Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Thị trường hàng hóa nguyên liệu trong nước tháng 7/2017
Cập nhật: 31-7-2017

VÀNG

Giá vàng trong tháng 7 không tìm kiếm được lực đẩy, ngưỡng chủ yếu xoay quanh mốc trên 36 triệu đồng


Có thể nói trong tháng 7, thị trường vàng trong nước hầu như không có sự đột biến nào. Các mức giá gần như chỉ lên xuống trong những bước thay đổi ngắn và trồi sụt quanh ngưỡng trên 36 triệu đồng. Quan sát thị trường giao dịch trong suốt tháng 7, các nhà đầu tư vàng lớn hầu như đứng ngoài thị trường chỉ để lắng nghe và thăm dò các trạng thái biến động của giá vàng. Chính vì vậy các giao dịch hầu như chỉ là nhỏ lẻ, ít giao dịch lớn. Vì thế nên không khí bao trùm chủ đạo là sự kém sôi động.

Trong tuần đầu tiên của tháng, thị trường vàng trong nước liên tục thoái lui do những tác động tiêu cực từ thị trường vàng thế giới. Giá dao động ở khoảng 36,05 – 36,15 triệu đồng/lượng (chiều mua vào) và 36,21 – 36,31 triệu đồng/lượng (chiều bán ra). Theo biểu đồ giá vàng của DOJI, giá vàng miếng SJC tại doanh nghiệp này tại tuần đầu tiên đã trở nên thấp nhất kể từ đầu tháng 12 năm ngoái. Giá vàng đã lình xình ở gần đáy suốt đầu tháng 6, nên chỉ cần mức giảm vài chục nghìn đồng mỗi lượng là đã đủ để thiết lập thêm một mức đáy mới. Một số nhà kinh doanh vàng tại Hà Nội cũng nói việc USD tự do tăng giá mạnh mấy ngày đầu tháng 7 cũng giúp vàng trong nước “giữ” giá so với thế giới. Kết thúc tuần giao dịch, vào giờ mở cửa sáng 7/7, giá vàng trong nước neo ở mức 36,05– 36,29 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra), chênh lệch cao hơn giá vàng thế giới khoảng 2,7 triệu đồng mỗi lượng.

Sang tuần thứ 2, thị trường vàng vẫn nằm trong trạng thái giao dịch ảm đạm khi chưa tìm kiếm được “đòn bẩy” mới nào nên các giao dịch phát sinh chỉ mang tính cầm chừng. Giá vàng “lình xình” ở quanh mức 36,03 – 36,20 triệu đồng/lượng (chiều mua vào) và 36,25 – 36,35 triệu đồng/lượng (chiều bán ra). Tuy nhiên theo Doji, với những diễn biến tích cực từ giá vàng thế giới, đã có sự tác động nhất định đến giá vàng trong nước, mặc dù lực tăng không nhiều nhưng cũng phần nào tác động tới tâm lý của các nhà đầu tư. Kết thúc tuần giao dịch, vào thời điểm mở cửa sáng 14/7, giá vàng trong nước vẫn cao hơn giá thế giới tới 2,5 triệu đồng mỗi lượng và neo ở mức 36,11 – 36,35 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra).

Trung tuần tháng 7, giá vàng gần như đi ngang qua các phiên giao dịch, dao động ở khoảng 36,18 – 36,32 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,40 – 36,49 triệu đồng/lượng (bán ra). Theo nhận định của Doji, trước diễn biến trên của giá vàng, các nhà đầu tư tỏ ra khá thận trọng khiến giao dịch trên thị trường vàng rơi vào trạng thái ảm đạm. Kết thúc tuần giao dịch, lúc 8h30’ sáng 21/7, giá vàng trong nước neo ở mức 36,32 – 36,40 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra), chênh lệch cao hơn giá vàng thế giới khoảng 2 triệu đồng mỗi lượng (chưa tính thuế,  phí).

Tuần cuối tháng 7, giá vàng nằm trong xu hướng giảm là chủ đạo, duy chỉ có ngày 27/7 tăng mạnh theo đà của giá vàng thế giới. Giá dao động ở khoảng 36,12 – 36,21 triệu đồng/lượng (chiều mua vào) và 36,31 – 36,43 triệu đồng/lượng (chiều bán ra). Theo nhận định của một số nhà kinh doanh vàng, hiện nay giá vàng trong nước đang ổn định ở mức thấp nên lượng mua đầu cơ hay tích trữ tự nhiên trên thị trường đã xuất hiện. Nhiều nhà đầu tư vẫn kỳ vọng giá vàng sẽ tiếp tục có những tín hiệu tốt để nhà đầu tư có cơ hội gia nhập thị trường. Kết thúc tuần giao dịch, giá vàng trong nước đứng ở mức 36,12 – 36,34 triệu đồng/lượng (thời điểm 8h28’ sáng 28/7) và chênh lệch cao hơn giá thế giới khoảng 1,4 triệu đồng mỗi lượng.

ĐÔ LA

Tỷ giá trung tâm cao nhất đạt 22.449 đồng/USD, giá đô la tại ngân hàng biến động nhẹ

Theo đúng như nhận định của UBGSTCQG, trong khoảng thời gian còn lại của năm 2017, tỷ giá sẽ bị ảnh hưởng lớn nhất từ phía cầu ngoại tệ do sức ép nhập siêu tăng cao. Về dài hạn, với lộ trình tăng lãi suất thêm nhiều lần của Fed trong các năm tiếp theo, tỷ giá có thể sẽ chịu áp lực lớn. Chính vì vậy trong tháng 7, tỷ giá liên tục tăng nóng. Mức cao nhất của tỷ giá trung tâm trong tháng 7 là ở mốc 22.449 đồng/USD và mức thấp nhất là 22.429 đồng/USD. Tuy nhiên tại các ngân hàng thương mại lớn, tỷ giá giao dịch đồng USD trong tháng 7 diễn biến ổn định, giá dao động chủ yếu trong khoảng từ 22.700- 22.780 đồng/USD. Tuy nhiên,  giá mua bán USD tại thị trường chợ đen vẫn ở mức cao, khoảng: 22.825 - 22.855 đồng/USD.

THÉP

Tiêu thụ thép tăng trưởng khả quan hơn các tháng trước đó


Theo thông lệ, tháng 7 thời tiết hay bất thường, mưa nhiều làm ảnh hưởng đến tiến độ các công trình xây dựng kéo theo các sản phẩm thép tiêu thụ chậm, nhưng tháng 7 năm nay hoàn toàn ngược lại - là tháng tiêu thụ các sản phẩm thép, đặc biệt là thép xây dựng tiêu thụ mạnh nhất so với cùng kỳ và các tháng trước đó.

Theo dự tính, trong tháng 7/2017, lượng thép xây dựng tiêu thụ đạt trên 800.000 tấn - phá cách của tháng 7 các năm trước và cao hơn tháng 6/2017, chỉ đạt 7.400 ngàn tấn. Song, một tín hiệu vui với doanh nghiệp sản xuất thép bởi giá bán thép từ đầu tháng 7/2017 tới nay tăng tới 3 lần liên tiếp, mỗi lần tăng nhẹ từ 100-200 đồng/kg, vậy tổng 3 lần tăng giá cộng lại vào khoảng 400-500 đồng/kg. Cụ thể, hiện nay, giá bán thép dao động khoảng 11 triệu đồng/tấn tại nhà máy, chưa bao gồm thuế VAT.

Nói đến việc sản xuất kinh doanh của ngành thép trong năm 2017, ông Nguyễn Văn Sưa cho biết, năm 2017 ngành thép đặt mục tiêu tăng trưởng khoảng 12%, nhưng tính từ đầu năm tới giữa trung tuần tháng 6 thị trường thép tiêu thụ ì ạch. Chính vì vậy, việc đạt mục tiêu tăng trưởng 12% trong năm 2017 là khó khả thi. Tuy nhiên, may mắn, ngay trong tháng 6, giá thép thế giới tăng mạnh, từ đó đã kéo theo sản phẩm thép, đặc biệt là thép xây dựng tiêu thụ tăng đột biến.Các doanh nghiệp thép phía Nam sản xuất gần như chạy hết 100% công suất, có doanh nghiệp sản xuất còn chạy vượt quá công suất thiết kế, song hàng sản xuất ra gần như không còn tồn kho.

Chính vì những lý do trên đã giúp cho sản lượng thép xây dựng tiêu thụ cuối tháng 6 tăng đột biến, giúp cho tổng sản lượng tiêu thụ thép trong 6 tháng tăng trưởng khá với 10,3% - vượt quá sự mong đợi của ngành. Nếu tính chung toàn ngành thép, tổng tiêu thụ các sản phẩm thép (cả sản xuất và bán hàng) tăng trưởng trong 6 tháng đầu năm khoảng 11,7%. “Vậy, năm 2017 ngành thép đặt mục tiêu tăng trưởng 12% là hoàn toàn có thể đạt được - ông Sưa khẳng định”.

Về tình hình nhập khẩu thép, theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong 6 tháng đầu  năm 2017, Việt Nam đã nhập khẩu 7,91 triệu tấn sắt thép các loại, trị giá thu về đạt 4.614,95 triệu USD. So với cùng cùng kỳ năm 2016, lượng sắt thép nhập khẩu tuy có giảm đáng kể về lượng (giảm 17,3%) nhưng lại tăng mạnh về trị giá, với mức tăng 21,8%. Tính riêng trong tháng 6/2017, lượng sắt thép các loại nhập khẩu về Việt Nam là hơn 1,09 triệu tấn sắt thép các loại, trị giá thu về đạt 649,34 triệu USD, giảm 10,9% về lượng và 15,6% về trị giá so với tháng 5/2017.

Còn đến hết ngày 15/7, cả nước đã nhập khẩu 8,393 triệu tấn sắt thép, với tổng trị giá kim ngạch đạt 4,9 tỷ USD. So với cùng kỳ năm ngoái, sản lượng thép nhập khẩu giảm tới 1,853 triệu tấn, tuy nhiên, tổng trị giá kim ngạch lại tăng 782 triệu USD. Như vậy, mức giá nhập khẩu bình quân mỗi tấn thép nhập khẩu trong năm nay đạt xấp xỉ 584 USD, trong khi cùng kỳ năm ngoái mức giá trung bình chỉ là gần 402 USD. Điều này có nghĩa mức giá nhập khẩu bình quân năm nay tăng tới 45,2% so với cùng kỳ 2016.

XI MĂNG

Dự báo tình hình tiêu thụ xi măng tiếp tục khó khăn

Theo thống kê của Hiệp hội Xi măng Việt Nam (VNCA), trong tháng 6 và tháng 7/2017, lượng sản xuất và tiêu thụ xi măng giảm mạnh so với tháng 5, trong khi đó giá xi măng vẫn duy trì ổn định.

Cụ thể trong tháng 6/2017, toàn ngành đã sản xuất được 4,98 triệu tấn xi măng, giảm 10,67% so với tháng 5/2017. Tính chung trong 6 tháng đầu năm, tổng sản lượng xi măng của toàn ngành đạt 31,02 triệu tấn; so với cùng kỳ năm 2016, giảm 5,72%.

Về tình hình tiêu thụ, trong tháng 6/2017, lượng tiêu thụ xi măng và clinker của toàn ngành đạt 5,89 triệu tấn, giảm 15,2% so với tháng 5/2017 và tăng 4% so với cùng kỳ năm 2016. 6 tháng đầu năm, tổng lượng tiêu thụ xi măng và clinker của toàn ngành đạt 38,25 triệu tấn, tăng 4% so với cùng kỳ năm 2016.

Về tình hình xuất khẩu, 6 tháng đầu năm 2017, Việt Nam đã xuất khẩu được 9,5 triệu tấn xi măng và clinker, trị giá xuất khẩu thu về đạt 330,8 triệu USD; tăng cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2016, với mức tăng tương ứng 19,9% và 12,4%. Trong đó, lượng xi măng xuất khẩu trong 6 tháng đạt 2,4 triệu tấn và lượng clinker xuất khẩu đạt 7,1 triệu tấn.

Hiện nay, tổng công suất ngành xi măng đã lên tới 86 triệu tấn, trong khi khả năng tiêu thụ của thị trường nội địa cả năm 2017 dự kiến chỉ khoảng 60 triệu tấn. Như vậy, 26 triệu tấn xi măng còn lại phải "cậy nhờ" tiêu thụ qua xuất khẩu (XK).

Hướng đi cho sản lượng xi măng dư thừa chính là con đường XK. Từ đầu năm đến nay, XK xi măng duy trì được mức tăng trưởng dương về sản lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2016, nhưng so với năm 2014, XK đang có chiều hướng đi xuống.

VNCA dự báo, tiêu thụ xi măng trong nước năm 2020 vào khoảng 82 triệu tấn, nghĩa là sẽ dư thừa 36-47 triệu tấn xi măng. Còn theo dự báo trong quy hoạch, với khả năng tiêu thụ trong nước năm 2020 là 93 triệu tấn thì sẽ dư thừa khoảng 25-36 triệu tấn xi măng.

GAS

Tháng 7/2017 giá gas tiếp tục giảm 10.000 đồng/bình

Công ty TNHH MTV Dầu khí Sài Gòn (Saigon Petro) cho biết kể từ ngày 1-7 giá gas Saigon Petro giảm 10.000 đồng/bình 12kg. Như vậy, giá bán lẻ đến người tiêu dùng là 278.000 đồng/bình 12 kg. Các công ty Gas Pacific Petro, Citi Petro, Elf gas… cũng giảm gần 10.000 đồng/bình 12kg. Giá bán lẻ đến người tiêu dùng không vượt quá 286.000 đồng.

Các công ty gas cho biết do giá gas thế giới tháng 7 công bố 355 USD/tấn, giảm 32,5 USD/tấn so với tháng 6. Vì vậy các công ty điều chỉnh giá giảm theo. Như vậy, đây là lần thứ tư trong năm 2017 giá gas giảm. Với tổng mức giảm 62.000 đồng/bình 12kg.

Về tình hình xuất nhập khẩu, trong tháng 6/2017, Việt Nam đã nhập khẩu 143,2 nghìn tấn khí hóa lỏng, trị giá 60,9 triệu USD, tăng 40,7% về lượng và tăng 35,6% về trị giá so với tháng 5 – đây là tháng có mức tăng trưởng sau khi suy giảm hai tháng liên tiếp – nâng lượng khí nhập khẩu nửa đầu năm 2017 lên 661,5 nghìn tấn, trị giá 326,7 triệu USD, tăng 9,01% về lượng và tăng 35,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2016 theo số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ Việt Nam.

Việt Nam nhập khẩu khí chủ yếu từ các thị trường như Trung Quốc, UAE, Saudi Arabia, Indonesia và Malaysia. Là thị trường có vị trí địa lý thuận lợi, Việt Nam nhập khẩu khí chủ yếu từ thị trường Trung Quốc, chiếm 39,8% tổng lượng khí, đạt 263,8 nghìn tấn, trị giá 138,2 triệu USD, tăng 22,17% về lượng và tăng 48,02% về trị giá. Thị trường cung cấp khí chủ lực đứng thứ hai cho Việt Nam là UAE, đạt 206,2 nghìn tấn, trị giá 93,2 triệu USD, tăng 87,03% về lượng và tăng 131,74% về trị giá so với cùng kỳ - đây cũng là thị trường có tốc độ kim ngạch tăng trưởng mạnh nhất. Kế đến là thị trường Saudi Arabia, tuy nhiên, tốc độ nhập khẩu khí từ thị trường này so với cùng kỳ giảm cả lượng và trị giá, giảm lần lượt 51,41% và 47,26%, tương ứng với 44,8 nghìn tấn, trị giá 18 triệu USD…

XĂNG DẦU

Trong tháng 7, giá xăng có một lần giảm và một lần tăng

Trong kỳ điều chỉnh giá xăng dầu chiều 5/7, liên Bộ Công Thương - Tài chính đã hạ giá xăng RON 92 và E5 lần lượt là 435 đồng và 431 đồng mỗi lít. Như vậy, giá xăng RON 92 đã giảm xuống mức thấp nhất 10 tháng trở lại đây, kể từ kỳ điều chỉnh ngày 5/9/2016. Theo đó, mỗi lít xăng RON 92 và E5 bán ra thị trường từ 17 giờ chiều 5/7 sẽ không quá 16.069 đồng và 15.918 đồng. Đây là lần giảm giá xăng thứ hai liên tiếp với mức giảm tổng cộng gần 1.300 đồng/lít.

Trong khi giá xăng giảm mạnh, giá các loại dầu đồng loạt tăng trong kỳ điều chỉnh này. Giá dầu diesel tăng 122 đồng lên 11.665 đồng/lít, giá dầu hỏa tăng 285 đồng lên 11.665 đồng/lít. Còn giá mỗi lít dầu mazút tăng 110 đồng lên 10.776 đồng.

Giá bình quân mỗi lít thành phẩm xăng dầu trong 15 ngày trước kỳ điều chỉnh ở mức 55,959 USD/thùng, giảm so với mức 58,117 USD/thùng trong kỳ điều chỉnh trước. 

Trong lần điều chỉnh thứ 2, vào 15h chiều ngày 20/7, Liên Bộ Tài chính – Công thương đã điều chỉnh mặt hàng xăng RON 92 tăng 357 đồng/lít; Xăng E5 tăng 333 đồng/lít. Ngoài ra, dầu diesel 0,05S cũng tăng 372 đồng/lít; Dầu hỏa tăng 271 đồng/lít và Dầu mazút 3,5S tăng 57 đồng/kg. Cũng trong lần điều chỉnh này, mức trích lập Quỹ bình ổn áp dụng với xăng và dầu tiếp tục giữ nguyên so với kỳ công bố ngày 5/7. Như vậy, giá xăng RON 92 sẽ có mức trần mới là 16.426 đồng/lít; Xăng E5 cao nhất là 16.251 đồng/lít; Dầu diesel 0,05S có mức trần là 13.329 đồng/lít; Dầu hỏa cao nhất là 11.936 đồng/lít và dầu mazút 3,5S có mức trần là 10.833 đồng/kg.

Tại kỳ điều chỉnh này, Bộ Công Thương cho biết bình quân giá thành phẩm xăng dầu thế giới trong 15 ngày trước kỳ điều chỉnh ngày 20-7 đối với xăng RON92 là 57,856 USD/thùng, dầu diesel là 59,918 USD/thùng, dầu hỏa là 58,568 USD/thùng và dầu mazut 180CST 3.5S là 295,513 USD/tấn.

Về thị trường nhập khẩu, theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, sản lượng nhập khẩu xăng dầu các loại trong 6 tháng đầu năm ước đạt 6,4 triệu tấn. Tuy giảm nhẹ về lượng nhưng giá trị nhập khẩu mặt hàng này lại tăng hơn 30% so với cùng kỳ năm ngoái, ước tính khoảng 75.350 tỷ đồng. Singapore tiếp tục là thị trường cung cấp xăng dầu lớn nhất với 42% thị phần. Giá trị nhập khẩu mặt hàng này trong nửa đầu năm nay đạt hơn 29.700 tỷ đồng, chiếm 39% tổng kim ngạch và tăng xấp xỉ 44% so với cùng kỳ năm ngoái.  

Nguyên nhân khiến nhập khẩu xăng dầu tăng mạnh trong thời gian gần đây là do cân đối cung cầu xăng dầu hiện tại của Việt Nam mỗi năm thiếu hụt khoảng 0,8 triệu tấn xăng và 1,8 triệu tấn dầu DO. Dự báo trong 5 năm tới, nhu cầu tiêu thụ xăng dầu trong nước có thể tăng lên mức 15 triệu tấn. Trong khi đó, cùng với sự ra đời của Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn vào năm sau thì tổng sản lượng xăng dầu thành phẩm cũng chỉ đáp ứng khoảng 80%.

Về xuất khẩu dầu thô, theo TCHQ Việt Nam, tháng 6/2017 Việt Nam đã xuất khẩu 967,8 nghìn tấn dầu thô, trị giá 339,8 triệu USD, tăng 41,4% về lượng và tăng 24,7% về trị giá so với tháng 5 – đây là tháng thứ ba xuất khẩu dầu thô tăng trưởng liên tiếp – nâng lượng dầu thô xuất khẩu tính từ đầu năm đến hết tháng 6/2017 lên 3,8 triệu tấn, trị giá 1,5 tỷ USD, tăng 7,8% về lượng và tăng 36,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2016.

Ô TÔ

Ô tô liên tục xuống giá

Trong tháng 7, nhiều hãng ô tô tiếp tục tung ra các chính sách ưu đãi, giảm giá xe. Trong đó, nhiều mẫu ô tô giá giảm sâu, có xe như Nhật Mitsubishi giảm tới gần 200 triệu đồng. Cụ thể, hãng xe Nhật Mitshubishi đã có động thái giảm giá rất mạnh cho mẫu Mitsubishi Pajero 3.0, với 164 triệu đồng. Giá bán hiện tại của Mitsubishi Pajero 3.0 tại các đại lý giảm từ 2,12 tỷ đồng xuống còn 1,955 tỷ đồng. Việc giảm tới gần 200 triệu đồng ngay một lúc cho một mẫu xe được coi là bước đi khá liều lĩnh của nhà sản xuất Nhật Bản. Bởi trên thị trường ô tô trong nước, hiếm có một mẫu ô tô nào giảm mạnh như vậy.

Sau khi liên tục đại hạ giá trong thời gian dài, các doanh nghiệp ô tô cho biết từ nay đến cuối năm sẽ không giảm giá nữa. Giá xe đã chạm tới đáy, không có điều kiện giảm hơn. Việc các hãng xe đua nhau giảm giá, ưu đãi khiến cho giá ô tô ở Việt Nam hiện nay trở nên hấp dẫn hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, khi thời điểm thuế nhập khẩu ô tô trong khu vực giảm xuống 0% đang đến gần, nhiều người vẫn ngóng chờ một đợt giảm giá sâu nữa, để có thể biến giấc mơ ô tô giá rẻ tại Việt Nam thành hiện thực.

Còn theo báo cáo của Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), doanh số bán hàng của toàn thị trường trong nửa đầu năm 2017 đạt 134.268 xe.

Tháng 6, doanh số bán hàng của toàn thị trường đạt 24.365 xe, tăng 5% so với tháng 5/2017 và giảm 0,2% so với tháng 6/2016. Trong đó, bao gồm 14.179 xe du lịch; 9.137 xe thương mại và 1.049 xe chuyên dụng. Doanh số xe du lịch tăng 10%; xe thương mại tăng 1,5% và xe chuyên dụng giảm 20% so với tháng trước.

Sản lượng của xe lắp ráp trong nước đạt 17.280 xe, tăng 4% so với tháng 5 và số lượng xe nhập khẩu nguyên chiếc là 7.085 xe, tăng 8% so với tháng trước.

DỆT MAY

Tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may 6 tháng đầu năm tăng mạnh


Ngày 10-7, thông tin từ Bộ Công thương cho biết, tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may 6 tháng đầu năm đạt 14,58 tỷ USD, tăng 11,3% so với cùng kỳ năm 2016, cao hơn nhiều so với mức tăng 6,1% của cùng kỳ năm 2016.  

Trong đó, dẫn đầu là xuất khẩu xơ, sợi đạt 1,69 tỷ USD, tăng 27,4% so với cùng kỳ. Kế đến là xuất khẩu hàng may mặc đạt 11,84 tỷ USD, tăng 9,1%, cao hơn mức tăng 6,4% của cùng kỳ năm 2016. Nếu so sánh với những nước xuất khẩu dệt may trên thế giới như Trung Quốc, Bangladesh, Indonesia, Ấn Độ thì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu dệt may Việt Nam đã đạt được kết quả vượt trội.

Tuy nhiên, theo ông Lê Tiến Trường, Tổng giám đốc Tập đoàn Dệt may Việt Nam, tăng trưởng ngành dệt may Việt Nam vẫn tiềm ẩn những rủi ro do tình hình kinh tế thế giới vẫn bất ổn. Tại các thị trường truyền thống, nhu cầu nhập khẩu hàng dệt may giảm nhẹ. Cụ thể, nhu cầu nhập khẩu thị trường Mỹ giảm gần 1%, thị trường châu Âu giảm hơn 2%, Nhật Bản giảm 0,6%. 

Ngoài ra, những ảnh hưởng tiêu cực từ chính sách bảo hộ mậu dịch của chính quyền Mỹ cộng với những điều chỉnh tăng lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), đặc biệt là khả năng các quốc gia cạnh tranh xuất khẩu với Việt Nam sẽ phá giá đồng nội tệ để hỗ trợ xuất khẩu trong 6 tháng cuối năm 2017 sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến tốc độ tăng trưởng toàn ngành dệt may Việt Nam. Các chuyên gia kinh tế cho biết, dự báo xuất khẩu dệt may 6 tháng cuối năm sẽ không có nhiều đột biến, ước tính năm 2017, kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam đạt 31,3 tỷ USD, tăng 10,9% so với năm 2016.
 

THỦY SẢN

Thị trường cá tra giống "hạ nhiệt" trong khi giá tôm lại tăng

Theo thông tin từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, giá cá tra nguyên liệu tại Đồng bằng sông Cửu Long trong tháng Bảy nhìn chung ổn định. Nguồn cung cá đạt kích cỡ bán hiện ở mức thấp, thị trường tiếp tục chững lại cả về giá và lượng thu mua. 

Tại Vĩnh Long, An Giang, Cần Thơ... giá cá tra thịt trắng nguyên liệu dao động từ 21.500 - 23.000 đồng/kg. 

Đại diện Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũng nhận định, mặc dù giá cá tra nguyên liệu từ đầu năm đến nay khá cao nhưng do lo ngại giá cả và đầu ra không ổn định nên tiến độ thả nuôi và thu hoạch còn thấp so thời điểm cùng kỳ.

Cụ thể, diện tích cá tra từ đầu năm đến nay của các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long ước đạt 3.921,6ha, giảm 5,4% so với cùng kỳ. Sản lượng thu hoạch ước đạt 729.700 tấn, tăng 1,2% với cùng kỳ.

“Tỉnh có diện tích nuôi lớn nhất là Đồng Tháp (1.688,31ha) thu hoạch đạt 250.900 tấn vẫn có sự tăng trưởng tốt, sản lượng tăng 14,2% so với cùng kỳ để bù cho sự giảm sút của các tỉnh như An Giang có sản lượng 194.400 tấn (giảm 3,9%), Cần Thơ có sản lượng 80.700 tấn (giảm 4,6%), Bến Tre có sản lượng 104.600 tấn (giảm 12,6%),” đại diện Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho hay.

Bên cạnh đó, thị trường cá tra giống cũng "hạ nhiệt" sau thời gian duy trì ở mức cao, đến nay cá tra giống đã giảm 5.000 – 10.000 đồng/kg so với đầu tháng 5/2017 (giá cá giống cỡ từ 1,5 – 2,5 cm giao động từ 28.000 – 50.000 đồng/kg).

Trong khi đó, giá tôm nguyên liệu trong tháng diễn biến ổn định đến tăng nhẹ đối với cả tôm sú và tôm thẻ chân trắng do nguồn cung không còn nhiều như tháng trước.

Tại Bạc Liêu, giá tôm sú ướp đá cỡ 30 con/kg ở mức 180.000 đồng/kg, cỡ 40 con/kg tăng 4.000 đồng/kg so với tháng trước lên 148.000 đồng/kg; giá tôm thẻ ướp đá cỡ 50 con/kg và 60 con/kg ổn định ở các mức tương ứng 128.000 đồng/kg và 118.000 đồng/kg.

Tại Sóc Trăng, giá tôm thẻ tháng qua tăng nhẹ ở hầu hết các cỡ: cỡ 50 con/kg giá 137.000đồng/kg (tăng 1.000 đồng/kg); cỡ 60 con/kg giá 131.000 đồng/kg (tăng 4.000 đồng/kg); cỡ 80 con/kg giá 126.000 đồng/kg (tăng 4.000 đồng/kg).

Diện tích nuôi và sản lượng tôm nước lợ 7 tháng đầu năm tiếp tục giữ xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước. Đối với tôm sú: diện tích ước đạt 594.000ha (tăng 2,4%), sản lượng đạt 135.300 tấn (tăng 13,2%); tôm thẻ chân trắng: diện tích ước đạt 66.900ha (tăng 17,8%) với sản lượng 145.500 tấn.

Đại diện Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũng đánh giá, nhìn chung thời tiết năm nay thuận lợi hơn năm trước nên diện tích nuôi tôm công nghiệp 7 tháng qua đã có xu hướng tăng trở lại. Các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, tôm nuôi vẫn phát triển tốt và giá tôm nguyên liệu duy trì ổn định. Các tỉnh có diện tích và sản lượng tôm sú và tôm thẻ tăng khá là Trà Vinh, Kiên Giang, Sóc Trăng.

"Tuy nhiên, riêng trong tháng Bảy, mưa kéo dài ở miền Bắc đã ảnh hưởng đến môi trường nuôi khiến tôm bị sốc và đã xuất hiện một số bệnh như đốm trắng, hoại tử gan tụy cấp ở một số tỉnh," đại diện Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cung cấp thêm.

Trên bình diện xuất khẩu, Bộ NN và PTNT cho biết, giá trị xuất khẩu thủy sản 7 tháng năm 2017 ước đạt 4,3 tỷ USD, tăng 17,5% so với cùng kỳ năm 2016. Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc là 4 thị trường nhập khẩu hàng đầu của thủy sản Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2017, chiếm 55,4% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản. Các thị trường có giá trị xuất khẩu thủy sản tăng mạnh là Trung Quốc (47,9%), Nhật Bản (32,5%), Hàn Quốc (27,7%), Anh (25,3%), Hà Lan (19,5%) và Canada (18,1%). 

Về nhập khẩu, ước giá trị nhập khẩu mặt hàng thủy sản tháng 7/2017 đạt 112 triệu USD, đưa giá trị nhập khẩu thủy sản 7 tháng năm 2017 đạt 761 triệu USD, tăng 30,1% so với cùng kỳ năm 2016. 
 

LÚA GẠO

Xuất khẩu gạo tăng cả về khối lượng và giá trị trong tháng 7

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, xuất khẩu gạo của cả nước trong 7 tháng đầu năm 2017 ước đạt 3,3 triệu tấn và 1,5 tỷ USD, tăng 15,7% về khối lượng và tăng 13,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Giá gạo xuất khẩu bình quân 6 tháng năm 2017 đạt 444,6 USD/tấn, giảm 1,4% so với cùng kỳ năm 2016.

Tính đến ngày 20/7, các tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã thu hoạch khoảng 650.000 ha lúa Hè Thu trong tổng số 1,64 triệu ha diện tích gieo trồng, với năng suất khoảng 5,9 tấn/ha. Đồng thời, các tỉnh, thành này cũng xuống xuống giống khoảng 360.000 ha gieo trồng trong vụ Thu Đông.

Nhu cầu tăng và nguồn cung hạn chế trong quý ​2 là nguyên nhân giúp xuất khẩu gạo Việt Nam có được con số tăng trưởng dương sau một thời gian dài thị trường rơi vào trầm lắng. Dù con số tăng trưởng chưa cao, tuy nhiên xuất khẩu gạo 6 tháng cũng có một số dấu hiệu tích cực.

Đáng chú ý, xuất khẩu gạo Japonica (một loại gạo có nguồn gốc Nhật Bản) tăng mạnh nhất, gần 300% so với cùng kỳ năm trước. Đây là một trong 5 loại gạo chính trong cơ cấu gạo xuất khẩu hiện nay của Việt Nam. Trong hai năm gần đây, xuất khẩu loại gạo này luôn duy trì mức tăng trưởng ở 3 con số, thị phần xuất khẩu cũng ngày càng tăng lên. Nếu như cuối năm 2015, xuất khẩu loại gạo này chỉ chiếm khoảng 1% tổng lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam thì đến nay con số này đã là 4,57%.

Ngoài gạo Japonica, xuất khẩu gạo trắng cao cấp, nếp và gạo tấm cũng tăng khá mạnh, lần lượt tăng 34%, 51% và 127%. Trong cơ cấu gạo xuất khẩu của Việt Nam 6 tháng đầu năm, gạo thơm vẫn chiếm thị phần lớn nhất, chiếm 28,8%, theo sau đó là gạo trắng cao cấp chiếm 28,6%…

Trong tháng 7/2017, thị trường lúa gạo Việt Nam đã đón nhận tin vui đó là việc doanh nghiệp Việt trúng thầu cung cấp 175.000 tấn gạo cho Philippines vào ngày 25/7. Thông tin này được ông Huỳnh Thế Năng, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) xác nhận.

Đánh giá về tác động của đợt trúng thầu gạo sang Philippines lần này đối với thị trường, ông Huỳnh Thế Năng, Chủ tịch VFA cho rằng mặc dù khối lượng gạo xuất khẩu không nhiều nhưng cũng góp phần thúc đẩy giá gạo trong nước ổn định trong thời gian tới.

Ngoài phiếu xuất khẩu gạo sang Philippines, các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu gạo trong nước cũng đang chuẩn bị nguồn hàng để giao hàng theo các phiếu tập trung đã ký trước đó cho Cuba, Bangladesh, Malaysia… và một số hợp đồng thương mại. Do vậy, từ nay đến hết quý 3/2017, ngành gạo Việt Nam không phải loay hoay với việc giải quyết đầu ra cho nông dân.

CÀ PHÊ

Xuất khẩu cà phê giảm về lượng nhưng tăng về giá trị

Theo báo cáo mới nhất của Bộ NNPTNT, xuất khẩu cà phê tháng 7 năm 2017 của nước ta ước đạt 106 nghìn tấn với giá trị đạt 242 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu cà phê 7 tháng đầu năm 2017 ước đạt 937 nghìn tấn và 2,12 tỷ USD, giảm 16,4% về khối lượng nhưng tăng 7,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Giá cà phê xuất khẩu bình quân 6 tháng đầu năm 2017 đạt 2.262,8 USD/tấn, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm 2016. Đức và Hoa Kỳ tiếp tục là hai thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2017 với thị phần lần lượt là 16% và 14,3%.

Các thị trường có giá trị xuất khẩu cà phê trong 6 tháng đầu năm 2017 tăng mạnh là: Bỉ (30,7%), Angieri (24,6%), Hoa Kỳ (20,9%), Italia (17,8%), Tây Ban Nha (16,6%) và Đức (14,2%).

Theo nhận định của Bộ NNPTNT, dự báo giá cà phê nội địa về dài hạn sẽ vẫn theo chiều hướng tăng, do lượng hàng xuất khẩu của Việt Nam trong 3 tháng còn lại của niên vụ 2016/2017 không còn nhiều bởi nguồn cung thắt chặt và tồn kho gối vụ dự kiến rất thấp.

Tuy nhiên, giao dịch cà phê tại thị trường nội địa sẽ tiếp tục trầm lắng do mức giá chưa đạt kỳ vọng. Hầu hết thương nhân nội địa cũng chưa muốn bán hàng vào lúc này khi cho rằng các yếu tố cung cầu đang hỗ trợ giá

HỒ TIÊU

Giá hồ tiêu tiếp tục tăng nhẹ trong tháng 7

Giá thu mua hồ tiêu nguyên liệu ngày 26.7 tại các tỉnh phía Nam đã tiếp tục tăng nhẹ, thêm 1.000 – 2.000 đồng/kg so với ngày trước đó. Theo đó, giá hồ tiêu tại nhiều nơi đã giao dịch ở mức 80.000 đồng/kg, thậm chí giá tại Bà Rịa – Vũng Tàu đã lên tới 82.000 đồng/kg. Giá thấp nhất là tại Gia Lai và Đồng Nai, cùng đạt mức 78.000 đồng/kg, tăng thêm 2.000 đồng/kg so với hồi đầu tháng 7. 

Cũng theo báo cáo của Bộ NNPTNT, khối lượng tiêu xuất khẩu tháng 7 năm 2017 ước đạt 19 nghìn tấn, với giá trị đạt 87 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu tiêu 7 tháng đầu năm 2017 ước đạt 145 nghìn tấn và 800 triệu USD, tăng 20,4% về khối lượng nhưng giảm 18,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Giá tiêu xuất khẩu bình quân 6 tháng đầu năm 2017 đạt 5.662,6 USD/tấn, giảm 29,9% so với cùng kỳ năm 2016. Các thị trường xuất khẩu tiêu lớn nhất của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2017 là Hoa Kỳ, Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, Ấn Độ , Pakistan và Đức với 39% thị phần.

Theo lý giải từ Bộ NNPTNT, nguồn cung lớn nhưng nhu cầu thấp là nguyên nhân khiến giá hồ tiêu rơi vào thời kỳ chững giá kéo dài suốt cả tháng qua.

Còn theo Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA), hiện nay sản lượng hồ tiêu Việt Nam, cũng như lượng hồ tiêu xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam chiếm 60% nhu cầu của khách hàng khắp thế giới. Sản phẩm tiêu sạch của Việt Nam vẫn đang là nguồn hàng được ưa chuộng của các khách hàng khó tính như thị trường Mỹ, Đức, châu Âu, Nhật Bản,…

Do đó, theo VPA, ngành hồ tiêu không lo thiếu khách hàng tiêu thụ mà phải tập trung vào chất lượng tốt để chủ động hơn trong giao dịch hợp đồng. Hiện nay, hồ tiêu Việt Nam còn đứng sau hồ tiêu Ấn Độ về chất lượng và thương hiệu nhưng có thể cạnh tranh với hồ tiêu Indonesia và Malaysia, sắp tới là sự cạnh canh gay gắt với tiêu sạch từ Campuchia. Do đó, VPA nhấn mạnh việc cần làm là không phải tăng diện tích mà phải tăng chất lượng.

CAO SU

Tháng 7, Việt Nam xuất khẩu 154 nghìn tấn cao su, giá trị 230 triệu USD

Theo hệ thống cung cấp giá tại địa phương, giá mủ cao su nguyên liệu tại Bình Phước tăng nhẹ trong tháng 7/2017, từ mức 270 đồng/độ lên 280 đồng/độ. Giá mủ cao su dạng nước tại Đồng Nai vẫn duy trì mức 13.000 đ/kg.

Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, khối lượng xuất khẩu cao su tháng 7/2017 ước đạt 154 nghìn tấn với giá trị đạt 230 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu cao su 7 tháng đầu năm 2017 ước đạt 639 nghìn tấn và 1,13 tỷ USD, tăng 12,8% về khối lượng và tăng 59,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Giá cao su xuất khẩu bình quân 6 tháng đầu năm 2017 đạt 1.850,9 USD/tấn, tăng 49% so với cùng kỳ năm 2016.

Trung Quốc, Malaysia và Hàn Quốc là 3 thị trường tiêu thụ cao su lớn nhất của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2017, chiếm thị phần lần lượt 60,3%, 5,4% và 4,8%. Giá trị xuất khẩu cao su sang 3 thị trường này lần lượt là: 540,3 triệu USD (+82,7%), 48,4 triệu USD (+11,4%) và 42,8 triệu USD (gấp 2,2 lần) so với cùng kỳ năm 2016.

Ước khối lượng nhập khẩu cao su trong tháng 7/2017 đạt 47 nghìn tấn với giá trị đạt 87 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu cao su 7 tháng đầu năm 2017 lên 293 nghìn tấn và 627 triệu USD, tăng 27,8% về khối lượng và tăng 79,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Bốn thị trường nhập khẩu cao su chủ yếu trong 6 tháng đầu năm 2017 là Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan và Campuchia, chiếm 55,6% thị phần. Trong 6 tháng đầu năm 2017, giá trị cao su ở tất cả các thị trường nhập khẩu đều tăng. Trong đó, thị trường có giá trị tăng trưởng mạnh nhất so với cùng kỳ năm 2016 là thị trường Indonesia (tăng 2,7 lần).

Bộ NNPTNT phân tích, theo chu kỳ thông thường, xuất khẩu cao su trong giai đoạn sau của năm sẽ tăng mạnh so với giai đoạn đầu năm do đây là thời điểm thu hoạch chính vụ mủ cao su. Tuy nhiên, xuất khẩu cao su Việt Nam trong nửa cuối năm nay có thể khó khăn hơn do nhập khẩu cao su của Trung Quốc tăng mạnh trong khi tiêu thụ tăng chậm dẫn đến tồn kho cao su của Trung Quốc đang ở mức cao, điều này có thể ảnh hưởng tới nhu cầu nhập khẩu cao su của thị trường này trong thời gian tới.

(TTGCVT tổng hợp)

Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (024) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (024) 39762593 
Email: ttgcvattu@yahoo.com