệp vẫn chịu mức áp thuế suất và giá xuất khẩu xuống tới mức thấp nhất từ trước tới nay. 

Trên bình diện giá cả, theo Cục Quản lý giá, Bộ Tài chính, trong tháng 9, giá xi măng trong nước ổn định như trong tháng 8. Giá phổ biến tại các tỉnh miền Trung, miền Bắc từ 1,05 - 1,55 triệu đồng/tấn; các tỉnh miền Nam phổ biến từ 1,46 - 1,85 triệu đồng/tấn.Nguyên nhân do giá nguyên vật liệu đầu vào và chi phí sản xuất cơ bản ổn định nên các nhà máy vẫn giữ nguyên giá bán.

GAS

Giá gas lại tiếp tục tăng thêm 16.000 đồng

Công ty TNHH MTV Dầu khí Sài Gòn (Saigon Petro) cho biết kể từ ngày 1-9 giá gas Saigon Petro tăng 16.000 đồng/bình 12kg. Như vậy, giá bán lẻ đến người tiêu dùng là 321.000 đồng/bình 12 kg. Các công ty Gas Pacific Petro, Citi Petro, Elf gas… cũng tăng 16.000 đồng/bình 12kg. Giá bán lẻ đến người tiêu dùng không vượt quá 329.000 đồng/bình 12kg

Các công ty gas cho biết do giá gas thế giới tháng 9 công bố 490 USD/tấn, tăng 50 USD/tấn so với tháng 8. Vì vậy các công ty điều chỉnh giá tăng. Các công ty cũng lý giải tình hình thế giới có nhiều biến động. Đặc biệt Nhật Bản tăng nguồn dự trữ gas lên 50 ngày so với bình thường đã ảnh hưởng đến nguồn cung, điều này tác động đến giá cả.

Như vậy, đây là lần đầu thứ tư trong năm 2017 giá gas tăng mạnh, với tổng mức tăng 92.000 đồng/bình 12kg.

XĂNG DẦU

Trong tháng 9/2017,  giá xăng dầu tăng mạnh với tổng mức tăng xấp xỉ 700 đồng mỗi lít.

Theo đó, kể từ 15h chiều 5/9, giá mỗi lít xăng RON 92 tăng thêm 306 đồng, xăng E5 tăng 285 đồng. Các mặt hàng dầu tăng thêm 43-155 đồng một lít, kg tùy loại. Cùng với việc tăng giá, nhà điều hành cũng xả thêm Quỹ bình ổn xăng dầu, với xăng là 110 đồng một lít; xăng E5 là 90 đồng một lít và dầu hoả chi sử dụng quỹ thêm 185 đồng một lít. Riêng dầu diesel ngừng chi quỹ bình ổn.

Sau động thái điều chỉnh, giá xăng RON 92 không cao hơn 17.792 đồng một lít; xăng E5 là 17.539 đồng; dầu diesel là 13.950 đồng; dầu hỏa 12.547 đồng và dầu madut 11.148 đồng một kg.

Cũng từ 15h chiều 20/9, Liên Bộ Tài chính Công Thương đã có thông tin về điều chỉnh giá bán lẻ xăng dầu trong nước.  Theo đó, mỗi lít xăng RON 92 tăng 319 đồng một lít, xăng E5 tăng 217 đồng một lít. Các mặt hàng dầu cũng tăng 388 - 598 đồng một lít, kg tuỳ loại.  Sau điều chỉnh, giá bán lẻ xăng RON 92 lên mức tối đa 18.111 đồng một lít, xăng E5 là 17.836 đồng. Dầu hoả có mức giá mới 13.115 đồng một lít, dầu diesel 14.441 đồng và dầu madut là 11.536 đồng một kg.

Cùng với tăng giá bán lẻ các mặt hàng xăng dầu, nhà chức trách cũng xả thêm Quỹ bình ổn giá xăng dầu với mặt hàng xăng khoáng là 110 đồng một lít; xăng E5 là 90 đồng một lít; các mặt hàng dầu 100 - 190 đồng một lít, kg tuỳ loại.

Đây là lần tăng giá bán lẻ xăng dầu thứ 5 liên tiếp trong vòng 3 tháng qua, tổng cộng mức tăng từ đầu năm đến nay với mặt hàng xăng khoảng 2.050 đồng một lít.

Về tình hình nhập khẩu mặt hàng xăng dầu, trong gần 9 tháng đầu năm 2017, lượng xăng dầu nhập khẩu đã tăng mạnh so với cùng kỳ năm ngoái. Cụ thể, theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, tính đến giữa tháng 9-2017, cả nước đã nhập khẩu tổng cộng hơn 9,05 triệu tấn xăng dầu các loại. Trong đó, xăng gần 2,14 triệu tấn; DO 0,05S hơn 5,22 triệu tấn; nhiên liệu bay 1,25 triệu tấn. Trong khi đó, cùng kỳ năm ngoái, cả nước nhập 8,32 triệu tấn (xăng: 1,77 triệu tấn và DO 0,05S: 4,73 triệu tấn).

Giá bình quân của các mặt hàng nhập khẩu trong những tháng của năm nay cũng đã tăng khá mạnh so với cùng kỳ. Ví dụ, giá xăng nhập khẩu tăng 35%; dầu diesel tăng 27%.

Ô TÔ         

Thị trường ô tô khó đoán định sau bão giảm giá

Sau cơn bão giảm giá đặc biệt vào tháng 6 và tháng 7/2017, các hãng xe vẫn tiếp tục tung ra những đợt giảm giá và khuyến mại, dù nhỏ giọt hơn nhưng kéo dài như mùa mưa ngâu. Đến lúc này, giá bán lẻ các loại ôtô phổ thông đã thực sự xuống mức rất thấp và vì vậy, người tiêu dùng đã ít nhiều bị “ngấm”. Bước sang tháng 8/2017, tổng sức mua ôtô trên toàn thị trường đã tăng trưởng trở lại 12% so với tháng liền trước, dù vẫn còn khá thấp so với cùng kỳ năm ngoái. Sang tháng 9, những đợt kích cầu vẫn tiếp diễn và sức mua ôtô hoàn toàn có thể được kỳ vọng sẽ tiếp tục phục hồi.

Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cho biết, lượng ô tô nguyên chiếc nhập khẩu trong tháng 8 là 7.830 chiếc tăng 12,8% so với tháng trước, trị giá đạt 187,8 triệu USD, tăng 12,7%. Như vậy sau khi lượng nhập khẩu ô tô xuống mức thấp nhất trong tháng 7-2017,  sang tháng 8 số lượng xe nhập khẩu đã tăng gần 900 chiếc, trị giá tăng tương ứng 21 triệu USD. 

Diễn biến từ đầu năm cho thấy tình hình nhập khẩu xe ô tô nguyên chiếc đang có chiều hướng giảm dần. Lượng nhập khẩu trong 2 tháng gần đây đều thấp hơn so với lượng nhập khẩu bình quân của quý I-2017 là 8.850 chiếc/tháng và quý II-2017 là 8.240 nghìn chiếc/tháng.  

Tính đến hết tháng 8-2017, lượng ô tô nhập khẩu của cả nước là gần 65.500 nghìn chiếc giảm 4,9% so với cùng kỳ năm 2016 trị giá nhập khẩu là 1,39 tỷ USD giảm mạnh 14,1%.  

Mặc dù chỉ còn vài tháng nữa là bước sang năm 2018,  dù thuế nhập khẩu giảm về 0%  dành cho những xe sản xuất tại khu vực ASEAN đạt tiêu chuẩn nội địa hóa (NĐH) liên khối 40% trở lên song tính toán cho thấy người tiêu dùng khó mua xe rẻ hơn. Theo tổng giám đốc một doanh nghiệp ô tô, không phải tất cả xe sản xuất trong khu vực đạt tỷ lệ này, mà chỉ rơi vào một số dòng sản phẩm, trong đó chủ yếu ở Thái Lan, ngoài ra có ở Malaysia và rất ít ở Indonesia. Với xe các thương hiệu của Nhật Bản, Hàn Quốc lắp ráp tại khu vực Đông Nam Á, thuế giảm nhiều nhất ở một số dòng xe bán tải. Nhưng Bộ Tài chính mới đây đã đề xuất phương án tăng thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) với xe bán tải lên 60% mức thuế xe con có cùng dung tích. Ví dụ, nếu dòng xe con có dung tích 2.000-3.000CC đang chịu thuế suất TTĐB là 55% thì xe bán tải có cùng dung tích này sẽ chịu 60% của mức thuế 55%, tương ứng khoảng 33% (hiện hành tùy dung tích đang chịu các mức thuế 15, 20 và 25%). Do đó, ngay cả khi thuế nhập khẩu từ 5% giảm về 0%, giá xe bán tải khó giảm giá, thậm chí có thể tăng 10-15%. 

Với câu hỏi một số dòng xe nhập khẩu từ khu vực ASEAN giảm giá có là cú hích kéo lùi mặt bằng giá xe trên thị trường? Ông Tô Đình Phúc, Phó giám đốc AutoK cho rằng, khả năng đó khó xảy ra, bởi giá xe từ năm 2018 sẽ chịu tác động của nhiều yếu tố làm tăng giá, như sự thay đổi cách tính thuế TTĐB, phí trước bạ, rủi ro tỷ giá...Đơn cử như dòng xe nhập khẩu nguyên chiếc từ châu Âu, thuế nhập khẩu không thay đổi, trong khi tỷ giá đồng euro đã tăng giá 15-20% trong vòng 2 tháng gần đây, từ hơn 25.000 đồng lên 27.000 đồng/euro. Xe nhập từ Mỹ hay một số khu vực khác cũng diễn biến tương tự.

Trong khi đó, từ năm 2018, thị trường ô tô sẽ phải đón nhận nhiều chính sách tác động theo hướng giá tăng. Ông Phạm Đình Thi, Vụ trưởng Vụ Chính sách thuế, Bộ Tài chính cho biết, theo quy định hiện hành, phí trước bạ đăng ký lần đầu đối với ô tô chở người từ 9 chỗ trở xuống là 10%. Tuy nhiên, tùy vào điều kiện thực tế, các địa phương có thể áp dụng mức thu cao hơn, tối đa 50% mức quy định chung (tức tối đa 15%). Và thực tế hiện nay, Hà Nội đang áp dụng phí trước bạ ô tô mức 12%. Chưa kể, nếu thuế VAT tăng từ 10% lên 12% từ năm 2019 như đề xuất của Bộ Tài chính, giá xe sẽ tăng rất mạnh từ thời điểm này bởi sắc thuế này được tính cuối cùng, sau khi đã cộng tất cả các loại chi phí.

THỦY SẢN

Giá cá tra, tôm nguyên liệu tăng mạnh trong tháng 9 vì nhu cầu lớn 

Trong 9 tháng đầu năm, giá cá tra và tôm trong nước nhìn chung có xu hướng khởi sắc, với sức tiêu thụ ở một số thị trường chính vẫn ổn định, giúp việc tiêu thụ nguyên liệu khả quan. Bên cạnh đó, một nguyên nhân nữa là  vào thời điểm hiện nay thị trường xuất khẩu đang hút hàng để đáp ứng nhu cầu cuối năm, trong khi nguồn cung hạn chế. 

Trong tháng 9, các đợt không khí lạnh từ phía bắc và dải hội tụ nhiệt đới đã gây ra mưa lớn trên diện rộng, đặc biệt là cơn bão số 10 gây thiệt hại nặng cho miền Trung.

Sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng 9 ước đạt 348 nghìn tấn, tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng đầu năm, sản lượng ước đạt 2.813 nghìn tấn, tăng 6% so với cùng kỳ năm trước.

Với cá tra, các ao nuôi cá tra đang tích cực thu hoạch phục vụ nhu cầu của các nhà máy chế biến trong dịp cuối năm. Diện tích nuôi cá tra của các tỉnh ĐBSCL đạt 5.142,9 ha, giảm 1,3% so với cùng kỳ năm ngoái.

Sản lượng thu hoạch 9 tháng tăng trưởng khá, đạt 998 nghìn tấn, tăng 9,8% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, các tỉnh có diện tích và sản lượng cá tra lớn vẫn phát triển nuôi mạnh là Đồng Tháp (390 nghìn tấn, tăng 18,7%), Cần Thơ (133,9 nghìn tấn, tăng 13,5%).

Giá cá tra thương phẩm trong tháng 9 vẫn ổn định ở 24.000 – 26.500 đồng/kg, tăng 19 – 23% so với cùng kỳ năm ngoái. Tương tự, giá cá tra nguyên liệu tại ĐBSCL trong tháng này tăng khá mạnh lên 25.000 – 27.000 đồng/kg, vì nguồn cung yếu. Giá cá tra nguyên liệu size lớn, trọng lượng trên 1kg/con tăng 2.000 – 2.500 đồng/kg so với tháng trước lên 24.500 – 25.000 đồng/kg.

Giá cá tra giống cũng có xu hướng tăng do khan hàng trong khi nhu cầu thả nuôi tăng cao.

Về xuất khẩu, hơn một tháng sau khi cá tra xuất khẩu sang thị trường Mỹ phải kiểm tra 100% lô hàng theo quyết định của Cục Thanh tra an toàn thực phẩm – FSIS thuộc Bộ Nông nghiệp Mỹ kể từ ngày 2/8/2017 thay vì ngày 1/9, lượng cá tra của Việt Nam xuất sang thị trường này đã giảm đáng kể. Nguyên nhân giá xuất khẩu tăng là bởi việc phía Mỹ kiểm tra 100% các lô hàng cá da trơn nhập khẩu đã đẩy chi phí tăng mạnh. Theo Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản (VASEP), giá cá tra xuất sang Mỹ hiện đã gần đạt mức 2 USD/pao (1 pao gần 0,45 kg), tức gần 4 USD/kg. Dự báo giá xuất khẩu cá tra sang thị trường Mỹ sẽ vẫn tiếp tục tăng trong vài tháng tới và lên trên 2 USD/pao. Các doanh nghiệp cho biết, với mức giá 4 USD/kg doanh nghiệp có lãi khoảng 16.000 – 20.000 đồng mỗi kg.

Với tôm, diện tích nuôi tôm nước lợ của cả nước trong 9 tháng đầu năm nay ước đạt 696,2 nghìn ha, tăng 4,4% với sản lượng thu hoạch ước đạt 468,3 nghìn tấn, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, tại các tỉnh Nam Trung Bộ và ĐBSCL, thời tiết thuận lợi, tôm thẻ chân trắng thả nuôi ít mắc bệnh nên nhiều nơi thu hoạch có lãi.

Diện tích và sản lượng nuôi tôm nước lợ tại các tỉnh ĐBSCL tiếp tục tăng mạnh. Trong đó, diện tích nuôi tôm sú lên 583,8 nghìn ha, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm ngoái; với sản lượng thu hoạch tăng 11,3% lên 188,1 nghìn tấn. Diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng tăng 16,1% lên 72,4 nghìn ha với sản lượng đạt 2,16,3 nghìn tấn, tăng tới 42,6% so với cùng kỳ năm ngoái.

Giá tôm thương phẩm trong tháng 9 tăng so với những tháng trước. Với tôm thẻ chân trắng cỡ 60 – 70 con/kg có giá 120.000 – 130.000 đồng/kg; cỡ 100 – 110 con/kg có giá 100.000 – 105.000 đồng/kg.

Giá tôm sú cỡ 40 – 50 con/kg là 220.000 – 230.000 đồng/kg; cỡ 70 – 80 con/kg là 140.000 – 150.000 đồng/kg.

Tháng 9, xuất khẩu thủy sản ước đạt 696 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu các mặt hàng này trong 9 tháng đầu năm lên 5,91 tỷ USD, tăng 18,1% so với cùng kỳ năm ngoái. Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc là 4 thị trường nhập khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam trong 8 tháng đầu năm, chiếm 55,5% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản.

Ở chiều ngược lại, giá trị nhập khẩu thủy sản ước đạt 124 triệu USD trong tháng 9, và đạt 1,04 tỷ USD trong 9 tháng đầu năm nay, tăng 34,2% so với cùng kỳ năm ngoái. Các thị trường nhập khẩu thủy sản lớn nhất trong 8 tháng đầu năm là Ấn Độ (chiếm 28% thị phần), Trung Quốc (8,5%), Na Uy (7,7%), Đài Loan (6,8%) và Nhật Bản (5,4%).

LÚA GẠO

Đến tháng 9, xuất khẩu gạo hoàn thành gần 82% mục tiêu đề ra của năm 2017 


Báo cáo từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNN) cho biết, khối lượng gạo xuất khẩu tháng 9 ước đạt 466.000 tấn với giá trị đạt 210 triệu USD. 
So với cùng kỳ năm ngoái, 9 tháng đầu năm nay, xuất khẩu gạo của Việt Nam tăng 20,8% (tương đương 4,57 triệu tấn) về khối lượng và 18,6% (tương đương 2,02 tỷ USD) về giá trị.

Mới đây, Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) đã nâng mục tiêu xuất khẩu gạo năm nay của Việt Nam lên mức 5,6 triệu tấn, thay vì con số 5,2 triệu tấn được đưa ra trong tháng 7 vừa qua.So với mục tiêu đặt ra là xuất khẩu 5,6 triệu tấn trong năm 2017, ngành gạo đã đạt được gần 82%.

Báo cáo chỉ ra, Trung Quốc vẫn tiếp tục là thị trường nhập khẩu gạo nhiều nhất của Việt Nam trong 8 tháng đầu năm 2017 với 38,8% thị phần. Xuất khẩu gạo sang thị trường này trong 8 tháng đầu năm 2017 tăng 32% so với cùng kỳ năm ngoái về khối lượng lên 1,56 triệu tấn, và giá trị xuất khẩu tăng 30,4% lên 700,7 triệu USD. Philippines là thị trường nhập khẩu gạo lớn thứ 2 trong 8 tháng đầu năm, chiếm 9,3% thị phần. Khối lượng gạo xuất khẩu sang thị trường này trong 8 tháng đầu năm 2017 tăng gấp 2,15 lần so với cùng kỳ năm 2016 lên 421.770 tấn, với giá trị xuất khẩu cũng tăng gấp 2 lần lên 167,25 triệu USD.

Đứng thứ ba là thị trường Malaysia với 7,8% thị phần. Xuất khẩu gạo sang thị trường này trong 8 tháng đầu năm 2017 tăng 80,9% lên 365.700 tấn về khối lượng, và tăng 61,7% về giá trị lên141,68 triệu USD so với cùng kỳ năm 2016.

Trong nước, nông dân khu vực ĐBSCL đang thu hoạch lúa Thu Đông, giá lúa gạo trên thị trường trong nước tăng nhẹ trong tháng 9 trong bối cảnh thu hoạch lúa Thu Đông diễn ra với thời tiết bất lợi, dịch bệnh phát sinh, chi phí tăng nhưng năng suất lại giảm 30-40% so với vụ năm trước. Giá lúa tăng trên thị trường nội địa tăng do nhu cầu nhập khẩu tăng từ Bangladesh, Philippines trong khi nguồn cung vụ Hè Thu và Thu Đông hạn chế.

Hiện các địa phương miền Nam đã thu hoạch đạt gần 1.757,7 nghìn ha, bằng 99,6% cùng kỳ năm trước và chiếm 91% diện tích xuống giống, trong đó vùng ĐBSCL thu hoạch đạt 1.530,6 nghìn ha, bằng 98,6% cùng kỳ và chiếm 93% diện tích đã gieo trồng. Năng suất ước tính bình quân trên diện tích thu hoạch đến thời điểm này của các tỉnh phía Nam đạt khoảng 54,7 tạ/ha. 

MÍA ĐƯỜNG  

Đường tồn kho, giá vẫn tăng


Mặc dù đường tồn kho trong nước niên vụ 2016 - 2017 vẫn đang cao ở mức kỷ lục, gần 680.000 tấn vào tháng 7, cao gấp 3 lần so với tính toán ban đầu của Bộ NN-PTNT (231.000 tấn), song giá đường trên thị trường vào mùa trung thu vẫn tăng.

Trên thị trường hiện tồn tại 2 loại đường: có nhãn mác và không nhãn mác, theo đó, giá cũng chênh lệch đáng kể. Đường mua sỉ từ chợ Bình Tây (TP.HCM) ngày 17.9 loại không nhãn mác được báo giá 15.000 đồng - 15.500 đồng/kg, đường Bến Tre hạt lớn giá 17.300 đồng - 18.300 đồng/kg. Theo một số chủ cơ sở sản xuất bánh kẹo tại Q.6, TP.HCM, giá đường mua sỉ vào mùa làm bánh trung thu cao hơn trước khoảng 1.000 đồng/kg trong suốt hai tháng 7 và 8. Sang đầu tháng 9 đến nay, giá sỉ giảm 500 đồng/kg, như vậy so với giá thị trường ngày thường, vẫn cao hơn 500 đồng/kg. Trong khi đó, giá đường bán lẻ của các nhãn hàng trong nước tại các siêu thị từ 21.600 đồng - 23.300 đồng/kg, còn đường cân ký không thương hiệu 18.000 đồng/kg. Khảo sát của Hiệp hội Mía đường VN cho biết đường nhập lậu được bán khá thoải mái trên thị trường với giá thấp hơn đường trong nước từ 1.000 - 1.500 đồng/kg. Giá đường nhập lậu được bán tại một số thị trường như: cửa khẩu Lao Bảo (Quảng Trị): 14.000 đồng/kg, biên giới Tây Nam: 14.500 đồng/kg và ngay tại chợ đầu mối TP.HCM khoảng 15.000 đồng/kg. 

Theo ông Lê Trung Thành, Phó chủ tịch Công ty CP mía đường Lam Sơn, giá đường cao chỉ mang tính thời vụ thường tập trung vào đường bán theo bao lớn, không nhãn mác. Sản phẩm của các nhãn hàng lớn trong nước như đường Biên Hòa, Bến Tre, Lam Sơn, Quảng Ngãi… thường có giá cao hơn đường lậu và không tăng giá kiểu “tát nước theo mưa” vào các dịp thị trường có nhu cầu cao. “Đường đang tồn kho, các doanh nghiệp mong bán hàng tốt thì làm sao tăng giá được!”, ông Thành cho biết.  

Đáng nói là dù tăng, giá các loại đường không nhãn mác vẫn rẻ hơn đường có thương hiệu và đây là lý do khiến đường trong nước luôn trong tình trạng tồn kho.

CÀ PHÊ

Giá tháng 9 giảm thấp nhất quý 3, xuất khẩu cà phê đạt 2,54 tỷ USD

Theo thông tin từ Bộ NNPTNT, giá cà phê trong tháng 9 biến động giảm theo xu hướng của thị trường thế giới. So với tháng trước, giá cà phê vối nhân xô các tỉnh Tây Nguyên giảm 1.400 – 1.500 đ/kg xuống còn 42.500 – 43.300 đ/kg. Đây là mức giá thấp trong quý 3/2017.

Nhìn chung trong 9 tháng qua, giá cà phê trong nước trong xu hướng giảm là chủ đạo. So với thời điểm cuối năm 2016, giá cà phê vối nhân xô các tỉnh Tây Nguyên đã giảm 1.500 – 1.900 đ/kg.

Giao dịch cà phê tại thị trường nội địa tiếp tục trầm lắng do mức giá chưa đạt kỳ vọng và nguồn cung không còn nhiều.

Về tình hình xuất khẩu cà phê: Theo thống kê của Bộ NNPTNT, xuất khẩu cà phê tháng 9.2017 ước đạt 86.000 tấn với giá trị đạt 201 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu cà phê 9 tháng đầu năm 2017 ước đạt 1,11 triệu tấn và 2,54 tỷ USD, giảm 20,7% về khối lượng nhưng tăng 1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Giá cà phê xuất khẩu bình quân 8 tháng đầu năm 2017 đạt 2.281,4 USD/tấn, tăng 28,5% so với cùng kỳ năm 2016. Đức và Hoa Kỳ tiếp tục là hai thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam trong 8 tháng đầu năm 2017 với thị phần lần lượt là 14,7% và 13,5%. Các thị trường có giá trị xuất khẩu cà phê trong 8 tháng đầu năm 2017 tăng mạnh là: Bỉ (22,1%), Ấn Độ (16,1%) và Italia (15,1%).

Theo nhận định của các chuyên gia ngành càphê, quý ​3/2017 là khoảng thời gian ảm đạm của ngành càphê, nhưng đến quý ​4 sẽ là thời điểm càphê tăng tốc để về đích. Cụ thể, hiện nay lượng càphê tồn kho chỉ còn 10.000 tấn, niên vụ mới lại sắp thu hoạch để phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu.

Theo Hiệp hội cà phê Ca cao Việt Nam, niên vụ càphê 2016-2017 mất mùa lớn, ước tính sản lượng xuất khẩu sẽ giảm từ 20-30% so với cùng kỳ năm 2016. Đặc biệt là nguồn cung càphê của Việt Nam cũng đã cạn kiệt, lượng hàng tồn kho trong dân không còn nhiều, buộc khách hàng phải trực tiếp vào sàn giao dịch để lấy hàng, cung cấp cho thị trường nên giá càphê không thể giảm từ nay đến cuối năm 2017. 

Dự kiến, giá càphê sẽ tăng trong quý 4/2017, vì đây là thời điểm vào vụ thu hoạch mới (2017-2018), cũng là thời điểm các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu càphê tăng cường phiếu xuất khẩu ra thị trường thế giới, phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng kỳ nghỉ Đông của các nước.  

HỒ TIÊU 

Giá tiêu xuất khẩu trong tháng 9 giảm xấp xỉ 40%, xuất khẩu đạt 13.000 tấn

Theo thông tin chính thức từ Bộ NNPTNT, giá tiêu trong tháng 9 tiếp tục đà tụt dốc không phanh kể từ cuối tháng 8 với mức giá phổ biến từ 83.000-88.000 đồng/kg.Giá  tiêu  tại  Đắc  Lắc  –  Đắc  Nông  và  Đồng  Nai thời điểm cuối tháng 9 phổ biến đứng ở mức 85.000 đ/kg.

Nhìn  chung  trong  9  tháng  qua,  giá  hồ  tiêu  trong  nước  giảm  với  mức  giảm  từ  35  –40% do nhu cầu thị trường hạn hẹp, trong khi việc xuất khẩu hồ tiêu của các doanh nghiệp vẫn không có tín hiệu tích cực, cộng với sự ảnh hưởng của giá hồ tiêu thế giới thấp. Giá tiêu xuất khẩu bình quân trong 9 tháng đầu năm nay cũng giảm tới 33%, chỉ đạt 5.377 USD/tấn

Trong khi đó, cũng theo thông tin từ Bộ NNPTNT về tình hình xuất khẩu hồ tiêu: Khối lượng tiêu xuất khẩu tháng 9 năm 2017 ước đạt 13.000 tấn, với giá trị đạt 62 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu tiêu 9 tháng đầu năm 2017 ước đạt 181.000 tấn và 966 triệu USD, tăng 23% về khối lượng nhưng giảm 19,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Các thị trường xuất khẩu tiêu lớn nhất của Việt Nam trong 8 tháng đầu năm 2017 là Hoa Kỳ, Ấn Độ, Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, Pakistan và Đức với 39,6% thị phần.

Theo Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA), giá hồ tiêu trong nước bắt đầu có xu hướng sụt giảm vào năm 2016 khi diện tích trồng hồ tiêu có dấu hiệu tăng trưởng “nóng”. Các nước nhập khẩu tiêu của Việt Nam nắm bắt được điều này nên đang hạn chế nhập khẩu để gây sức ép về giá. Ngoài ra, việc hồ tiêu Việt Nam nhiều lần bị trả hàng do bị phát hiện tồn dư thuốc bảo vệ thực vật khi xuất khẩu cũng là lý do khiến các đối tác lợi dụng ép giá. 

Theo nhiều cơ sở thu mua tiêu, tiêu có lợi thế hơn hẳn nhiều mặt hàng nông sản khác là có thể trữ lại hàng năm trời mà không lo giảm chất lượng nếu bảo quản tốt. Đây cũng chính là nguyên nhân khiến nhiều nông dân, các vựa, đại lý thu mua chọn giải pháp trữ hàng khi giá rớt. Không ít chủ cơ sở thu mua đã lời to vì cách làm này. Tuy nhiên, với tình hình tiêu thụ tiêu hiện nay, việc trữ tiêu như “đánh bạc” với rất nhiều rủi ro do nhiều DN, đại lý kinh doanh tiêu của Việt Nam thường vay vốn để trữ hàng.  

CAO SU 

Tháng 9/ 2017, Việt Nam xuất khẩu 174 nghìn tấn cao su, đạt 279 triệu USD, tăng 52,7% về giá trị

Theo Báo cáo của Bộ NN&PTNT,  khối lượng xuất khẩu cao su tháng 9/2017 ước đạt 174 nghìn tấn với giá trị đạt 279 triệu USD. Với ước tính này, khối lượng xuất khẩu cao su 9 tháng đầu năm 2017 ước đạt 979 nghìn tấn và 1,66 tỷ USD, tăng 13,3% về khối lượng và tăng 52,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Giá cao su xuất khẩu bình quân 8 tháng đầu năm 2017 đạt 1.715,7 USD/tấn, tăng 36,7% so với cùng kỳ năm 2016.

Trung Quốc, Malaysia và Hàn Quốc là 3 thị trường tiêu thụ cao su lớn nhất của Việt Nam trong 8 tháng đầu năm 2017, chiếm thị phần lần lượt 62,7%, 5,5% và 4,1%. Giá trị xuất khẩu cao su sang 3 thị trường này lần lượt là: 867 triệu USD (+73%), 75,4 triệu USD (+12,7%) và 56,6 triệu USD (+75,1%) so với cùng kỳ năm 2016.

Ở chiều ngược lại, khối lượng nhập khẩu cao su trong tháng 9/2017 đạt 56 nghìn tấn với giá trị đạt 101 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu cao su 9 tháng đầu năm 2017 lên 398 nghìn tấn và 813 triệu USD, tăng 31,6% về khối lượng và tăng 75,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

HẠT ĐIỀU

Giá xuất khẩu hạt điều tăng mạnh

Theo Bộ NN&PTNT, tháng 8/2017 cả nước đã xuất khoảng 35 nghìn tấn hạt điều, trị giá 351 triệu USD. Lũy kế 8 tháng năm 2017, cả nước đã xuất khẩu 223 nghìn tấn hạt điều, đạt kim ngạch 2,2 tỷ USD, giảm 1,1% về lượng nhưng tăng 24,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2016.

Giá hạt điều xuất khẩu trung bình 8 tháng năm 2017 ước đạt 9.865,4 USD/Tấn, tăng 27,2% so với cùng kỳ năm trước, tăng 20,3% so với năm 2016 (8195,5 USD/Tấn) và tăng 8,3% so với hồi đầu năm 2017 (9101,1 USD/Tấn).

Về thị trường xuất khẩu, Mỹ, Hà Lan và Trung Quốc tiếp tục duy trì là 3 thị trường chủ lực xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, trong đó Mỹ là thị trường chiếm thị phần lớn 36,7%, kế đến là Hà Lan chiếm 15,6% và Trung Quốc chiếm 11,7%. Các thị trường có giá trị xuất khẩu tăng mạnh là Nga (tăng 67,1%); Hà Lan (tăng 44,9%); Mỹ (tăng 38,2%); Israen (tăng 30%); Anh (tăng 22,1%); Thái Lan (tăng 17,9%); Úc (tăng 7%) và Trung Quốc (tăng 12,3%).

Mặc dù, giá điều xuất khẩu đang đứng ở mức cao và có xu hướng tăng, nhưng ngành điều vẫn phải phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Số liệu từ hải quan cho biết, tính đến 15/8, cả nước đã nhập khẩu 994.364 tấn điều thô nguyên liệu với tổng kim ngạch 1,923 tỷ USD, tăng gần 54% về lượng và tăng 98,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2016. Cùng với lượng và kim ngạch tăng, giá nhập trung bình điều thô nguyên liệu những tháng vừa qua cũng tăng mạnh lên 1.934 USD/Tấn, tăng 28,9% so với cùng thời điểm này năm ngoái (1.500 USD/Tấn).

Theo Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội điều Việt Nam (Vicasa), việc nhập khẩu điều thô nguyên liệu tăng cao là không quá bất thường, do nguyên liệu nhập tăng mạnh đã được dự báo từ đầu năm, xuất phát từ việc các vùng nguyên liệu quan trọng ở cả trong nước và trên thế giới như Campuchia và khu vực Tây Phi bị mất mùa. Cụ thể, những tháng đầu năm, các vùng trồng điều trong nước, nông dân có nhiều kinh nghiệm chăm sóc, năng suất ước cũng chỉ đạt 50% so với niên vụ 2016. Đáng chú ý, có những vườn điều thậm chí còn không có thu hoạch. Tổng sản lượng điều thô cả năm dự kiến đạt hơn 252.000 tấn, giảm gần 52.000 tấn so với năm 2016.

Điều này đã làm tâm lý các doanh nghiệp tăng nhập nguyên liệu để dự trữ phục vụ kế hoạch sản xuất cả năm. Cùng với đó, có cả doanh nghiệp Trung Quốc đặt cơ sở gia công tại Việt Nam cũng là nguyên nhân khiến nguyên liệu nhập của năm nay tăng mạnh, kéo theo đó giá thu mua tăng cao hơn so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, nguồn nguyên liệu điều thô chất lượng thấp cũng sẽ tăng giá hơn so với trước đây, đặc biệt là khoảng thời gian từ tháng 10 đến tháng 12/2017 sẽ tác động đến giá nguyên liệu điều trong nước tăng cao.

Hiện nay cơ bản vụ thu hoạch điều nguyên liệu ở trong nước và các khu vực quan trọng trên thế giới đã hoàn thành xong, dự báo những tháng cuối năm, việc nhập khẩu điều thô nguyên liệu sẽ không cao như thời gian vừa qua, ước tính cả năm 2017 lượng nguyên liệu nhập khẩu khoảng 1,3 triệu tấn, tăng hơn 200 nghìn tấn so với năm 2016.

(TTGCVT tổng hợp)


Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (024) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (024) 39762593 
Email: ttgcvattu@yahoo.com