Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Thị trường hàng hóa nguyên liệu trong nước tháng 6/2017
Cập nhật: 30-6-2017
VÀNG

Giá vàng tháng 6 không có nhiều biến động, giá giữ vững ở mức trên 36 triệu đồng một lượng


Nhìn lại 30 ngày của tháng 6/2017, thị trường vàng trong nước đã không thể khiến cho các nhà đầu tư có được những cơ hội đem lại lợi nhuận lớn . Mặc dù trên thế giới, giá vàng luôn “dập dình” biến động, tuy nhiên, giá vàng trong nước lại tỏ ra bàng quan và thờ ơ trước những thông tin gây sốt. Xu thế giữ vững giá mua bán hoặc chỉ lên xuống chút ít đã khiến cho thị trường vàng rơi vào trạng thái “im lìm”. Điều này đã khiến cho không ít các nhà đầu tư thất vọng và không còn muốn quan tâm đến kim loại quý này.

Trong tuần đầu tháng 6, giá vàng tăng giảm qua các ngày theo biên độ hẹp, dao động ở khoảng 36,34 – 36,42 triệu đồng/lượng (chiều mua vào) và 36,50 – 36,59 triệu đồng/lượng (chiều bán ra). Nhìn chung bầu không khí giao dịch theo các doanh nghiệp kinh doanh vàng bạc đều ở trong trạng thái trầm lắng. Phiên mở cửa lúc 8h30 sáng 8/6, giá vàng miếng trong nước được Tập Đoàn Vàng bạc đá quý DOJI niêm yết ở mức: 36,42 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,50 triệu đồng/lượng (bán ra), giảm 20 ngàn đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với chiều hôm trước đó.

Bước sang tuần thứ 2, giá vàng vẫn giữ xu hướng giá “đi ngang” là chủ đạo. Các bước điều chỉnh giá qua các ngày giao dịch đều ở mức nhỏ, dao động ở khoảng 36,22 – 36,35 triệu đồng/lượng (chiều mua vào) và 36,35 – 36,47 triệu đồng/lượng (chiều bán ra). Theo ghi nhận của Doji, đa số các giao dịch vẫn là nhỏ lẻ và ít có giao dịch lớn. Kết thúc tuần giao dịch, giá vàng SJC tại tập đoàn Doji thời điểm mở cửa sáng 16/6 neo ở mức 36,27 – 36,35 triệu đồng/lượng. Chênh lệch giữa hai thị trường trong nước và quốc tế vào khoảng 1,9 triệu đồng mỗi lượng.

Trung tuần tháng 6, giá vàng biến động nhẹ do thị trường quốc tế không có những lực đẩy để kéo giá vàng trong nước đi lên. Mức giá mua vào/bán ra cao nhất trong tuần niêm yết tại 36,19 – 36,41 triệu đồng/lượng, trong khi mức giá thấp nhất quanh mốc 36,10 – 36,32 triệu đồng/lượng. Tính trung bình trong tuần mỗi lượng vàng điều chỉnh tăng , giảm khoảng 100 nghìn đồng/lượng. Theo Tập đoàn Doji, giá diễn biến quanh mức 36,3 - 36,4 triệu đồng/lượng được cho là chưa chạm đến ngưỡng giá mong đợi từ phía nhà đầu tư. Cũng bởi vậy, ở hầu hết các phiên trong tuần hình ảnh giao dịch tẻ nhạt, dừng lại ở mức độ thăm dò được thể hiện khá rõ nét. Kết thúc tuần, giá vàng trong nước tăng bất thành sau phiên lên giá của thế giới và neo ở mức 36,17 – 36,39 triệu đồng/lượng (mở cửa sáng 23/6). Chênh lệch cao hơn giá vàng thế giới khoảng 1,7 triệu đồng mỗi lượng (chưa kể thuế và phí). 

Tuần cuối cùng của tháng 6, giá vàng có xu hướng tăng nhẹ. Vào thời điểm mở cửa sáng ngày 29/6, giá vàng neo ở mức 36,19 triệu đồng/lượng (chiều mua vào) và 36,41 triệu đồng/lượng (chiều bán ra). Vàng thế giới quy đổi theo giá USD ngân hàng có giá 34,6 triệu đồng/lượng, chưa tính thuế và phí, thấp hơn giá vàng trong nước gần 1,8 triệu đồng/lượng.

ĐÔ LA

Tỷ giá trung tâm liên tục tăng cao, giá USD tại các NHTM biến động nhẹ


Không giống như thị trường vàng, trong tháng 6/2017, tỷ giá giao dịch đồng bạc xanh liên tục tăng phiên sau cao hơn phiên trước.Trong tháng 6, tỷ giá trung tâm đạt mức cao nhất 22.436 đồng/USD (vào ngày 27/6).  Điều này theo nhiều chuyên gia là một hiện tượng không có gì đáng ngạc nhiên, bởi trước sức ép của các thông tin tài chính thế giới, và đặc biệt là đứng trước cán cân nhập siêu của Việt Nam tăng cao, thì việc đồng USD liên tục tăng càng cho thấy đồng bạc xanh luôn phản ánh các biến động của thị trường tài chính một cách rõ ràng nhất.

Trong tuần đầu tháng 6, tỷ giá trung tâm của NHNN tăng nhẹ, dao động ở khoảng 22.401 – 22.406 đồng/USD. Tuy nhiên tại các NHTM lớn, giá giao dịch đồng USD có xu hướng giảm nhẹ. Vào sáng 8/6, tại ngân hàng Vietcombank tỷ giá USD/VND được niêm yết tại mức 22.655 đồng/USD chiều mua vào và 22.725 đồng/USD chiều bán ra, giảm tới 25 đồng so với ngày hôm trước đó. Tại ngân hàng Vietinbank tỷ giá USD/VND niêm yết tại mức 22.660 đồng/USD chiều mua vào và 22.740 đồng/USD chiều bán ra, giảm nhẹ 5 đồng. Theo đánh giá của phó Thống đốc NHNN : “Đến nay, tỷ giá trung tâm đã tăng khoảng hơn 1% so với 2016; nhu cầu ngoại tệ được đáp ứng thông suốt”.

Bước sang  tuần 2, tỷ giá trung tâm có 3 phiên đầu tuần đứng ở mức 22.408 đồng/USD và 1 phiên giảm còn 22.405 đồng/USD trước khi tăng trở lại vào phiên giao dịch ngày 16/6 với mức 22.410 đồng/USD. Diễn biến này của tỷ giá đã áp sát diễn biến theo xu hướng đồng USD trên thị trường quốc tế tăng mạnh trở lại bất chấp một loạt các tín hiệu u ám phát ra từ Nhà Trắng và cả từ nền kinh tế Mỹ. Tuy nhiên tại các NHTM lớn, giá giao dịch đồng USD không có nhiều biến động. Thời điểm mở cửa ngày 16/6, tại Vietcombank, giá mua bán đôla Mỹ ở quanh mức 22.650 – 22.720 đồng mỗi USD.

Tuần 3 của tháng 6, tỷ giá trung tâm liên tục tăng mạnh và chỉ vào phiên cuối tuần ngày 23/6 giá mới có xu hướng giảm nhẹ, dao động ở khoảng 22.417 – 22.433 đồng/USD. Tại các NHTM lớn, giá giao dịch đồng bạc xanh cũng biến động khá mạnh qua mỗi phiên. Duy nhất trong tuần chỉ có ngày 23/6 tỷ giá giao dịch ổn định so với ngày trước đó. Cụ thể, năm ngân hàng Vietcombank, Vietinbank, BIDV, ACB và DongABank đang cùng mua bán USD ở mức 22.690-22.760 đồng, không điều chỉnh so với giá khảo sát sáng hôm trước đó.

Tính từ đầu tháng 6, tỷ giá đồng đô la Mỹ đã tăng 20-35 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra. Đến thời điểm sáng 29/6, tỷ giá có xu hướng giảm nhẹ và ở mức 22.432 đồng/USD. Đa số các ngân hàng thương mại giữ tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ không đổi so với cuối giờ phiên liền trước và phổ biến ở mức 22.705 đồng (mua) và 22.775 đồng (bán). Giá USD trên thị trường chợ đen ở khoảng: 22.715 - 22.735 đồng/USD.

THÉP

Giá thép giảm nhẹ so với tháng 5/2016


Theo đánh giá của các bộ, ngành có liên quan, trong tháng 5 và 6/2017, thị trường thép trong nước có dấu hiệu tăng trở lại, nhu cầu thép xây dựng tăng trưởng khá hơn tháng 4/2017; giá thép xây dựng bán lẻ trên thị trường cũng đã giảm khoảng 300-650 đồng/kg tùy từng chủng loại so với cuối tháng 4/2016. Hiện tại, giá bán tại các nhà máy chưa bao gồm chiết khấu, thuế GTGT khoảng 10.500 - 12.300 đồng/kg đối với thép cuộn và khoảng 10.500 - 12.400 đồng/kg đối với thép cây. Giá thép xây dựng bán lẻ trên thị trường trong nước như sau: tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung dao động ở mức 10.600 - 12.900 đồng/kg; tại các tỉnh Miền Nam dao động ở mức 10.700 - 13.100 đồng/kg.

Trong báo cáo gần đây của Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), 5 tháng đầu năm 2017, sản xuất thép trong nước đạt 7.876.016 tấn, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, tổng lượng thép xây dựng sản xuất trong 5 tháng đầu năm đạt 3.676.645 tấn, tăng 12,8%; Ống thép đạt 848.045 tấn, tăng 21,1%; Tôn mạ đạt 1.748.885 tấn, tăng 9%; Thép cán nguội đạt 1.533.470 tấn, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm 2016 ...

Thống kê của VSA cho thấy, tổng lượng tiêu thụ thép trong nước trong 5 tháng đầu năm ước đạt 6.432.889 tấn, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, tiêu thụ thép xây dựng đạt 3.483.326 tấn, tăng 3,9%; Ống thép đạt 830.567 tấn, tăng 14,2%; Tôn mạ đạt 1.308.071 tấn, tăng 18,6%; Thép cán nguội đạt 776.320 tấn, giảm 2,3% so với cùng kỳ năm 2016.

Còn theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong tháng 5/2017, Việt Nam đã xuất khẩu được 339.192 tấn sắt thép các loại, tăng 15% so với tháng 4/2017, trị giá thu về đạt 244.905.707 USD. Tính chung 5 tháng đầu năm, Việt Nam đã xuất khẩu được 1.667.679 tấn sắt thép các loại, trị giá thu về đạt 1.114.563.136 USD, tăng 31,1% về lượng và 61,9% về trị giá. Trong đó, lượng xuất khẩu thép xây dựng ước đạt 372.050 tấn, tăng gần gấp đôi so với cùng kỳ năm 2016 (94,9%); ống thép đạt 94.503 tấn, tăng 95,7%; Tôn mạ đạt 627.005 tấn, tăng 29,7%; Thép nguội đạt 265.928 tấn, giảm 6,4% so với cùng kỳ năm 2016. Còn trong nửa đầu tháng 6/2017, tính chung lượng sắt thép xuất khẩu các loại giảm 51,6%, tương ứng giảm 78 triệu USD so với kỳ 2 của tháng 5/2017. Về nhập khẩu, lũy kế đến 15/6 đã đạt 4,32 tỷ USD,  cao hơn cùng  kỳ năm 2016 (3,38 tỷ USD).

Hiện Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu thép lớn nhất của Việt Nam, chiếm gần 50% tổng lượng thép nhập khẩu trong 5 tháng đầu năm 2015, đạt 3,333 triệu tấn với trị giá 1,89 tỷ USD. Một số thị trường khác như Nhật Bản, Hàn Quốc có giảm về lượng nhập khẩu nhưng trị giá đều tăng. Riêng thị trường Ấn Độ tăng mạnh cả về lượng và trị giá.

Theo dự báo của Bộ Công Thương, thép thành phẩm năm nay sẽ tăng trưởng tới 12% so với năm ngoái. Trước thực trạng này, Việt Nam đã áp thuế tự vệ, thuế chống bán phá giá lên thép Trung Quốc. Bởi tại thị trường Việt Nam, tính đến cuối 2015 và giữa năm 2016, thép Trung Quốc chiếm 15-20% về phôi thép và thép xây dựng, tôn mạ và tôn màu chiếm 50%. Điều này rất nguy hiểm khi Trung Quốc khống chế ngành thép Việt Nam thì họ sẽ tăng giá, gây thiệt hại cho người tiêu dùng.

Ông Nguyễn Văn Sưa, Phó Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam cho rằng, trong bối cảnh như vậy, việc áp thuế tự vệ để bảo vệ cho sản xuất trong nước là rất cần thiết, là khoảng thời gian giúp cho doanh nghiệp thép củng cố lại năng lực của mình để có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp ngoại. Tuy nhiên, nội lực của doanh nghiệp mới là quan trọng để đối mặt với áp lực cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài, áp thuế tự vệ chỉ là biện pháp tạm thời.

Theo thông lệ quốc tế thì các nước vẫn được sử dụng công cụ phòng vệ để bảo vệ sản xuất trong nước, đó là những hàng rào kỹ thuật cũng như các biện pháp phòng vệ thương mại. Những biện pháp này giúp cho các nhà sản xuất trong nước trong bối cảnh mới xây dựng, mới thành lập hay quy mô còn nhỏ hoặc năng lực cạnh tranh còn hạn chế để có điều kiện, thời gian đầu tư tiếp tục vào công nghệ, quản lý để mà nâng cao năng lực cạnh tranh và tồn tại trong quá trình hội nhập quốc tế.

Vì vậy, theo ông Sưa, Việt Nam sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại là rất cần thiết. Những biện pháp phòng vệ thương mại cũng chỉ là những biện pháp nhất thời có tác dụng trước mắt. Về lâu dài các doanh nghiệp trong nước cần nâng cao năng lực cạnh tranh của mình thì mới có thể tồn tại và phát triển được

XI MĂNG

Tiêu thụ xi măng ước đạt 5,9 triêu tấn


Theo Tổng Công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam, ước lượng sản xuất của toàn ngành xi măng tháng 5/2017 đạt khoảng 6,4 triệu tấn, tăng 0,2 triệu tấn; tổng sản lượng tiêu thụ toàn ngành ước đạt khoảng 5,9 triệu tấn, tăng 0,1 triệu tấn.

Giá xi măng trong nước tháng 6/2017 ổn định so với tháng 5/2017. Nguyên nhân do giá nguyên vật liệu đầu vào, chi phí sản xuất cơ bản ổn định nên các nhà máy sản xuất kinh doanh xi măng cơ bản giữ ổn định giá bán. 

Cụ thể giá bán tại nhà máy của các Công ty xi măng thuộc Tổng Công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam tháng 6/2017 như sau: Xi măng Hoàng thạch, Hải phòng, Bút Sơn, Bỉm Sơn…mác PCB30 đứng ở mức 1.270.000 đ/tấn; Xi măng Hà Tiên mác PCB40 khoảng 1.705.000 đ/tấn.

XĂNG DẦU

Giá xăng đã có kỳ giảm giá mạnh kể từ đầu năm


Trong tháng 6/2017, giá xăng dầu trong nước đã có 2 kỳ điều chỉnh giá. Theo đó, có 1 lần tăng và 1 lần giảm giá. Tuy nhiên, căn cứ vào giá xăng dầu thế giới, xăng đã có một kỳ điều chỉnh giảm giá mạnh.

Vào chiều ngày 5/6 Liên Bộ Công Thương - Tài chính đã có công văn về điều hành giá xăng dầu gửi các doanh nghiệp đầu mối. Cụ thể, từ 15h cùng ngày, giá bán lẻ mỗi lít xăng RON 92 tăng thêm 303 đồng một lít, lên mức tối đa 17.366 đồng. Xăng E5 tăng 283 đồng một lít, lên 17.154 đồng. Trong khi tăng giá bán lẻ, nhà điều hành quyết định giữ nguyên mức trích lập và sử dụng Quỹ bình ổn như hiện hành (trích 300 đồng trên mỗi lít xăng, sử dụng 0 đồng). Mức tăng giá các mặt hàng dầu là 139-336 đồng một lít, kg tuỳ loại. Dầu hoả bán ra không cao hơn 12.118 đồng một lít; dầu diesel là 13.485 đồng.

Liên bộ lý giải quyết định tăng giá bán lẻ được đưa ra sau khi giá thành phẩm các mặt hàng xăng dầu tăng trong 15 ngày qua, bình quân gần 62,73 USD một thùng với xăng RON 92; dầu hoả là 61,94 USD một thùng, dầu diesel 61,86 USD một thùng. Như vậy trước đợt tăng này, giá đã giảm 2 lần liên tiếp, tổng cộng 520 đồng.

Vào kỳ điều chỉnh lần 2 của tháng 6/2017, cũng vào 15h cùng ngày, Liên Bộ Công Thương - Tài chính đã quyết định, giá bán lẻ mỗi lít xăng RON 92 giảm thêm 862 đồng một lít, về mức tối đa 16.504 đồng mỗi lít. Giá xăng E5 cũng giảm thêm 806 đồng một lít, về tối đa 16.349 đồng một lít. Cùng với đó giá các mặt hàng dầu cũng giảm thêm 369 – 738 đồng một lít, kg tùy loại. Sau điều chỉnh giá, dầu diesel không cao hơn 12.835 đồng một lít (giảm 650 đồng một lít), dầu hỏa  11.380 đồng một lít, tương đương giảm 738 đồng một lít so với cách đây 15 ngày. Trong khi giảm giá bán lẻ, nhà điều hành quyết định giữ nguyên mức trích lập và sử dụng Quỹ bình ổn như hiện hành (trích 300 đồng trên mỗi lít xăng, sử dụng 0 đồng). 

Liên bộ lý giải quyết định tăng giá bán lẻ được đưa ra sau khi giá thành phẩm các mặt hàng xăng dầu tăng trong 15 ngày qua, bình quân gần 58,117 USD một thùng với xăng RON 92; dầu hoả là 57,193 USD một thùng, dầu diesel 57,736 USD một thùng.

Giá bán lẻ xăng dầu trong nước đã trải qua 12 kỳ điều hành từ đầu năm đến nay. Đây là lần giảm giá thứ 6 kể từ đầu năm đến nay, giảm tổng cộng 2.248 đồng một lít.

Với tình hình cân đối cung cầu xăng dầu hiện tại thì mỗi năm thị trường Việt Nam vẫn đang thiếu hụt trung bình khoảng 0,8 triệu tấn xăng và 1,8 triệu tấn dầu DO. Nguồn xăng dầu thiếu hụt này sẽ được nhập khẩu về Việt Nam từ các nước trong khu vực như Singapore, Malaysia, Thái Lan, Hàn Quốc và Trung Quốc.

Trong khi đó, với công suất thiết kế của nhà máy lọc dầu (NMLD) Dung Quất và Nghi Sơn hiện tại thì từ năm 2018 tổng nguồn cung xăng của cả nước khoảng gần 6 triệu tấn/năm và tổng nguồn cung dầu khoảng gần 7 triệu tấn/năm (tương ứng khoảng 92% và 82% nhu cầu nội địa).

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, kim ngạch nhập khẩu xăng dầu các loại trong tháng 5/2017 của Việt Nam đạt 1,12 triệu tấn, trị giá 551 triệu USD, tăng 6,9% về lượng và tăng 1,5% về trị giá so với tháng trước. Qua đó, đưa kim ngạch nhập khẩu xăng dầu các loại trong 5 tháng/2017 đạt gần 5,1 triệu tấn, trị giá gần 2,7 tỷ USD, giảm 4,6% về lượng, nhưng tăng 30,8% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.

GAS

Giá gas “giậm chân tại chỗ” trong tháng 6


Sau tháng thứ 3 liên tiếp giảm giá, với tổng giảm 52.000 đồng/bình 12kg, giá gas bất ngờ “giậm chân tại chỗ”. Từ 1/6, giá gas tại TPHCM và một số tỉnh phía Nam vẫn giữ giá bán lẻ khoảng 288.000 đồng/bình 12kg.

Lý giải nguyên nhân giá đứng yên, Trưởng phòng Kinh doanh gas Saigon Petro cho biết giá CP (giá gas thế giới) tháng 6/2017 công bố 387,5 USD/tấn, bằng với tháng 5/2017.

Ô TÔ

Ôtô nguyên chiếc cập cảng Việt Nam bình quân 460 triệu đồng/chiếc


Theo số liệu của Tổng cục Hải quan vừa công bố, trong nửa đầu tháng 6/2017 (từ 1/6 đến 15/6/2017), lượng ôtô nguyên chiếc (CBU) nhập khẩu về Việt Nam ước đạt 3.672 chiếc với kim ngạch 81 triệu USD, giảm khoảng hơn 1.000 chiếc về lượng và 18 triệu USD về giá trị so với nửa đầu tháng 5/2017.

Trong đó, nhập khẩu ôtô 9 chỗ ngồi trở xuống đạt 1.622 chiếc với kim ngạch 32,3 triệu USD, giảm khoảng 400 chiếc và gần 8 triệu USD về giá trị so với nửa đầu tháng 5/2017; ôtô trên 9 chỗ ngồi đạt 25 chiếc với 550 nghìn USD, giảm 11 chiếc và 300 nghìn USD về giá trị. Trong khi đó, nhập khẩu ôtô vận tải đạt 1.783 chiếc với trị giá 35 triệu USD, tăng so với nửa đầu tháng 5/2017.

Lũy kế từ đầu năm đến hết 15/6/2017, Việt Nam nhập khẩu 46.793 ôtô nguyên chiếc với trị giá đạt gần 955 triệu USD. Như vậy, ôtô nguyên chiếc cập cảng Việt Nam với giá bình quân khoảng 20.400 USD/chiếc (tương đương 460 triệu đồng/chiếc).

Trong số ôtô nguyên chiếc được nhập khẩu về Việt Nam trong hơn 6 tháng qua gồm: 24.901 ôtô  9 chỗ ngồi trở xuống, tương đương với trị giá 412,6 triệu USD; 327 chiếc ôtô trên 9 chỗ ngồi, tương đương 9,3 triệu USD và 17.500 chiếc ô tô vận tải, tương đương 346,7 triệu USD.

So với cùng kỳ năm 2016, giá xe nhập về Việt Nam chưa bao gồm các loại thuế phí đã giảm khá mạnh, trong đó xe con đã giảm gần 20 triệu đồng/chiếc, xe khách giảm gần 50 triệu đồng và xe tải giảm gần 20 triệu đồng/xe.

Về nhập khẩu linh kiện, Việt Nam chia hai đối tượng, nhập động cơ nguyên chiếc và nhập thân vỏ, phần ngoại biên xe. Trong đó, phần giá trị lớn nhất là nhập động cơ xe, Việt Nam vẫn phụ thuộc vào các thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc để phục vụ ngành lắp ráp xe hơi trong nước. Bên cạnh đó, lượng lớn linh kiện phụ tùng khung xe, hệ thống điện... được nhập khẩu từ Thái Lan, Indonesia và Malaysia.

Trên thực tế, nhập khẩu ô tô nguyên chiếc và linh kiện ô tô đang là chủ đề quan tâm của dư luận bởi Việt Nam đang tập trung nhập khẩu phần lớn ở các nước ASEAN như Thái Lan, Indonesia và Malaysia.

Việc tăng lượng nhập ô tô nguyên chiếc và linh kiện xe hơi từ ASEAN trong bối cảnh thuế nhập khẩu từ các nước trên vào Việt Nam bị cắt giảm rất mạnh không chỉ làm gia tăng giá trị nhập siêu giữa Việt Nam với các nước mà còn khiến lợi thế cạnh tranh, lợi thế so sánh của Việt Nam với các nước ngày càng giảm sút, tăng nguy cơ lệ thuộc nền sản xuất của Việt Nam vào các nước trên.

Về sản lượng tiêu thụ, báo cáo từ Hiệp hội Các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA) cho thấy, sản lượng tiêu thụ ô tô toàn thị trường trong nước tháng 05/2017 tăng nhẹ so với tháng trước nhưng vẫn giảm khá sâu so với cùng kỳ năm 2016.

Cụ thể là, tổng doanh số bán hàng của toàn thị trường tháng 05/2017 đạt 23.232 chiếc, giảm 11% so với cùng kỳ năm ngoái và tăng 6% so với tháng 04/2017. Trong tổng doanh số bán hàng của toàn thị trường tháng 05/2017, sản lượng tiêu thụ xe du lịch đạt 12.915 chiếc, giảm 20%; Xe thương mại đạt 9.005 chiếc, giảm 6%; Xe chuyên dụng đạt 1.312 chiếc, giảm 22% so với tháng trước. Trong khi đó, sản lượng xe lắp ráp trong nước đạt 16.656 xe, tăng 1% so với tháng trước và số lượng xe nhập khẩu nguyên chiếc là 6.576 xe, tăng 20% so với tháng trước.

Kể từ đầu năm 2016, để kích cầu sản phẩm, đặc biệt là ở thị trường xe mới đã có hàng loạt thương hiệu lớn tiếp tục đưa ra các chương trình giảm giá, khuyến mãi với giá trị lên tới hàng trăm triệu đồng. Tuy nhiên, người tiêu dùng dường như vẫn còn nghe ngóng bởi chưa tin đây là mức đáy của thị trường ô tô. Tâm lý chờ đợi giá còn giảm sâu hơn khiến cho người mua còn chần chừ chờ đợi giá còn giảm hơn nữa.

Cũng trong tháng 6/2017, Bộ Công Thương đã có báo cáo về chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô với nhiều đề xuất giải pháp phát triển ngành này. Bộ Công Thương đưa ra ba nhóm giải pháp để phát triển ngành công nghiệp ô tô. Thứ nhất là tạo dựng thị trường tiêu thụ đủ lớn để khuyến khích sử dụng xe trong nước, trong đó nhấn mạnh đến sự phát triển minh bạch, lành mạnh thông qua các biện pháp chống gian lận thương mại, hàng rào kỹ thuật.

Thứ hai, Bộ đưa ra giải pháp hỗ trợ rất mạnh đối với các doanh nghiệp lắp ráp xe hơi trong nước, trong đó có không đánh thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) đối với phần giá trị tạo ra trong nước của ô tô. Đây được xem là ưu đãi lớn chưa từng có cho các liên doanh hoặc doanh nghiệp làm phụ trợ ô tô nếu được thông qua.

Nhóm giải pháp thứ ba, Bộ Công Thương đề nghị Chính phủ, Bộ KH&ĐT thu hút đầu tư các tập đoàn đa quốc gia đầu tư các dự án có quy mô lớn tại Việt Nam, đặc biệt tập trung vào các tập đoàn lớn và những dòng xe chưa có cơ sở sản xuất tại khu vực ASEAN.

Đặc biệt, với thông tin Việt Nam sẽ thực hiện các biện pháp mạnh mẽ để mở rộng sản xuất nội địa ô tô nguyên chiếc của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại tuyên bố chung Việt Nam - Nhật Bản đã khẳng định hơn nữa quyết tâm của Chính phủ đưa ngành ô tô sản xuất trong nước trở thành ngành mũi nhọn và khẳng định vị thế của Việt Nam trong lĩnh vực này.

THỦY SẢN 

Xuất khẩu thủy sản cao hơn so với cùng kỳ năm 2016


Theo thông tin từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản tháng Sáu ước đạt 2,97 tỷ USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu 6 tháng đầu năm nay đạt 17,1 tỷ USD, tăng 13,1% so với cùng kỳ năm 2016.

Lĩnh vực thủy sản trong 6 tháng đầu năm nay cũng đã đóng góp khoảng 3,5 tỷ USD vào kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành, so với cùng kỳ năm 2016, thì giá trị ngành thủy sản cũng tăng khoảng 14,1%. Cụ thể, giá trị xuất khẩu thủy sản tháng Sáu ước đạt 653 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu thủy sản 6 tháng đầu năm nay ước đạt 3,5 tỷ USD.

Tuy vậy, riêng với lĩnh vực sản xuất và xuất khẩu cá tra – một ngành chủ lực của XK thủy sản lại vẫn gặp khó. Theo báo cáo của Tổng cục Thủy sản, giá cá tra nguyên liệu giữ ở mức khá cao trong 6 tháng đầu năm, dao động trong khoảng 25.000-27.000 đồng/kg. Với mức giá trên, người nuôi có lãi 4.000-6.000 đồng/kg. Trong tháng 6, giá cá thương phẩm ổn định ở mức trung bình khoảng 21.000-25.000 đồng/kg.

“Dù sản lượng và diện tích nuôi cá tra tăng, tuy nhiên trong những tháng đầu năm nay nước ta đã xảy ra tình trạng thiếu giống, thiếu cá tra nguyên liệu phục vụ cho chế biến xuất khẩu” - Tổng cục Thủy sản cho biết.

Bên cạnh đó, năm nay ngành hàng xuất khẩu cá tra đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Ví dụ: Trong sáu tháng đầu năm nay, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Mỹ và châu Âu giảm từ 19,8% đến 24,8%. Nguyên nhân là do những thông tin phản ánh không đúng sự thật về con cá tra của Việt Nam ở châu Âu khiến việc tiêu thụ sụt giảm. Bên cạnh đó, việc cá tra bị áp mức thuế cao và sắp tới Mỹ thực thi đầy đủ quy định của đạo luật nông trại (kể từ ngày 1-9-2017) càng đặt ra cho ngành hàng cá tra nhiều rào cản.

Còn theo nhận định của Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Vũ Văn Tám đánh giá từ đầu năm đến nay tình hình sản xuất, chế biến và tiêu thụ cá tra có dấu hiệu tích cực. Giá cá tra phục hồi, người nuôi và doanh nghiệp (DN) có lãi. Ngành cá tra hiện nay vẫn đang đứng trước nhiều thách thức và rào cản kinh tế khi cạnh tranh trên thị trường thế giới.

Tổng kim ngạch xuất khẩu cá tra sáu tháng đầu năm nay đạt trên 519 triệu USD, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm 2016. Đáng chú ý Trung Quốc đã trở thành thị trường tiêu thụ cá tra lớn nhất của Việt Nam

Cả nước hiện có 3.100 ha diện tích nuôi cá tra, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng cá tra nguyên liệu đạt gần 520.000 tấn, tăng 2,2% so với cùng kỳ.

Tuy vậy Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết xuất khẩu thủy sản sang thị trường Mỹ giảm trong 5 tháng đầu năm và dự báo sẽ khó có thể hồi phục.

Tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước trong 5 tháng đầu năm 2017 đạt khoảng 2,76 tỷ USD, tăng trưởng 7,5%. Trong đó, xuất khẩu sang Mỹ đạt hơn 461 triệu USD, giảm 12,7% so với cùng kỳ. Xuất khẩu giảm kéo Mỹ từ thị trường nhập khẩu nhiều thủy sản của Việt Nam nhất trong 5 tháng đầu năm ngoái xuống vị trí thứ hai sau Nhật Bản trong cùng kỳ năm nay.

Xuất khẩu sang Mỹ giảm trong bối cảnh thuế chống bán phá giá, chương trình thanh tra cá da trơn sẽ áp dụng chính thức từ tháng 9/2017, đồng thời, thị trường tiền tệ xáo trộn sau khi ông Trump trúng cử Tổng thống và nhiều khả năng chính quyền mới sẽ tăng rào cản kỹ thuật, thuế quan và bảo hộ, VASEP cho biết.  Xuất khẩu sang EU, thị trường xuất khẩu lớn thứ ba của Việt Nam, cũng giảm nhẹ 0,7%.

Tuy vậy, tại các thị trường Nhật Bản và Trung Quốc, Hàn Quốc, nhu cầu nhập khẩu cao sẽ bù đắp và thúc đẩy xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong những tháng tới, VASEP cho biết. Giá trị xuất khẩu sang Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc đạt mức tăng trưởng lần lượt 29,3%, 20,1% và 26,1% trong 5 tháng đầu năm.

Do đó, đã có sự dịch chuyển đáng kể về cơ cấu sản phẩm và cơ cấu thị trường trong doanh nghiệp xuất khẩu. Xu hướng dịch chuyển về cơ cấu sản phẩm theo hướng nghiêng dần sang các mặt hàng hải sản sẽ tiếp tục trong những tháng tới và cả năm nay, VASEP dự báo.

Về ngành hàng tôm xuất khẩu, cũng trong tháng 6, ngành Thủy sản Việt Nam đón nhận thông tin thuận lợi đó là việc Chính phủ Úc đã đưa thêm 2 mặt hàng tôm ra khỏi Lệnh tạm dừng NK tôm vào nước này. Theo đó, kể từ ngày 12/7/2017, Bộ Nông nghiệp và Tài nguyên Úc sẽ bắt đầu chấp nhận các đơn đặt hàng nhập khẩu đối với những mặt hàng trên vào nước này với điều kiện đáp ứng nghiêm ngặt các quy định của Úc. Cụ thể, tôm tẩm ướp chưa nấu chín phải được cơ quan có thẩm quyền nước XK chứng nhận sản phẩm tôm không mang vi rút gây bệnh đốm trắng (WSSV), bệnh đầu vàng (YHV) và đáp ứng các yêu cầu trong dự thảo Giấy chứng nhận thú y. Bộ Nông nghiệp và Tài nguyên Úc sẽ thực hiện các biện pháp kiểm soát nghiêm ngặt tại các cửa khẩu để kiểm tra chứng nhận về thú y đối với tôm tẩm ướp chưa nấu chín: Kiểm tra niêm phong kiểm dịch đối với 100% lô hàng tại nơi đến; lấy mẫu xét nghiệm WSSV và YHV đối với 100% lô hàng. Như vậy, thị trường xuất khẩu với 2 mặt hàng này vốn là những sản phẩm tôm chủ lực của Việt Nam XK sang Úc đã được rộng mở hơn.

LÚA GẠO

Xuất khẩu gạo đạt 1,2 tỷ USD


Ngày 28/6, tin từ Văn phòng Bộ NN&PTNT, khối lượng gạo xuất khẩu tháng 6/2017 ước đạt 413.000 tấn với giá trị đạt 182 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu gạo 6 tháng đầu năm 2017 ước đạt 2,8 triệu tấn, giá trị 1,2 tỷ USD, tăng 6,3% về khối lượng và tăng 4,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Giá gạo xuất khẩu bình quân 5 tháng năm 2017 đạt 445,5 USD/tấn, giảm 0,9% so với cùng kỳ năm 2016. Trung Quốc vẫn tiếp tục đứng vị trí thứ nhất về thị trường nhập khẩu gạo của Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2017 với 46,5% thị phần. Xuất khẩu gạo sang thị trường này trong 5 tháng đầu năm 2017 đạt 1,1 triệu tấn và 488 triệu USD, tăng 34,2% về khối lượng và tăng 31,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Philippines là thị trường nhập khẩu gạo lớn thứ hai của Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2017 với 8,6% thị phần. Xuất khẩu gạo sang thị trường này trong 5 tháng đầu năm 2017 đạt 237.400 tấn, trị giá 90,4 triệu USD, tăng 23,4% về khối lượng và tăng 10,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Về thị trường nội địa, trong tháng 6/2017, giá lúa, gạo tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long tăng tích cực trong bối cảnh thu hoạch vụ Hè Thu sớm sôi động. Nhu cầu xuất khẩu gạo có chiều hướng khởi sắc vì lượng gạo tồn kho của các nước xuất khẩu gạo lớn hiện còn không nhiều, trong khi đó, nhu cầu nhập khẩu gạo của các nước như Philippines, Băng la đét, Indonesia đang cao.

Theo hệ thống cung cấp giá tại địa phương, tại An Giang, giá lúa IR50404 tăng 400 đồng/kg, từ 4.500 đồng/kg lên 4.900 đồng/kg; lúa OM 2514 tăng 200 đồng/kg, từ 4.700 đồng/kg lên 4.900 đồng/kg. Tại Vĩnh Long, lúa IR50404 tăng 150 đồng/kg, từ 4.300 đồng/kg lên 4.450 đồng/kg; lúa khô ổn định ở mức 4.900 đồng/kg. Tại Bạc Liêu, giá thu mua lúa của Công ty Lương thực ổn định với lúa OM 5451 ở mức 7.100 – 7.200 đồng/kg (lúa khô), lúa OM 4900 ở mức 7.200 – 7.300 đồng/kg (lúa khô). Tính trong 6 tháng đầu năm 2017, giá lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung diễn biến theo xu hướng tăng, với mức tăng từ 300 – 600 đồng/kg đối với cả lúa thường và lúa chất lượng cao.

Còn theo Bộ Công thương, giá gạo XK của Việt Nam đang liên tục tăng lên. Những ngày đầu tháng 6, giá gạo XK loại 5% tấm (giá FOB) là 390 USD/tấn, tăng so với mức 360 - 380 USD/tấn hồi cuối tháng 5. Đây là mức giá cao nhất kể từ tháng 12/2014. Giá gạo XK tăng liên tục, trước hết là nhờ nhu cầu đang gia tăng trên thị trường thế giới, nhất là từ những nước NK gạo ở khu vực châu Á. Việc Bangladesh đang cần NK gạo số lượng lớn đề bù đắp khoảng 700.000 tấn lúa gạo bị hư hỏng do lũ lụt và Philippines đã chính thức quyết định NK 250 ngàn tấn gạo trong cuối tháng 6 hoặc tháng 7, đã làm nóng thị trường gạo thế giới, đặc biệt là tại các nước XK chính gồm Thái Lan, Việt Nam và Ấn Độ.

Thông tin từ các doanh nhân ngành gạo cho hay, ngay sau khi ký kết Bản ghi nhớ thương mại gạo với Việt Nam, Bangladesh đã yêu cầu mua ngay 200.000 tấn gạo, trong đó có 25.000 tấn gạo đồ, thời hạn giao hàng trong vòng 45 ngày. Một thông tin đáng chú ý là một số nước khác trong khu vực cũng đang quay trở lại NK gạo. Mới đây, Malaysia đã quay lại mua của Việt Nam 40.000 tấn gạo và đang mua thêm 80.000 tấn. Indonesia cũng đang dự tính có thể NK gạo trở lại. Nhu cầu NK gạo từ 2 thị trường rất quan trọng khác là Trung Quốc và châu Phi vẫn đang có xu hướng tăng lên.

Ở Việt Nam, lượng gạo tồn kho của các DN hiện không còn nhiều và đại đa số đã có phiếu XK sang Trung Quốc. Đến tháng 8, Việt Nam mới bước vào thu hoạch lúa hè thu chính vụ. Nhận thấy nhu cầu XK đang tăng trong khi nguồn cung hạn hẹp, nhiều DN đang chủ động trữ gạo lại, chưa vội bán ra, với hy vọng giá gạo XK loại 5% tấm sẽ còn tăng lên nữa, ít nhất là 400 USD/tấn. Một số doanh nhân ngành gạo cũng cho rằng các DN không nên vội bán đón đầu khi thấy giá gạo tăng để tránh thiệt hại. Bởi thực tế vừa rồi, nhiều DN đã bị thiệt hại không nhỏ khi vội ký phiếu XK khi giá còn chưa lên cao.

CÀ PHÊ

Giá cà phê tăng thêm hơn 1.000 đồng/kg so tháng 5


Theo Bộ NNPTNT, 6 tháng đầu năm 2017, ngành cà phê đã xuất khẩu khoảng 817.000 tấn, thu về 1,86 tỷ USD, giảm 16,7% về khối lượng nhưng tăng 9,5% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Theo đánh giá của Bộ NNPTNT, thị trường cà phê trong nước tháng 6.2017 biến động tăng theo xu hướng tăng của thị trường cà phê thế giới. So với tháng trước, giá cà phê vối nhân xô các tỉnh Tây Nguyên đã tăng thêm 1.000 – 1.100 đồng/kg, lên giao dịch quanh mức 44.300 – 44.900 đồng/kg.

Giá cà phê tăng do nguồn cung cà phê của các nước sản xuất chính trên thế giới đang dần cạn kiệt. Nhìn chung trong 6 tháng đầu năm, thị trường cà phê trong nước trải qua nhiều biến động. Giá cà phê tăng trong quý đầu tiên của năm nhưng sau đó lại giảm trong quý tiếp theo. So với cuối năm 2016, giá bình quân trong giai đoạn này của cà phê vối nhân xô tại các tỉnh Tây Nguyên đã giảm 300 đồng/kg.

Xuất khẩu cà phê tháng 6 năm 2017 ước đạt 109 nghìn tấn với giá trị đạt 259 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu cà phê 6 tháng đầu năm 2017 ước đạt 817 nghìn tấn và 1,86 tỷ USD, giảm 16,7% về khối lượng nhưng tăng 9,5% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Giá cà phê xuất khẩu bình quân 5 tháng đầu năm 2017 đạt 2.264 USD/tấn, tăng 32,1% so với cùng kỳ năm 2016. Đức và Hoa Kỳ tiếp tục là hai thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2017 với thị phần lần lượt là 16,8% và 14,8%.

Các thị trường có giá trị xuất khẩu cà phê trong 5 tháng đầu năm 2017 tăng mạnh là: Bỉ (37%), Hoa Kỳ (30,6%), Angieri (26,6%), Đức (20,9%), Italia (20,4%), Nhật Bản (19,4%), Tây Ban Nha (17,6%) và Nga (15,3%).

CAO SU

6 tháng đầu năm, Việt Nam xuất khẩu 462 nghìn tấn cao su, giá trị tăng 58,6%


Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, khối lượng xuất khẩu cao su của Việt Nam tháng 6/2017 ước đạt 100 nghìn tấn với giá trị đạt 158 triệu USD. Với ước tính này, khối lượng xuất khẩu cao su 6 tháng đầu năm 2017 ước đạt 462 nghìn tấn và 867 triệu USD, tăng 5% về khối lượng và tăng 58,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Giá cao su xuất khẩu bình quân 5 tháng đầu năm 2017 đạt 1.957 USD/tấn, tăng 59,8% so với cùng kỳ năm 2016.

Trung Quốc, Hàn Quốc, và Malaysia là 3 thị trường tiêu thụ cao su lớn nhất của Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2017, chiếm thị phần lần lượt 61,1%, 5,1% và 4,6%. Giá trị xuất khẩu cao su sang 3 thị trường này lần lượt là: 432,8 triệu USD (+82,4%), 36,1 triệu USD (gấp 2,5 lần) và 32,3 triệu USD (-8%) so với cùng kỳ năm 2016.

Ở chiều ngược lại, khối lượng nhập khẩu cao su trong tháng 6/2017 ước  đạt 42 nghìn tấn với giá trị đạt 90 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu cao su 6 tháng đầu năm 2017 lên 244 nghìn tấn và 543 triệu USD, tăng 25,2% về khối lượng và tăng 78,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Bốn thị trường nhập khẩu cao su chủ yếu trong 5 tháng đầu năm 2017 là Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan và Campuchia, chiếm 56% thị phần. Trong 5 tháng đầu năm 2017, giá trị cao su ở tất cả các thị trường nhập khẩu đều tăng. Trong đó, thị trường có giá trị tăng trưởng mạnh nhất so với cùng kỳ năm 2016 là thị trường Indonesia và thị trường Nga (đều tăng 2,8 lần).

HẠT TIÊU

Hồ tiêu giảm kỷ lục trong 6 năm qua


Theo báo cáo của Bộ NNPTNT, thị trường hồ tiêu trong nước tiếp tục biến động giảm trong tháng 6- 2017. So với cuối tháng 5.2017, giá tiêu tại Bà Rịa – Vũng Tàu trong ngày 28.6 đã giảm 3.000 đồng/kg xuống còn 78.000 đồng/kg. Giá tiêu tại Đồng Nai giảm 4.000 đồng/kg xuống mức 77.000 đồng/kg.

Giá tiêu tại Đắk Lắk – Đắk Nông ngày 28.6 cùng ở mức 77.000 đồng/kg, giảm 4.000 đồng/kg so với cuối tháng 5. Giá tiêu tại tỉnh Gia Lai cũng giảm 5.000 đồng/kg xuống còn 76.000 đồng/kg.

Trong 6 tháng đầu năm 2017, giá hồ tiêu sụt giảm rất mạnh. So với cuối năm 2016, giá tiêu trong nước đã giảm tới 57.000 – 61.000 đồng/kg. Nếu so với cùng kỳ năm 2016, giá tiêu hiện đã sụt giảm tới 50%. Đây được xem là mức giảm kỷ lục của ngành hồ tiêu trong vòng 5 - 6 năm trở lại đây.

Theo Bộ NNPTNT, giá hồ tiêu giảm mạnh so với năm ngoái là do tình hình xuất khẩu sang các thị trường châu Âu, Mỹ, Nhật Bản bị chững lại, trong khi đó diện tích hồ tiêu trên cả nước vượt quy hoạch dẫn đến sản lượng tăng nhanh. Các nhà buôn quốc tế đã lợi dụng  lý do này để ép giá tiêu Việt Nam, khiến giá hồ tiêu trên cả thị trường nội địa và xuất khẩu đều giảm không phanh. 

Cụ thể, khối lượng tiêu xuất khẩu tháng 6.2017 ước đạt 23.000 tấn, với giá trị đạt 110 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu tiêu 6 tháng đầu năm 2017 ước đạt 126.000 tấn và 714 triệu USD, tăng 18,3% về khối lượng nhưng giảm 16,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Giá tiêu xuất khẩu bình quân 5 tháng đầu năm 2017 đạt 5.876 USD/tấn, giảm 26,8% so với cùng kỳ năm 2016. Các thị trường xuất khẩu tiêu lớn nhất của Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2017 là Hoa Kỳ, Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, Ấn Độ , Pakistan và Đức với 38,9% thị phần.

Hiện nay, vấn đề lớn nhất của ngành hồ tiêu là diện tích tăng quá lớn, cần phải dừng lại. Nếu diện tích cứ tiếp tục tăng như hiện nay thì trong tương lai có thể giá hồ tiêu sẽ còn giảm sâu hơn nữa, vì cung càng vượt cầu.

Để giảm bớt rủi ro, Hiệp hội Hồ tiêu đã khuyến cáo, nông dân không nên trồng hồ tiêu trên những đất không phù hợp cần chuyển đổi sang cây trồng khác, tại các vườn tiêu hiện có nên trồng xen canh vài loại cây trồng khác để đa dạng thu nhập. Tuy nhiên, dù đã được ngành chức năng và VPA khuyến cáo, nhưng diện tích cây tiêu cứ tiếp tục mở rộng. Bởi nếu so với cây cà phê chỉ thu nhập khoảng 100 - 150 triệu đồng/hecta, thì cây tiêu dù có xuống 70.000 đồng/kg, với năng suất thấp 3- 5 tấn/hecta, thì nông dân vẫn thu về ít nhất là 240 triệu đồng/hecta; còn nếu năng suất tăng lên 7-10 tấn/hecta thì thu nhập sẽ cao hơn gấp 2 lần, nhưng chi phí đầu tư chỉ tương đương nhau. Đó là lý do nông dân tiếp tục mở rộng diện tích.

(TTGCVT tổng hợp)

Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (024) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (024) 39762593 
Email: ttgcvattu@yahoo.com