Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Thị trường hàng hóa nguyên liệu trong nước tháng 8/2017
Cập nhật: 30-8-2017
VÀNG

Giá vàng SJC xoay quanh mốc trên 36 triệu đồng mỗi lượng, chênh lệch với vàng thế giới được rút ngắn


Trong tháng 8/2017, trước những biến động của giá vàng thế giới, giá vàng trong nước mặc dù có biến động nhẹ, nhưng vẫn chưa đủ lực bứt phá để thoát khỏi mức giá trên 36 triệu đồng. Bao trùm qua các phiên giao dịch nhìn chung là ảm đạm, chủ yếu là các giao dịch nhỏ lẻ bởi các nhà đầu tư vẫn nằm trong xu thế thăm dò.

Tuần đầu của tháng 8, giá vàng tiếp tục xu hướng giao dịch ở mức trung bình, tuy có thời điểm tăng giá nhưng chưa đủ. Giá vàng chưa ghi nhận thêm bất cứ điều chỉnh tích cực nào do diễn biến đi ngang và giảm nhẹ dưới áp lực giá vàng thế giới. Giá dao động trong khoảng 36,11 – 36,20 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,32 – 36,42 triệu đồng/lượng (bán ra).

Sang tuần thứ  2, giá vàng gần như “bất động” và chỉ duy nhất phiên giao dịch ngày cuối tuần (11/8) là có xu hướng tăng nhẹ theo chiều tăng của giá vàng thế giới. Giá vàng dao động qua các ngày ở mức 36,13 – 36,30 triệu đồng/lượng (chiều mua vào) và 36,35 – 36,52 triệu đồng/lượng (chiều bán ra).

Trung tuần tháng 8, dưới áp lực giảm giá của vàng thế giới, giá vàng trong nước đã có 3 phiên liên tiếp quay đầu giảm và hai phiên cuối tuần có xu hướng tăng trở lại. Giá dao động ở khoảng 36,15 – 36,32 triệu đồng/lượng (chiều mua vào) và 36,42 – 36,52 triệu đồng/lượng (chiều bán ra). Theo quan sát của Doji, số lượng khách tham gia giao dịch khá mỏng theo nhu cầu cá nhân - là diễn biến chủ đạo trong các phiên. Có thể thấy ở mỗi đợt biến động, giá cũng là thời điểm nhà đầu tư nên cân nhắc, đánh giá lại thị trường để có thể tương tác tối ưu nhất. Kết thúc tuần giao dịch, vào đầu giờ sáng ngày 18/8, giá vàng neo ở mức 36,24 – 36,46 triệu đồng/lượng, chênh lệch đã được rút ngắn với giá vàng thế giới khoảng 800 nghìn đồng mỗi lượng.

Tuần cuối cùng của tháng 8, xu hướng giảm giá với biên độ nhỏ hẹp được xem là diễn biến chính của thị trường vàng trong nước. Giá vàng miếng SJC vàng rồng Thăng Long dao động trong khoảng 36,29 – 36,37 triệu đồng/lượng (chiều mua vào) và 36,35 – 36,43 triệu đồng/lượng (chiều bán ra). Chênh lệch với giá thế giới được rút ngắn xuống còn 700 nghìn đồng mỗi lượng. 

Vào ngày 30/8, giá vàng thế giới tăng không ngừng do giới đầu tư tháo chạy khỏi chứng khoán và đồng USD xuống mức thấp kỷ lục. Những diễn biến căng thẳng địa chính trị và tín hiệu chính sách tài chính kiên định của nhiều nước khiến vàng tăng vọt. Hiện giá vàng cao hơn 14,8% (+170 USD/ounce) so với cuối năm 2016. Vàng thế giới quy đổi theo giá USD ngân hàng có giá 36,6 triệu đồng/lượng, chưa tính thuế và phí, thấp hơn giá vàng trong nước 100 ngàn đồng/lượng. Và vàng trong nước neo ở mức 36,45 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,67 triệu đồng/lượng (bán ra).

ĐÔ LA

Mức cao nhất của tỷ giá trung tâm đạt 22.450 đồng/USD, giá giao dịch USD tại các ngân hàng ít biến động.

Trong tháng 8, tỷ giá trung tâm vẫn đứng trước áp lực giá trên thị trường quốc tế và tình hình nhập siêu trong nước. Ngân hàng Nhà nước vẫn bám sát các thông tin giá USD trên thị trường tiền tệ thế giới và cân đối trên tinh thần ổn định kinh tế vĩ mô. Tỷ giá trung tâm trong tháng 8 có giá thấp nhất ở mức 22.429 đồng/USD và mức cao nhất là ở 22.450 đồng/USD. Tuy nhiên, trái ngược với tỷ giá trung tâm, giá giao dịch đồng USD tại các NHTM lại ít biến động. Giá mua bán đồng bạc xanh thường nằm trong khoảng 22.690 – 22.765 VND/USD (mua vào – bán ra).

THÉP

Giá thép trong tháng 8 tăng vượt 12 triệu đồng/tấn

Tháng 8/2017 thị trường sắt thép xây dựng tại Việt Nam bắt đầu có khởi sắc đi lên mặc dù không tăng trưởng đột biến như năm 2016, ngành sắt thép xây dựng Việt Nam vẫn tiếp tục được hưởng lợi từ việc Chính phủ áp thuế tự vệ tạm thời và tiêu thụ trong nước ổn định. Theo đánh giá của chuyên gia, đến giữa Quý 3 năm 2017, Việt Nam đã sản xuất gần 8 triệu tấn thép và tiêu thụ 6,4 triệu tấn, tăng 12% và 17% so với cùng kỳ năm ngoái.

Còn theo số liệu của Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) và các bộ, ngành có liên quan, trong tháng 7/2017, lượng tiêu thụ thép toàn thị trường tăng 39% cùng kỳ; trong khi đó giá thép đã được điều chỉnh tăng 4 lần trong tháng.

Trong đó, sản lượng thép xây dựng trong tháng 7/2017 đạt 778.730 tấn, tăng 24,1% so với cùng kỳ 2016 và tăng 7% so với tháng trước; Sản lượng ống thép đạt 206.632 tấn, tăng 22,9% so với cùng kỳ 2016; Sản lượng tôn mạ kim loại và sơn phủ màu đạt 402.817 tấn, tăng 10,3% so với tháng trước và tăng 30,3% so với cùng kỳ năm 2016; Sản lượng thép cuộn cán nguội (CRC) đạt 349.581 tấn, tăng 5,3% so với cùng kỳ năm 2016.

7 tháng của năm, sản lượng thép trong nước đạt 11.252.437 tấn, tăng 12,8 % so với cùng kỳ 2016. Trong đó, sản lượng thép xây dựng trong 7 tháng đạt 5.182.848 tấn, tăng 13,5% so với cùng kỳ 2016; Sản lượng ống thép đạt 1.246.378 tấn, tăng 23% so với cùng kỳ 2016; Sản lượng tôn mạ kim loại và sơn phủ màu đạt 2.516.674 tấn, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm 2016; Sản lượng thép cuộn cán nguội (CRC) đạt 2.202.658 tấn, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm 2016.

Trong tháng 7/2017, sản lượng thép tiêu thụ ở cả phía Bắc và phía Nam tốt hơn tháng trước. Nhìn chung, các nhà máy đều có tăng trưởng tốt so với cùng kỳ tháng 6/2016.

Riêng mặt hàng thép xây dựng, với mức tiêu thụ trong tháng 7 đạt 908.008 tấn, đây là mức tiêu thụ trong tháng cao thứ 2 từ trong vòng 3 năm trở lại đây (mức tiêu thụ cao nhất đạt 1.011.577 tấn vào hồi tháng 3 năm 2016); Mặt hàng ống thép có mức tiêu thụ đạt 207.649 tấn, tăng 4,61% so với tháng trước, và tăng 25,3% so với cùng kỳ năm trước; Mặt hàng tôn mạ kim loại và sơn phủ màu có mức tiêu thụ đạt 338.745 tấn, tăng 13,58% so với tháng trước, và tăng 62% so với cùng kỳ 2016; Mặt hàng thép cuộn cán nguội (CRC) có mức tiêu thụ đạt 193.749 tấn, tăng không đáng kể so với cùng kỳ 2016.

Tính chung trong 7 tháng của năm, tổng lượng tiêu thụ thép các loại của cả nước đạt 9.493.042 tấn, tăng tương ứng là 15,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, mặt hàng thép xây dựng tiêu thụ trong 7 tháng đạt 5.139.029 tấn, tăng tương ứng là 14,5% so với cùng kỳ năm trước; Mặt hàng ống thép có mức tiêu thụ đạt 1.236.833 tấn, tăng 20,2% so với cùng kỳ năm trước; Mặt hàng tôn mạ kim loại và sơn phủ màu có mức tiêu thụ đạt 1.945.050 tấn, tăng 25% so với cùng kỳ 2016; Mặt hàng thép cuộn cán nguội (CRC) có mức tiêu thụ đạt 1.120.742 tấn, giảm 1,3% so với cùng kỳ 2016.

Trên mặt bằng giá, thép trong nước có xu hướng tăng kể từ tháng 7. Bước sang tháng 8, do giá thép tại Trung Quốc tăng mạnh, giá phôi thép vượt 11 triệu đồng/tấn nên nhiều nhà máy thép trong nước đều tăng giá bán. Giá thép xây dựng xuất xưởng chưa VAT tại các nhà máy trong nước đều trên 12 triệu đồng/tấn. Cụ thể, tại ngày 23/8 giá thép xây dựng tại nhà máy thép Việt Ý đang giao dịch ở mức 12,38 – 12,58 triệu đồng/tấn chưa VAT, giá thép cây phi 20 của Hoà Phát là 12,18 triệu đồng/tấn chưa VAT, một số nhà máy thép quy mô nhỏ hơn giá thép cây thậm chí lên tới 12,9 triệu đồng/tấn. Mức giá này tăng 15-17% so với điểm cuối quý 2.

Theo một chuyên gia trong ngành, mặc dù bắt đầu vào mùa mưa xong nhu cầu tiêu thụ thép vẫn tăng, nhưng quan trọng nhất là tác động từ thép Trung Quốc. Giá thép Trung Quốc tại thị trường nội địa đã trên 4.000 NDT/tấn, giá quặng sắt cũng lên mức 78 USD/tấn.

Về tình hình xuất nhập khẩu, theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong tháng 7, Việt Nam đã xuất khẩu được 396.343 tấn sắt thép các loại, đạt trị giá 262.891.572 USD; tăng 7,6% về lượng và 6,8% về trị giá so với tháng 6/2017. Tính chung 7 tháng của năm 2017, Việt Nam đã xuất khẩu được 2.428.674 tấn sắt thép các loại, đạt trị giá 1.620.644.823 USD; tăng 29,1% về lượng và 54,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2016.

Trong tháng 7/2017, Việt Nam đã nhập khẩu hơn 1,096 triệu tấn sắt thép các loại, tương đương với tổng giá trị nhập khẩu là 633,178 triệu USD. Tính chung 7 tháng của năm 2017, Việt Nam đã nhập khẩu hơn 8,997 triệu tấn sắt thép các loại, tương đương với mức trị giá nhập khẩu là hơn 5,241 tỉ USD; so với cùng kỳ năm 2016, nhập khẩu sắt thép các loại trong 7 tháng của năm 2017 giảm 18,3% về lượng và tăng 16,8% về trị giá. Còn trong nửa đầu tháng 8/2017, nhập khẩu sắt thép các loại tăng 13,2%, tương ứng tăng 46 triệu USD. Lũy kế đến 15/8 nhập khẩu sắt thép đạt 5,63 tỷ USD, cao hơn so với cùng kỳ của năm 2016.

Cũng trong tháng 8/2017, Cục quản lý cạnh tranh (Bộ Công Thương) cho biết đã quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá chính thức đối với mặt hàng thép chữ H nhập khẩu vào Việt Nam, có xuất xứ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, có mã HS 7216.33.00, 7228.70.10, 7228.70.90 (mã vụ việc AD03) với mức thuế chống bán phá giá từ 20,48% - 29,17%.  

Về dự báo, theo nhận định của nhiều chuyên gia, giá thép trong nước sẽ còn tiếp tục tăng hơn nữa trong những tháng còn lại của năm 2017.

XI MĂNG

Xi măng tiêu thụ nội địa: Mới đạt hơn 60% kế hoạch

Theo số liệu mới nhất của Vụ Vật liệu (Bộ Xây dựng), ước tính sản lượng tiêu thụ sản phẩm xi măng trong 8 tháng năm 2017 đạt khoảng 51,81 triệu tấn, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước và đạt khoảng 64,8% kế hoạch năm 2017.

Riêng trong tháng 8, ước tính sản phẩm xi măng tiêu thụ khoảng 6,08 triệu tấn, tăng 4% so với tháng 8/2016. Trong đó, tiêu thụ nội địa đạt khoảng 4,58 triệu tấn, tăng 7% so với cùng kỳ.

Lũy kế từ đầu năm đến nay tiêu thụ sản phẩm xi măng tại thị trường nội địa ước đạt khoảng 39,17 triệu tấn, tăng 2% so với cùng kỳ năm 2016.

Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, mặc dù sản phẩm xi măng tiêu thụ tại thị trường nội địa vẫn tăng, nhưng mức tăng này rất chậm. Nguyên nhân của việc tăng chậm này có thể là do ảnh hưởng của giá cát tăng đột biến từ 50-200% làm nhiều công trình xây dựng bị giảm, hoãn tiến độ. Cùng với đó, mùa mưa năm nay lượng mưa nhiều cũng ảnh hưởng không nhỏ đến tiến độ các công trình xây dựng.

Sản lượng xuất khẩu sản phẩm xi măng trong tháng 8 đạt khoảng 1,5 triệu tấn, tăng 7% so với cùng kỳ năm 2016. Con số này trong 8 tháng năm 2017 ước đạt khoảng 12,64 triệu tấn.

Như vậy, để hoàn thành mục tiêu kế hoạch năm 2017 tiêu thụ từ 70-80 triệu tấn sản phẩm xi măng (tiêu thụ nội địa từ 64-65 triệu tấn, xuất khẩu từ 14-15 triệu tấn) trong những tháng còn lại của năm 2017 đòi hỏi những nỗ lực rất lớn của các doanh nghiệp thuộc ngành xi măng.

Với 12,64 triệu tấn sản phẩm xi măng được xuất khẩu trong 8 tháng thì sản lượng xuất khẩu từ 14-15 triệu tấn sản phẩm xi măng trong năm 2017 có thể cán đích, hoàn thành vượt mức kế hoạch đề ra. Tuy nhiên, tại thị trường nội địa, sản lượng tiêu thụ đến thời điểm này mới chỉ đạt trên 60% kế hoạch, còn khá khiêm tốn so với tiềm năng.

Về tình hình diễn biến giá xi măng, theo báo cáo của Sở Tài chính các tỉnh, thành phố, giá bán lẻ xi măng (XM) tháng 7 và tháng 8/2017 trên cả nước cơ bản ổn định. Tại các tỉnh miền Bắc, miền Trung hiện phổ biến từ 1.050.000 - 1.550.000 đồng/tấn; tại các tỉnh miền Nam phổ biến từ 1.460.000 - 1.850.000 đồng/tấn. Nguyên nhân do giá nguyên vật liệu đầu vào, chi phí sản xuất cơ bản ổn định nên các nhà máy sản xuất kinh doanh XM ổn định giá bán.

GAS

Từ 1-8, giá gas tăng 27.000 đồng/bình 12kg

Chiều 31-7, các doanh nghiệp kinh doanh gas trên địa bàn TPHCM đã phát đi thông báo cho biết, từ ngày 1-8-2017, giá gas sẽ được điều chỉnh tăng trên dưới 2.300 đồng/kg (đã bao gồm VAT), tương đương khoảng 27.000 đồng/bình 12kg so với tháng 7, tùy thương hiệu.

Lý giải nguyên nhân giá gas tăng, các công ty cho biết trong tháng 8-2017 giá gas thế giới nhập khẩu tăng thêm 85 USD/tấn (lên mức 440 USD/tấn) kéo theo sự điều chỉnh giá gas bán lẻ trong nước.

Như vậy, trong 8 tháng đầu năm 2017, giá gas trong nước có 3 lần tăng vào tháng 1, 2 và tháng 8, giữ nguyên trong tháng 6 và giảm trong các tháng 3, 4, 5 và 7-2017. Ngay sau khi phát đi thông báo sắp tăng giá, nhiều doanh nghiệp như Saigon Petro cũng cho biết, sẽ công bố giá bán lẻ tối đa đến tay người tiêu dùng là 305.000 đồng/bình 12kg đối với thương hiệu SP, từ ngày 1-8-2017. 

XĂNG DẦU

Giá xăng dầu tăng hai lần trong tháng 8, với tổng mức tăng xấp xỉ 1.000đ/lít

Theo đó, kể từ 15h chiều ngày 4/8, Liên bộ Công Thương - Tài chính đã có thông báo về điều chỉnh giá bán lẻ xăng dầu trong nước. Theo đó, giá xăng RON 92 tăng thêm 599 đồng một lít, xăng sinh học E5 là 572 đồng một lít. Các loại dầu cũng tăng 264 - 466 đồng một lít, kg. Sau khi tăng giá, mỗi lít xăng RON 92 không quá 17.025 đồng một lít; xăng E5 lên mức 16.823 đồng một lít; dầu diesel 13.795 đồng một lít...

Cùng với tăng giá bán, nhà điều hành đồng thời tăng mức chi Quỹ bình ổn giá xăng dầu với xăng khoáng 110 đồng một lít; xăng E5 là 90 đồng một lít; dầu hỏa 110 đồng một lít và dầu diesel 70 đồng một lít. Riêng mặt hàng dầu madut không chi sử dụng từ Quỹ.

Đây là lần đầu tiên trong vòng 4 tháng qua cơ quan quản lý sử dụng tới công cụ bình ổn giá từ Quỹ bình ổn giá xăng dầu để “kìm” mức tăng giá bán lẻ trong nước.

Động thái tăng giá bán xăng dầu trong nước được lý giải là do bình quân 15 ngày qua giá bán thành phẩm xăng trên thị trường Singapore ở mức 61,693 USD một thùng, dầu diesel ở mức 63,289 USD một thùng... Mức này tăng khoảng 4 USD một thùng so với đợt điều chỉnh liền kề trước đó (ngày 20/7).

Đợt điều chỉnh lần thứ 2 trong tháng, từ 15h00 ngày 19/8, giá xăng RON 92 tăng 461 đồng/lít, xăng E5 tăng 431 đồng/lít; Dầu mazut 180CST 3.5S tăng nhẹ 8 đồng/kg; các loại dầu giữ nguyên giá bán. Sau khi thực hiện trích lập và chi sử dụng Quỹ bình ổn, xăng RON 92 tăng mức tối đa không cao hơn 17.486 đồng/lít;

Trong khi đó, xăng E5: tăng 431đồng/lít, giá bán không cao hơn 17.254 đồng/lít; Dầu diesel 0.05S giữ nguyên, giá bán lẻ không cao hơn 13.795 đồng/lít; Dầu hỏa: giá bán không cao hơn 12.398 đồng/lít; Dầu mazut 180CST 3.5S giá bán 11.105 đồng/kg.

Việc trích lập Quỹ Bình ổn giá xăng dầu đối với các mặt hàng xăng dầu cũng áp dụng từ 15h ngày 19/8. Cụ thể xăng khoáng 110 đồng/lít; Xăng E5: 90 đồng/lít; Dầu diesel: 27 đồng/lít; Dầu hỏa: 185 đồng/lít.

Như vậy từ đầu năm đến nay, giá bán lẻ xăng trong nước đã trải qua 16 kỳ điều chỉnh, trong đó có 9 kỳ tăng giá và 7 kỳ giảm giá.

Ô TÔ

Ô tô nhập khẩu đang có chiều hướng tăng

Theo báo cáo mới nhất của Tổng Cục Hải Quan, trong nửa đầu tháng 8/2017 cả nước nhập khẩu 4.041 xe ô tô nguyên chiếc, tăng 52% so với cùng kỳ tháng trước (2.659 xe). Tuy nhiên giá trị nhập khẩu chỉ tăng nhẹ hơn 90 triệu USD so với gần 76 triệu USD nửa đầu tháng 7. 

Cũng theo báo cáo này, lượng xe ô tô dưới 9 chỗ được nhập về nước trong nửa đầu tháng 8/2017 là 2.532 chiếc, xe ô tô trên 9 chỗ là 25 chiếc và xe vận tải là 1.389 chiếc.

Cộng dồn lũy kế từ đầu năm đã có 61.653 xe ô tô nguyên chiếc được nhập khẩu vào Việt Nam và đạt giá trị kim ngạch gần 1,3 tỷ đô la. Lượng xe ô tô nguyên chiếc dưới 9 chỗ kể từ đầu năm chiếm gần một nửa lượng xe nhập khẩu về nước với 31.566 xe trị giá hơn 547 triệu đô la.

Quan sát thị trường từ đầu năm đến nay cho thấy, nhập khẩu ô tô nguyên chiếc về thị trường Việt Nam tiếp tục thiếu ổn định khi liên tục tăng/giảm trái chiều. Sự không ổn định của ô tô nhập khẩu được cho là do tác động không nhỏ từ các chính sách về nhập khẩu ô tô thời gian qua. Trong đó có chính sách về thuế và thủ tục ràng buộc đối với các nhà nhập khẩu.

Cụ thể, lượng ô tô nhập khẩu vào thị trường Việt giảm từ 10.000 chiếc hồi tháng 5 xuống còn khoảng 8 nghìn chiếc vào tháng 6. Tuy nhiên, dù giảm khá mạnh về lượng nhưng trị giá các dòng ô tô nhập khẩu vào thị trường Việt lại giảm sút không đáng kể so với con số 216 triệu USD hồi tháng 5.

Trong thời gian gần đây, dù các hãng xe đua nhau giảm giá lên tới gần 200 triệu đồng tùy xe, khuyến mãi để kích cầu nhưng doanh số bán hàng tháng 7 của toàn thị trường Việt Nam vẫn giảm 15% so với tháng 6. Theo Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA) vừa công bố, tháng 7 vừa qua, VAMA bán được hơn 20.600 xe, bao gồm gần 11.200 xe du lịch (giảm 21%); khoảng 8.500 xe thương mại (giảm 7%) và 978 xe chuyên dụng (giảm 7%). Tính chung 7 tháng đầu năm, tổng doanh số bán hàng của toàn thị trường đạt gần 155.000 xe, giảm 6% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, cả ô tô du lịch, xe thương mại và xe chuyên dụng đều giảm.

THỦY SẢN

Thị trường cá tra chững lại nhưng triển vọng vẫn tốt 

Theo Bộ NN&PTNT, kim ngạch xuất khẩu nông lâm, thuỷ sản tháng 8 ước đạt hơn 3 tỷ USD, nâng giá trị 8 tháng qua đạt gần 24 tỷ USD, tăng 13,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Đặc biệt với vai trò là một ngành xuất khẩu mũi nhọn, giá trị xuất khẩu thủy sản tháng 8 ước đạt 749 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu thủy sản 8 tháng ước đạt 5,13 tỷ USD.

Sau thời gian tăng mạnh từ đầu năm cho đến giữa tháng 4 giá cá tra nguyên liệu đã hạ nhiệt – đây là chu kỳ giá tăng kéo dài nhất. Tính đến ngày 11/8, cá tra nguyên liệu tại các tỉnh ĐBSCL duy trì ổn định, hiện giá cá tra thịt trắng nguyên liệu dao động từ 21.500 – 23.000 đồng/kg tại tỉnh Vĩnh Long, An Giang, giảm 4.000 đồng/kg so với mức cao nhất vào hồi tháng 4/2017.

Nguyên nhân giá và lượng cùng chững lại, bởi sau khi tăng mạnh từ đầu năm người dân lo ngại giá cả và đầu ra không ổn định, nên tiến độ thả nuôi và thu hoạch thấp so với thời điểm cùng kỳ.

Theo Bộ NN&PTNT, 7 tháng đầu năm, diện tích cá tra của các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long ước đạt 3.921,6 ha, giảm 5,4%, sản lượng thu hoạch ước đạt 729.700 tấn, tăng 1,2% so với cùng kỳ 2016. Tỉnh có diện tích nuôi lớn nhất là Đồng Tháp (1.688,31 ha), thu hoạch được 250.900 tấn vẫn có sự tăng trưởng tốt, sản lượng tăng 14,2% so với cùng kỳ để bù cho sự giảm sút của các tỉnh như An Giang có sản lượng 194.400 tấn (giảm 3,9%), Cần Thơ có sản lượng 80.700 tấn (giảm 4,6%), Bến Tre có sản lượng 104.600 tấn (giảm 12,6%).

Về xuất khẩu, hiện cá tra Việt Nam xuất khẩu sang 140 thị trường trên thế giới, tổng giá trị năm 2016 đạt hơn 1,6 tỷ USD. Tuy nhiên, con cá tra vẫn chịu nhiều trắc trở bởi những rào cản kỹ thuật khi thâm nhập vào các thị trường lớn. Thị trường Mỹ và Châu Âu tới đây dự báo sẽ tiếp tục khó khăn, do mặt hàng này đang chịu cạnh tranh gay gắt bởi cá thịt trắng, cá rô phi… từ các nước khác. Điều này đã buộc các doanh nghiệp Việt Nam chuyển hướng xuất khẩu sang các thị trường tiềm năng như Trung Quốc, Brazil, Mexico, Colombia,Saudi Arabia và Nhật Bản.

Theo Hiệp hội Thủy sản Việt Nam (VASEP), mặc dù mặt hàng cá tra đang gặp khó ở thị trường Mỹ do những vấn đề liên quan đến Farm Bill - kiểm tra nghiêm ngặt trên 85 chỉ tiêu về kháng sinh và 106 chỉ tiêu về thuốc bảo vệ thực vật nhưng Trung Quốc đã thay thế Mỹ để trở thành thị trường tiêu thụ cá lớn nhất của Việt Nam. Bên cạnh đó, nhu cầu tăng ở một số thị trường khác đã giúp giá trị xuất khẩu cá tra 7 tháng đầu năm đạt 985 triệu USD, tăng 6% so với cùng kỳ năm ngoái.

Cơ quan Thanh tra và An toàn thực phẩm (FSIS) thuộc Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) đã quyết định áp dụng việc kiểm tra sản phẩm cá tra nhập khẩu từ Việt Nam sớm hơn so với kế hoạch ban đầu một tháng, tức từ ngày 2/8/2017 thay vì chờ đến ngày 1/9/2017 như thông báo trước đó. VASEP cho biết đến nay vẫn chưa thấy doanh nghiệp phản ánh đến Hiệp hội những vướng mắc, khó khăn liên quan đến quy định mới FSIS. Vấn đề quan tâm nhất của phía Việt Nam là đưa hàng vào Mỹ có bị kẹt hay không, nhưng hiện nay vẫn chưa nghe doanh nghiệp phản ánh gì. Theo nhận định, việc xuất khẩu cá tra vào Mỹ vẫn diễn ra bình thường.

Hiện nay giá con giống đang bắt đầu chu kỳ tăng giá vì cung không đủ cầu, do đó, với tình hình này dự báo diện tích nuôi mới sẽ sụt giảm dẫn đến nguy cơ thiếu hụt nguyên liệu chế biến vào cuối năm.

Tổng quan về thị trường xuất khẩu cá tra trong những tháng đầu năm nay, ông Dương Nghĩa Quốc, Chủ tịch Hiệp hội cá tra Việt Nam (VINAPA) cho biết mặc dù nhận định thị trường còn nhiều khó khăn nhưng đến cuối tháng 7, kim ngạch xuất khẩu cá tra đạt gần 1 tỷ USD, tăng 6,9% so với cùng kỳ, đây là kết quả đáng mừng.

Giá tôm nguyên liệu tại Đồng bằng sông Cửu Long tăng cao


Người nuôi tôm ở Đồng bằng sông Cửu Long đang đón nhận tin vui khi vài tuần trở lại đây, giá tôm nguyên liệu có chiều hướng tăng cao. 

Tăng mạnh nhất là mặt hàng tôm sú, giá tôm sú đã tăng hơn 10% so với cùng kỳ năm 2016. Theo các doanh nghiệp thủy sản ở Đồng bằng sông Cửu Long, tôm nguyên liệu tăng giá vào thời điểm này là do thị trường xuất khẩu đang khởi sắc trở lại. Do đó, các nhà máy chế biến thủy sản trong vùng phải đẩy mạnh thu mua tôm nguyên liệu để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu. Trong khi nguồn tôm nguyên liệu tại Đồng bằng sông Cửu Long đang thiếu nên đẩy giá tăng cao.

Hiện giá tôm sú loại 40 con/kg đang được thương lái thu mua tại ao là hơn 210.000 đồng/kg, tăng khoảng 22.000 đồng. So với cùng kỳ năm ngoái tôm thẻ cũng tăng nhẹ từ 1.000 - 4.000 đồng, dao động ở mức 120.000 - 140.000 đồng/kg tùy loại.

LÚA GẠO

Xuất khẩu gạo đã có sự tăng trưởng cả về lượng và giá trị

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, lượng gạo xuất khẩu 8 tháng đầu năm 2017 ước đạt 3,96 triệu tấn gạo, đem về 1,75 tỷ USD, tăng 19,8% về lượng và tăng 17,5% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Trung Quốc vẫn tiếp tục đứng vị trí thứ nhất về thị trường nhập khẩu gạo của Việt Nam với 40,9% thị phần.

Các nhà phân tích đưa ra dự báo mới rằng, xuất khẩu gạo của nước ta năm 2017 có thể đạt 6,5-7 triệu tấn, cao hơn 1,5 triệu tấn so với năm 2016 và cao hơn 1 triệu tấn so với kế hoạch mà Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) đưa ra từ đầu năm. 

Thị trường  xuất khẩu lúa gạo của Việt Nam khởi sắt trong thời gian gần đây là do liên tiếp xuất hiện nhu cầu nhập khẩu của các thị trường khác. Cụ thể là Cơ quan Lương thực Quốc gia Philippines (NFA) vừa cho phép tư nhân nước này nhập khẩu 805.200 tấn gạo theo cơ chế tiếp cận thị trường tối thiểu (MAV) từ 7 quốc gia và xuất xứ bất kỳ nước nào. Riêng Việt Nam và Thái Lan, tư nhân được phép mua 293 ngàn tấn/nước.

Ông Nguyễn Văn Đôn, Giám đốc Công ty TNHH Việt Hưng cho biết, sau khi Việt Nam trúng thầu 175 ngàn tấn gạo Philippines, giá gạo 5% tấm đã tăng lên 8.400 đồng/kg (không bao bì, cập mạn), nhưng nay đã sụt từ 100-150 đồng/kg nên việc Philippines cho tư nhân mua 293 ngàn tấn gạo của Việt Nam sẽ tác động tốt hơn lên thị trường gạo nội địa nước ta. Nhìn vào thời gian giao hàng của Philippines cho thấy, giao dịch này sẽ tác động tốt lên giá lúa vụ lúa thu-đông 2017 và cả vụ đông xuân 2017-2018.

Hiện nay lũ lụt xảy ra khắp nơi, sản xuất nông nghiệp của nhiều nước bị ảnh hưởng nặng nề, như tại Ấn Độ, Bangladesh... sản xuất nông nghiệp bị thiệt hại nặng nề, tác động rất lớn đến ngành lương thực thế giới nên nhu cầu gạo xuất hiện ngày càng nhiều.

“Trong khi đó, tồn kho gạo cũ của Thái Lan không còn sẽ không tác động đến giá gạo thế giới, từ nay đến cuối năm gạo Việt Namkhông lo đầu ra nhưng bán với giá nào còn tùy thuộc vào sự tương quan giữa sản xuất và nhu cầu thị trường”, ông Đôn khẳng định.

Ngoài Philippines, một thị trường nữa quan tâm đến gạo đó là Indonesia. Dự kiến, nước này sẽ bổ sung tồn kho cho vụ giáp hạt tháng 10, tháng 11, vì thông lệ Indonesia sẽ nhập khẩu gạo vào những tháng cuối năm và gối đầu qua tháng 1, tháng 2 năm sau.

Chính phủ Bangladesh có kế hoạch mua gạo để bổ sung vào khoảng hụt, và họ đang có nhu cầu mua gạo của Việt Nam. Các doanh nghiệp Việt Nam vẫn tiếp tục giao hàng cho Malaysia và Philippines... theo phiếu đã ký, nên việc Indonesia hay Bangladesh có mua hay không mua gạo của Việt Nam cũng không tác động nhiều đến giá gạo nội địa vì tồn kho của Việt Nam đã cạn.

Riêng vụ thu-đông, sản lượng thấp nên cũng không tạo áp lực về tiêu thụ; vì vậy, gạo Việt Nam không phải lo cho đầu ra như trước đây, tuy nhiên, điều này còn phụ thuộc vào sự biến động của thị trường khu vực và quốc tế...

CÀ PHÊ

Xuất khẩu cà phê về đích sớm

Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (Vicofa) dự báo, niên vụ cà phê 2016 - 2017, xuất khẩu đạt 1,3 triệu tấn, giảm khoảng 20% so với niên vụ trước, nhưng kim ngạch thu về có thể tương đương vụ trước (3,35 tỷ USD bao gồm cả cà phê chế biến), nhờ giá xuất khẩu tăng 30,4%.

Tính đến nay, cả nước đã xuất khẩu được 1,3 triệu tấn, tồn kho dưới 50 ngàn tấn trong khi nhu cầu vẫn cao. Như vậy, niên vụ này, xuất khẩu cà phê sẽ đạt 1,35 triệu tấn, tăng nhẹ so với dự báo.

Theo thống kê sơ bộ của Hải quan Việt Nam, từ ngày 1/1 đến 15/8/2017, xuất khẩu cà phê đạt 974.712 tấn, với giá trị 2,22 tỷ USD. xuất khẩu cà phê trong 7 tháng đầu năm 2017 giảm 16,4% về lượng nhưng tăng 7,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Giá xuất khẩu bình quân đạt 2.262,8 USD/tấn, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm 2016. Đức và Hoa Kỳ tiếp tục là hai thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam với thị phần lần lượt là 16% và 14,3%.

Theo Vicofa, số liệu thống kê của Hải quan lấy mốc từ tháng 1/2017, nhưng ngành cà phê lấy niên vụ làm mốc thời gian tính toán, và hàng năm vụ thu hoạch cà phê thường bắt đầu từ tháng 10, kết thúc vào cuối tháng 11. Tính từ đầu vụ đến nay, cả nước đã xuất khẩu khoảng 1,3 triệu tấn cà phê, còn tồn kho dưới 50 ngàn tấn, trong niên vụ này chắc chắn sẽ thiếu hàng nghiêm trọng, vì trên thực tế phải đến giữa tháng 11 mới vào vụ. Như vậy, rõ ràng giá cà phê từ nay đến cuối năm không thể nào xuống được.

Ông Đỗ Hà Nam, Phó chủ tịch Vicofa kiêm Tổng giám đốc Intimex Group cho biết, hiện giá cà phê nhân xô tại các tỉnh Tây Nguyên đã tăng 1.000 đồng/kg, dao động ở mức 44.300 – 45.100 đồng/kg.

Niên vụ này, dù khối lượng cà phê xuất khẩu tuy có giảm nhưng giá xuất tăng đến 30,4%, nên kim ngạch xuất khẩu năm nay có thể tương đương niên vụ trước giúp bù vào khối lượng sụt giảm do mất mùa.

Tuy nhiên, cho dù là nước xuất khẩu cà phê Robusta số 1 thế giới nhưng lâu nay Việt Nam xuất khẩu cà phê chủ yếu ở dạng thô không mang lại giá trị gia tăng cao.

Trước đây, xuất khẩu cà phê hòa tan có tỷ lệ rất thấp so với cà phê thô nhưng nay đã tăng lên khoảng 15%, hiện các doanh nghiệp cà phê đang bắt đầu đầu tư nhà máy chế biến cà phê hòa tan và phấn đấu nâng lên mức 30%. Tuy nhiên, mới đây nổi lên một vấn đề khiến các nhà đầu tư lo lắng, đó là việc Bộ Tài chính đang kiến nghị Chính phủ cho áp thuế tiêu thụ đặc biệt với một số loại nước giải khát, và cà phê chế biến đóng gói cũng bị liệt vào nhóm hàng này.

Một doanh nghệp chế biến cà phê hòa tan cho biết: “Khi các doanh nghiệp đang chuẩn bị đầu tư vào lĩnh vực chế biến cà phê hòa tan đóng gói, Bộ Tài chính lại đề nghị đánh thuế tiêu thụ đặc biệt lên cà phê hòa tan, như vậy sẽ không còn ai dám đầu tư và mục tiêu đưa xuất khẩu cà phê chế biến lên 30%/năm của Việt Nam đang gặp khó khăn, trong khi chủ trương Nhà nước là đang rất khuyến khích. Do vậy, đề nghị Bộ Tài chính xem xét lại việc điều chỉnh thuế đối với mặt hàng này”.

HỒ TIÊU

Người nông dân vẫn cầm trịch với giá tiêu

Trong nửa đầu tháng 8 có nhiều thông tin gây bất lợi cho ngành tiêu, đó là thương lái Trung Quốc “lèo lái” giá tiêu, làm người trồng tiêu hoang mang. Tuy nhiên, trước biến động giá tiêu tăng lên rồi có nguy cơ hạ xuống theo dự báo của các nhà phân tích, nhiều người dân trồng tiêu vùng Đông Nam Bộ vẫn theo dõi rất sát biến động thị trường và quyết định giữ tiêu lại, không bán ra ồ ạt làm chao đảo giá tiêu trong nước.

Ông Đỗ Hà Nam, nguyên Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam nhấn mạnh, việc giá tiêu tăng vọt trong gần nửa đầu tháng 8 là giá thật trên thị trường, không có hiện tượng thương lái làm giá để đánh lừa nông dân. Hơn nữa, nông dân trồng tiêu Việt Nam đã cọ xát thị trường nhiều năm, vì vậy họ luôn giữ thế chủ động đẩy giá lên hoặc đưa giá xuống với quyết định trữ lại hoặc bán ra ồ ạt. Chính từ quyết định khôn ngoan này của nông dân, giá tiêu đã đẩy lên 95.000 đồng/kg (ngày 18/8) và có thể còn tăng nhẹ khi nhu cầu thế giới tăng.

Hiện nay, sản lượng tiêu Việt Nam xuất khẩu chiếm 40% sản lượng hồ tiêu thế giới. Do đó, vị thế chủ động của ngành hồ tiêu Việt Nam vẫn rất vững chắc và có tác động mạnh đến Hiệp hội gia vị châu Âu cũng như Hiệp hội Hồ tiêu quốc tế. Ông Trần Thanh Nam, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhấn mạnh, với vị thế chủ động này, ngành hồ tiêu Việt Nam sẽ không để cho các nước lấn ép về giá cũng như sẽ giúp cho nông dân trồng tiêu phát triển ổn định sau này.

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, tính đến 15/8/2017, ngành hồ tiêu Việt Nam xuất khẩu hơn 156.500 tấn, đạt kim ngạch 850,8 triệu USD.

CAO SU

Giá mủ cao su và xuất khẩu đều tăng

Cùng với xu hướng giá tăng từ tháng 7, sang tháng 8 giá mủ cao su trong nước tiếp tục đà tăng trưởng. Cụ thể ngày 7/8, Công ty cao su Lộc Ninh đã ra thông báo giá thu mua mủ cao su tăng 5 Đ/độ TSC ở cả giá thu mua tại vườn và nhà máy, đạt lần lượt 290 Đ/độ TSC và 295 Đ/độ TSC (trước đó hồi đầu tháng 8 giá chỉ đạt 285 Đ/độ TSC và 290 Đ/độ TSC). Bên cạnh đó, giá thu mua mủ tạp cũng tăng 400 đồng/kg đối với mủ chén dây khô lên 13.100 đ/kg tươi; 200 đồng mủ chén dây và mủ chén ướt, đạt lần lượt 11.500 đ/kg tươi và 9.100 đ/kg tươi…

Trước đó, trong tháng 7/2017 theo hệ thống cung cấp giá tại địa phương, giá mủ cao su nguyên liệu tại Bình Phước tăng nhẹ từ mức 270 đồng/độ lên 280 đồng/độ, giá mủ cao su dạng nước tại Đồng Nai tăng 2.700 đồng/kg, từ 10.300 đồng/kg lên 13.000 đồng/kg.

Về tình hình xuất khẩu, theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, khối lượng xuất khẩu cao su của Việt Nam trong tháng 8/2017 đạt 160 nghìn tấn với giá trị đạt 243 triệu USD. Với số liệu này, khối lượng xuất khẩu cao su 8 tháng đầu năm 2017 ước đạt 795 nghìn tấn và 1,36 tỷ USD, tăng 11,2% về khối lượng và tăng 52% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Giá cao su xuất khẩu bình quân 7 tháng đầu năm 2017 đạt 1.765,2 USD/tấn, tăng 41,2% so với cùng kỳ năm 2016. Trung Quốc, Malaysia và Hàn Quốc là 3 thị trường tiêu thụ cao su lớn nhất của Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2017, chiếm thị phần lần lượt 61,6%, 5,5% và 4,4%. Giá trị xuất khẩu cao su sang 3 thị trường này lần lượt là: 690,8 triệu USD (+76,3%), 61,3 triệu USD (+18,4%) và 49,2 triệu USD (+92,6%) so với cùng kỳ năm 2016.

Ở chiều ngược lại, khối lượng nhập khẩu cao su trong tháng 8/2017 ước đạt 54 nghìn tấn với giá trị đạt 95 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu cao su 8 tháng đầu năm 2017 lên 346 nghìn tấn và 719 triệu USD, tăng 30,9% về khối lượng và tăng 77,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Từ nay đến cuối năm 2017, xu hướng chủ đạo của thị trường cao su thế giới vẫn là xu hướng thuận lợi trong mối quan hệ cung – cầu. Kết hợp những yếu tố cơ bản và không cơ bản của thị trường, có thể nhận định rằng giá cao su khó có thể tăng cao từ nay đến cuối năm 2017, tuy nhiên sự thiếu hụt cao su trên thị trường thế giới cho đến cuối năm có thể góp phần làm cho giá cao su không thể suy giảm sâu hơn mà còn có thể tăng lên ít nhiều so với thời điểm hiện nay. Tại thị trường nội địa, giá cao su xuất khẩu sẽ bị tác động của giá thế giới, bên cạnh đó giá cũng được hỗ trợ bởi những thông tin thuận lợi trên thị trường như: Sản lượng cao su thiên nhiên trên thế giới vẫn trong xu hướng giảm; Giá cao su giảm nên người dân hạn chế lấy mủ, dẫn tới thiếu hụt nguồn cung…

HẠT ĐIỀU

“Khát” nguyên liệu cản trở xuất khẩu hạt điều

Theo báo cáo mới nhất của Bộ NN & PTNT, với ngành hàng điều, khối lượng xuất khẩu tháng 8/2017 ước đạt 35 nghìn tấn với giá trị 351 triệu USD. Lũy kế 8 tháng, xuất khẩu ước đạt 223 nghìn tấn và 2,2 tỷ USD, giảm 1,1% về lượng nhưng tăng 24,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Giá hạt điều xuất khẩu bình quân đạt 9.842,5 USD/tấn, tăng 27,2% so với cùng kỳ năm 2016. Hoa Kỳ, Hà Lan và Trung Quốc vẫn duy trì là 3 thị trường nhập khẩu điều lớn nhất của Việt Nam chiếm thị phần lần lượt là 36,7%, 15,6% và 11,7% trong tổng giá trị xuất khẩu hạt điều. Các thị trường có giá trị xuất khẩu hạt điều tăng mạnh là Nga (67,1%), Hà Lan (44,9%), Hoa Kỳ (38,2%), Israen (30%), Anh (22,1%), Thái Lan (17,9%), Úc (17%) và Trung Quốc (12,3%).

Tại thị trường trong nước, hiện nay dù điều kiện thời tiết bất lợi khiến sản lượng, năng suất giảm mạnh nhưng giá thu mua hạt điều lại đang ở mức cao kỷ lục với mức bình quân khoảng 50.000 đồng/kg hạt khô nhập kho. Tại Bình Phước, giá bán buôn hạt điều nhân loại W240 và W320 đã tăng 10.000 đồng/kg so với hồi đầu tháng 7, mức giá hiện là 265.000 đồng/kg và 255.000 đồng/kg.

 (TTGCVT tổng hợp)

 

Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (024) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (024) 39762593 
Email: ttgcvattu@yahoo.com