Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Thị trường hàng hóa nguyên liệu trong nước tháng 5/2017
Cập nhật: 31-5-2017

VÀNG

Thị trường vàng tháng 5 ít biến động và giá nằm dưới mốc 37 triệu đồng


Mặc dù chịu ảnh hưởng lớn bởi diễn biến giá vàng thế giới, các thông tin biến động trên thị trường tài chính và các thông tin địa chính trị, tuy nhiên trong tháng 5/2017, thị trường vàng trong nước luôn nằm trong xu hướng “đi ngang” là chủ đạo. Trong tháng, có những ngày giao dịch giá vàng đã có những bứt phá nhưng dường như mọi nỗ lực đều không thành công. Nhìn chung không khí giao dịch tại các doanh nghiệp kinh doanh vàng đều kém sôi động do các nhà đầu tư còn lưỡng lự, chủ yếu là thăm dò thị trường do chưa định hướng được diễn tiến rõ ràng của giá vàng.

Trong tuần đầu tháng 5 – ngay sau kỳ nghỉ lễ dài ngày, giá vàng trong ngày 3, 4 và 5/5 đã liên tục giảm nhanh xuống mức thấp nhất 3 tuần trước đó bởi các thông tin liên quan đến chính sách tiền tệ của Mỹ. Giá vàng hôm 3/5 đứng ở mức 36,59 – 36,81 triệu đồng/lượng và đến phiên giao dịch cuối tuần (sáng 5/5) giá giảm xuống còn 36,28 – 36,52 triệu đồng/lượng và đắt hơn giá thế giới khoảng 2,8 triệu đồng mỗi lượng (chưa tính thuế và các khoản phí).

Bước sang tuần thứ 2, thị trường vàng trong nước cũng vẫn ở trong trạng thái trầm lắng, qua các ngày giá vàng chỉ chênh lệch lên xuống không đáng kể, dao động ở khoảng 36,30 – 36,42 triệu đồng/lượng (chiều mua vào) và 36,56 – 36,65 triệu đồng/lượng (chiều bán ra). Theo nhận định của Doji, do nhu cầu sở hữu kim loại quý giảm sút nên lượng khách bán chiếm chủ đạo tới 65%. Kết thúc tuần giao dịch, vào sáng ngày 12/5, giá vàng tăng trở lại với giá mua vàng miếng SJC ở mức 36,40 triệu đồng/lượng và giá bán vàng miếng ở mức 36,62 triệu đồng/lượng. Vàng trong nước thời điểm này đang cao hơn thế giới khoảng 3,02 triệu đồng mỗi lượng.

Trung tuần tháng 5, xu hướng đi ngang tiếp tục là xu hướng chủ đạo. Giá dao động ở khoảng 36,43 – 36,56 triệu đồng/lượng (chiều mua vào) và 36,56 – 36,76 triệu đồng/lượng (chiều bán ra). Trong tuần, vào thời điểm mở cửa ngày giao dịch 18/5 giá bất ngờ tăng mạnh nhưng giá vàng lại hạ nhiệt ngay sau đó. Theo ghi nhận của tập đoàn DOJI, bất chấp những tín hiệu khả quan của giá vàng thế giới do các số liệu kinh tế mới và những bất ổn từ phía Triều Tiên, vàng miếng trong nước vẫn chưa cho thấy sự thay đổi rõ rệt nào. Bởi vậy, thị trường vàng đã không tạo được sự thay đổi về số lượng khách hàng tham gia giao dịch. Phần lớn các nhà đầu tư đều chọn phương án đứng ngoài thị trường và chờ đợi xu hướng rõ ràng hơn". Kết thúc tuần giao dịch, vào sáng ngày 19/5 giá vàng neo ở mức 36,43 – 36,65 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra) và chênh lệch cao hơn giá thế giới khoảng 2,4 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế và các khoản phí).

Tuần cuối cùng của tháng 5, giá vàng trong nước vẫn ‘lình xình” dưới ngưỡng 37 triệu đồng. Giá vàng mua vào nằm ở trong khoảng 36,42 – 36,50 triệu đồng/lượng, giá bán ra ở khoảng 36,46 – 36,57 triệu đồng/lượng. Theo đánh giá của Doji, có thời điểm sức bật của thị trường thế giới tạo đà hậu thuẫn cho đà tăng của giá vàng trong nước, nhưng vẫn không thu hút được nhiều sự tương tác từ phía nhà đầu tư, thị trường hầu như vẫn đóng băng. Giới kinh doanh vàng nhận định, thời điểm hiện tại các nhà đầu tư đang tỏ ra khá lưỡng lự trước các quyết định đầu tư và hướng sự quan tâm đến những yếu tố ảnh hưởng tới xu hướng giá. Các giao dịch tiếp tục kịch bản diễn ra cầm chừng ở mức thăm dò. Kết thúc tuần giao dịch, giá vàng SJC của Tập đoàn Doji thời điểm mở cửa ngày 26-5 neo ở mức 36,38 – 36,46 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra), chênh lệch cao hơn giá vàng thế giới khoảng 2,08 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí…)

Những ngày cuối cùng của tháng, giá vàng hầu như cũng không có nhiều biến động. Các mốc giá tương tự như tuần thứ 4. Mở cửa sáng  ngày 30/5, công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn niêm yết giá vàng SJC ở mức 36,34 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,56 triệu đồng/lượng (bán ra). Vàng thế giới quy đổi theo giá USD ngân hàng có giá gần 35 triệu đồng/lượng, chưa tính thuế và phí, thấp hơn giá vàng trong nước 1,5 triệu đồng/lượng.

ĐÔ LA

Tỷ giá trung tâm tăng nóng, giá USD tại các NHTM biến động nhẹ


Trái ngược với sự bình lặng trên thị trường vàng, thị trường đồng đô la trong tháng 5 lại chứng kiến sự biến động liên tục của tỷ giá trung tâm. Các mốc giá mới qua các phiên liên tiếp được thiết lập, phiên sau cao hơn phiên trước đã phản ánh sự sôi động trên thị trường đồng bạc xanh. 

Sau kỳ nghỉ lễ dài, trong 3 phiên giao dịch của tuần đầu tỷ giá trung tâm dao động ở khoảng 22.349 – 22.355 đồng/USD. Tại các NHTM, giá USD biến động nhẹ. Cụ thể, lúc 8 giờ 30 phút sáng 5/5, Vietcombank niêm yết giá USD ở mức 22.700– 22.770VND/USD (mua vào – bán ra), giảm 10 đồng so với cùng thời điểm sáng 4/5. Tại Techcombank giá đồng bạc xanh được điều chỉnh giảm 5 đồng ở chiều bán ra, còn chiều mua vào vẫn được giữ nguyên so với cùng thời điểm sáng 4/5, ở mức 22.700– 22.795 VND/USD (mua vào – bán ra).

Bước sang tuần thứ 2, tỷ giá trung tâm đã có một tuần liên tục thiết lập các mức giá cao mới, dao động ở khoảng 22.358 – 22.377 đồng/USD. Như vậy so với đầu tuần, tỷ giá phiên cuối tuần đã tăng tới gần 20 đồng mỗi USD. Tuy nhiên tại các NHTM, tỷ giá giao dịch USD không hề “nóng’ mà chỉ biến động nhẹ. Tới đầu giờ sáng 12/5, đa số các ngân hàng thương mại giữ tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ không đổi so với cuối giờ phiên liền trước, phổ biến ở mức 22.675 đồng (mua) và 22.745 đồng (bán). Giá USD trên thị trường chợ đen ở khoảng: 22.760 - 22.780 đồng/USD.

Trung tuần tháng 5, tỷ giá trung tâm có xu hướng giảm và chỉ có duy nhất một phiên tăng mạnh là vào ngày 19/5 (cao nhất tuần, ở mức 22.377 đồng/USD). Tại các NHTM, qua các phiên giao dịch tỷ giá đồng USD cũng chỉ biến động nhẹ.Cụ thể, lúc 8 giờ 30 phút ngày 19/5 tại Vietcombank, giá USD được niêm yết ở mức 22.660 – 22.730VND/USD (mua vào – bán ra), tăng 10 đồng ở cả chiều mua và bán so với cùng thời điểm sáng hôm trước. BIDV cũng niêm yết giá đồng bạc xanh ở mức 22.660 - 22.730 VND/USD (mua vào – bán ra), tăng 15 đồng ở cả hai chiều so với cùng thời điểm sáng hôm trước đó.

Tuần cuối cùng của tháng, tỷ giá trung tâm đã có 2 phiên đầu tuần đứng ở mức 22.375 đồng/USD và 3 phiên còn lại đều ở mức 22.384 đồng/USD. Tại các NHTM, tỷ giá giao dịch đồng USD chỉ biến động nhẹ. Cụ thể, lúc 8 giờ 30 phút sáng 26/5 tại Vietcombank, 22.655 – 22.725 VND/USD (mua vào – bán ra), tăng 5 đồng ở cả hai chiều so với cùng thời điểm sáng hôm trước. Tương tự, tại Vietinbank, giá USD cũng được niêm yết ở mức 22.655 - 22.725 VND/USD (mua vào – bán ra), tăng 5 đồng ở cả hai chiều so với cùng thời điểm sáng hôm trước đó.

Như vậy trong vòng 1 tháng, tỷ giá trung tâm đã tăng tới 45 đồng (thấp nhất là 22.349 đồng/USD và cao nhất là 22.396 đồng/USD).

THÉP

Thị trường mua bán trầm lắng, giá thép tiếp tục xu hướng giảm


Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) vừa cho biết tình hình sản xuất, bán hàng các mặt hàng thép trong tháng 4 và tháng 5 có dấu hiệu tăng trưởng chậm lại, đặc biệt là tiêu thụ thép xây dựng sụt giảm. Cùng với đó, giá thép tiếp tục có xu hướng giảm và điều này càng khiến cho sự cạnh tranh giữa các nhà sản xuất ngày càng gay gắt hơn trong việc duy trì thị phần.

Theo ông Nguyễn Văn Sưa, Phó Chủ tịch VSA, sản xuất thép xây dựng của các thành viên Hiệp hội trong tháng 4/2017 đạt hơn 730.000 tấn, tăng nhẹ 3,6% so với cùng kỳ nhưng đã giảm 14,26% so với tháng trước. Việc tiêu thụ thép xây dựng đạt hơn 635.000 tấn, giảm 14% so với cùng kỳ 2016 và giảm 20% so với tháng trước.

VSA cũng cho biết nhìn chung, sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm thép trong bốn tháng đầu năm 2017 có tăng trưởng so với cùng kỳ năm 2016. Nhưng mức tăng trưởng bán hàng chỉ đạt 2,7%, thấp hơn nhiều so với mức tăng trưởng dự báo hồi đầu năm 2017 là khoảng 10%.

Cùng với sự tăng trưởng chậm của thị trường, giá thép cũng đang tiếp tục đà giảm. Giá thép trong nước tháng Tư đã giảm tiếp khoảng từ 400-700 đồng/kg so với cuối tháng Ba. Giá bán thép cuối tháng Tư ở mức khoảng từ 10.600-10.800 đồng/kg (giá giao tại nhà máy, chưa bao gồm 10% thuế VAT) và tiếp tục có xu hướng giảm. Sang đến tháng 5, giá thép nằm ở mức 9.900 -10.150 đ/kg (chưa có thuế VAT và phí vận chuyển).

Trong những ngày cuối tháng Tư, đầu tháng Năm, giá thép phế giảm từ 20-25 USD/tấn, còn mức 255-265 USD/tấn. Giá phôi thép giảm 5-10 USD/tấn từ ngày 10-14/4. Từ ngày 24/4 tiếp tục giảm mạnh từ 20-25 USD/tấn và hiện còn giữ mức 390-400 USD/tấn phôi thép.

Theo ông Nguyễn Văn Sưa, các doanh nghiệp đang tiếp tục các chính sách chiết khấu và bảo lãnh giá, điều này làm cho thị trường thép trong nước thêm khó khăn. Cùng với đó, thép cuộn ngoại nhập với giá rẻ cũng gây khó khăn cho các nhà sản xuất nội địa.

Hiệp hội Thép khuyến nghị các doanh nghiệp cần giữ ổn định thị trường; bãi bỏ chính sách bảo lãnh giá, giảm và hạn chế các chính sách hỗ trợ bán hàng. Các doanh nghiệp cần thường xuyên trao đổi thông tin với nhau và báo cáo với hiệp hội để cùng phối hợp… giữ vững môi trường kinh doanh cạnh tranh lành mạnh. Đồng thời, thúc đẩy hợp tác giữa các nhà sản xuất với nhau, tạo chuỗi liên kết đồng bộ bền vững giữa các nhà sản xuất ở khâu luyện và cán thép.

Tại thị trường xuất nhập khẩu, theo thống kê mới nhất của TCHQ trong nửa đâu tháng 5/2017, lũy kế nhập khẩu thép đến 15/5/2007 đạt 3,61 tỷ USD – cao hơn so với cùng kỳ năm 2016 (đạt 2,6 tỷ USD). Điều này cho thấy khi nhu cầu trong nước giảm, lượng thép nhập khẩu tăng lên với tốc độ như trên trong thời gian qua, với các nhà sản xuất trong nước, áp lực sẽ rõ ràng hơn. Vì vậy, nhìn trong dài hạn, kiến nghị của các nguyên đơn trọng việc đề nghị áp thuế tự vệ đối với thép xây dựng và phôi thép nhập khẩu vẫn còn nguyên tính thời sự.

XI MĂNG

Tháng 5: Giá xi măng tiếp tục ổn định


Theo Tổng Công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam, ước lượng sản xuất của toàn ngành xi măng trong tháng 4/2107 đạt khoảng 6,3 triệu tấn, tăng 2 triệu tấn so với tháng trước. Tổng sản lượng tiêu thụ toàn ngành đạt 5,9 triệu tấn, tăng khoảng 1,5 triệu tấn so với tháng 3/2017.

Giá xi măng trong tháng 4 và tháng 5/2007 ổn định hơn so với tháng 3 do giá nguyên vật liệu đầu vào, chi phí sản xuất ổn định. Cụ thể, giá bán tại nhà máy của các Công ty xi măng thuộc Tổng Công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam tháng 5/2017 đứng ở mức 1.170 – 1.325 đồng/tấn (giá giao trên phương tiện bên mua tại nhà máy và đã có thuế VAT).

Giá bán lẻ xi măng trên thị trường cơ bản cũng ổn định trong tháng qua. Tại các tỉnh miền Bắc, miền Trung hiện phổ biến từ 1,05 – 1,55 triệu đồng/tấn, tại các tỉnh miền Nam phổ biến từ 1,46 – 1,85 triệu đồng/tấn.

Về tình hình xuất nhập khẩu, theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong tháng 4/2017, lượng xuất khẩu xi măng và clinker của Việt Nam tăng 6,7% về lượng và tăng 7,6% về trị giá so với tháng 3/2017. Cụ thể, trong tháng 4, Việt Nam đã xuất khẩu được 1.924.283 tấn xi măng và clinker, trị giá xuất khẩu thu về đạt 67.408.406 USD; tăng cả về lượng và trị giá so với tháng 3/2017, với tăng tương ứng là 6,7% và 7,6%.

Tính chung 4 tháng đầu năm, Việt Nam đã xuất khẩu được 6.723.359 tấn xi măng và clinker, tương đương với trị giá thu về đạt 235.073.896 USD. So với cùng kỳ năm 2016, lượng xuất khẩu xi măng và clinker trong 4 tháng đầu năm đã tăng 12,8% về lượng và 7,9% về trị giá.

XĂNG DẦU

Xăng dầu đã có 2 lần giảm giá trong tháng 5/2017


Trong tháng 5/2015, áp sát diễn biến của giá xăng dầu trong 15 ngày trước đó, Liên Bộ Tài chính – Công thương đã có 2 lần điều chỉnh giảm giá mặt hàng này. Đó là vào ngày 5/5 và ngày 20/5. 

Ngày 5/5, theo công văn điều hành giá bán lẻ xăng trong nước được Liên bộ Công Thương - Tài chính gửi các đầu mối kinh doanh, giá xăng bán lẻ RON 92 giảm 309 đồng một lít, về không quá 17.274 đồng; xăng E5 giảm 314 đồng, về tối đa 17.068 đồng một lít. Cùng với việc điều chỉnh giá xăng, nhà điều hành cũng giảm giá các mặt hàng dầu 64-285 đồng một lít, kg tuỳ loại. Cụ thể, dầu hoả giảm 285 đồng, về còn 12.053 đồng một lít; dầu diesel giảm về 13.603 đồng một lít (mức giảm 216 đồng). Bên cạnh đó, việc chi quỹ bình ổn giá với xăng dầu cũng được cơ quan quản lý dừng thực hiện.

Cơ sở giảm giá xăng dầu trong nước được Liên bộ lý giải là giá thành phẩm các mặt hàng này trong 15 ngày qua giảm mạnh, bình quân ở mức 62,147 USD một thùng với xăng RON 92; dầu diesel là 62,518 USD một thùng…

Vào ngày 20/5, cùng thời điểm 15h chiều, giá xăng tiếp tục được Liên Bộ điều chỉnh giảm với mức giảm 211 đồng/lít; Xăng E5: giảm 197 đồng/lít; Dầu diesel 0.05S: giảm 343 đồng/lít; Dầu hỏa: giảm 261 đồng/lít; Dầu mazut 180 đồng/lít. Sau khi thực hiện trích lập và chi sử dụng Quỹ bình ổn, xăng RON 92 xuống mức tối đa 17.063 đồng/lít. Trong khi đó, các mặt hàng dầu diesel 0.05S: giảm 343 đồng/lít, xuống mức tối đa không cao hơn 13.260 đồng/lít, và dầu hỏa giảm 261 đồng/lít xuống 11.792 đồng/lít. Xăng E5 giảm giảm 197 đồng/lít mức tối đa không cao hơn 16.871 đồng/lít. Dầu diesel giảm 216 đồng/lít, giá bán không quá 13.603 đồng/lít. Dầu hỏa giảm 285 đồng/lít, giá bán lẻ tới tay người tiêu dùng không cao hơn 12.053 đồng/lít. Dầu mazut 180CST 3.5S giảm 64 đồng/kg không cao hơn 10.902 đồng/kg.

Như vậy kể từ đầu năm đến nay, giá xăng dầu đã qua 10 kỳ điều chỉnh. Theo đó, giá xăng tăng 2 lần, giảm 5 lần, 3 lần giữ nguyên.

GAS

Giá gas đồng loạt giảm mạnh hơn 22.000 đồng/bình


Công ty TNHH MTV Dầu khí Sài Gòn (Saigon Petro) cho biết kể từ ngày 1-5 giá gas Saigon Petro giảm 22.500 đồng/bình 12 kg. Như vậy, giá bán lẻ đến người tiêu dùng là 288.000 đồng/bình 12 kg. Trong khi đó, Công ty Gas Pacific Petro, Citi Petro, Elf gas… cũng giảm 22.500 đồng/bình 12 kg. Giá đến người tiêu dùng không vượt quá 296.000 đồng/bình 12 kg.

Các công ty cho biết do giá gas thế giới tháng 5 công bố 387,5 USD/tấn, giảm 72,5 USD/tấn so với tháng trước, vì vậy các công ty điều chỉnh giảm tương ứng.

Như vậy, đây là lần thứ ba giá gas mạnh liên tiếp với tổng mức giảm 52.000 đồng/bình 12 kg.

Ô TÔ

Thị trường ôtô Việt Nam sụt giảm về lượng xe bán ra


Chiều 8/5, Hiệp hội các nhà sản xuất ôtô Việt Nam (VAMA) công bố, số xe ôtô được bán ra trên thị trường Việt Nam trong tháng Tư đạt 21.942, giảm 18% so với tháng Ba và giảm 15% so với cùng kỳ năm trước.

Theo đó, trong tháng Tư vừa qua, thị trường Việt Nam đã tiêu thụ 21.942 xe, bao gồm 10.705 xe du lịch (giảm 36%); 9.562 xe thương mại (tăng 15%) và 1.675 xe chuyên dụng (giảm 6%) so với tháng trước. Sản lượng của xe lắp ráp trong nước đạt 16.453 xe (giảm 10%) và số lượng xe nhập khẩu nguyên chiếc là 5.489 xe (giảm 35%) so với tháng Ba.

Báo cáo của VAMA cho thấy, tổng doanh số bán hàng của toàn thị trường tính đến hết Tư tăng 1% so với cùng kỳ năm ngoái. Xe ôtô du lịch tăng 10%; xe thương mại giảm 8% và xe chuyên dụng giảm 18%; xe lắp ráp trong nước giảm 5% trong khi xe nhập khẩu tăng 24% so với cùng kỳ năm ngoái.

Còn theo số liệu thống kê Tổng cục Hải quan, từ ngày 1 - 15/5, Việt Nam nhập khẩu hơn 4.700 ô tô với trị giá hơn 98 triệu USD. Giá trung bình khai báo hải quan nhập khẩu vào Việt Nam trong tháng 5/2017 là hơn 20.800 USD tương đương khoảng 470 triệu đồng/xe. Như vậy, giá xe ô tô nhập khẩu trong tháng 5 đã giảm 90 triệu đồng/xe so với với giá xe tháng 4/2017. Từ đầu năm đến ngày 15/5, Việt Nam đã chi trên 762 triệu USD để nhập khẩu hơn 38.100 xe.

Theo nhận định của các chuyên gia, sau gần nửa năm kể từ khi thuế nhập khẩu ô tô từ ASEAN vào Việt Nam giảm 10%, giá xe trong nước giảm mạnh. Tuy nhiên, người tiêu dùng đã có tâm lý chờ đợi đến đầu năm 2018 khi thuế nhập khẩu ô tô từ ASEAN về 0%.

Bên cạnh đó, trước áp lực thuế nhập khẩu ô tô trong ASEAN về 0% vào năm 2018, các hãng xe sản xuất, lắp ráp trong nước cũng đã tính đến việc cắt giảm các dòng xe sản xuất ở Việt Nam, thay vào đó là nhập khẩu.

Trước dự báo doanh số bán xe sẽ ảm đạm đến tận cuối năm, để kích cầu tiêu dùng trong nước, các nhà sản xuất và kinh doanh ô tô hiện nay đang tích cực khuyến mãi, giảm giá.

Chỉ trong một thời gian ngắn, giá xe tại thị trường Việt Nam liên tục biến động. Từ đầu năm đến nay, các thương hiệu ô tô đã có tới 4 đợt giảm giá liên tục được thực hiện ồ ạt tại thị trường Việt Nam.

Đáng chú ý là doanh số sụt giảm mạnh nhất lại thuộc về mảng xe du lịch. Thống kê chi tiết cho thấy, trong tháng 4, thị trường Việt chỉ tiêu thụ được 10.705 xe du lịch, giảm tới 36% so với tháng trước đó. Trong khi đó, mảng xe thương mại lại tăng doanh số với 9.562 xe thương mại, tăng 15% và xe chuyên dụng đạt 1.675 xe, giảm 6% so với tháng trước.

Cũng trong tháng 5/2017,  các doanh nghiệp nhập khẩu ô tô đã kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ trước nguy cơ bị truy  thu thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB). Tuy nhiên, những kiến nghị này đã bị Bộ Tài chính bác bỏ.

Cụ thể, theo các DN, Thông tư 130/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định các DN có phát sinh nhập khẩu ô tô trước ngày 1.7.2016 nhưng xuất hóa đơn sau ngày này sẽ phải nộp thuế theo luật thuế TTĐB mới. Nhưng không ít DN ký phiếu bán xe cho khách trước 1.7 nhưng hàng không kịp làm thủ tục thông quan, không thể xuất hóa đơn trước ngày 1.7.2016. Có trường hợp có xe nhập về từ năm 2015 nhưng tồn kho đến nay không bán được, nếu phải chịu truy thu thuế TTĐB theo Thông tư 130, DN mất hoàn toàn vốn, rơi vào phá sản, giải thể.

Do đó, các DN mong muốn Chính phủ, Bộ Tài chính xem xét cho phép DN nhập khẩu ô tô mở tờ khai trước ngày 1.7.2016 vẫn được tính thuế theo biểu thuế cũ khi xuất hóa đơn sau ngày 1.7.2016. Đồng thời, chỉ áp dụng thu thuế TTĐB theo Thông tư 130 của Bộ Tài chính cho các xe bán ra xuất hóa đơn sau 45 ngày, kể từ ngày 1.7.2016.

Tuy nhiên, chiều 9.5, Bộ Tài chính có văn bản khẳng định những kiến nghị của DN là không phù hợp. Bộ Tài chính cho rằng quy định tại Nghị định 108/2015/NĐ-CP có hiệu lực từ 1.1.2016 nêu rõ: “Thời điểm phát sinh doanh thu đối với hàng hóa là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hàng hóa cho người mua, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền. Đối với dịch vụ là thời điểm hoàn thành việc cung ứng dịch vụ hoặc thời điểm lập hóa đơn cung ứng dịch vụ, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa.

Vẫn theo Bộ Tài chính, Thông tư số 130 ngày 12.8.2016 có nêu: “Trường hợp cơ sở kinh doanh nhập khẩu ô tô trước ngày 1.7.2016 nhưng bán ra từ ngày 1.7.2016 thì khi bán ra cơ sở kinh doanh phải kê khai nộp thuế TTĐB theo mức thuế suất quy định tại luật số 106/2016/QH13 vì luật này có hiệu lực từ ngày 1.7.2016”.

Nhận định về thị trường ô tô ở thời điểm hiện tại, trong báo cáo mới nhất về tình hình công nghiệp ô tô, Bộ Công Thương thừa nhận giá bán ô tô tại Việt Nam vẫn ở mức cao so với các nước trong khu vực. Ví dụ, mức giá ô tô tại Việt Nam cao hơn gần hai lần so với Thái Lan và Indonesia. Con số này còn lớn hơn nếu so với các nước có ngành công nghiệp ô tô đã phát triển ổn định như Mỹ và Nhật Bản.

“Nguyên nhân lớn nhất khiến giá ô tô ở mức cao là do thuế và phí của nước ta cao, đồng thời sản lượng tích lũy trong nước thấp - các doanh nghiệp đang sản xuất dưới rất xa so với công suất thiết kế. Chất lượng xe sản xuất, lắp ráp trong nước mặc dù đã được cải thiện nhưng vẫn không bằng xe nhập khẩu” - Bộ Công Thương giải thích.

Để tạo điều kiện phát triển công nghiệp ô tô trong nước, Bộ Công Thương cho hay đang nghiên cứu áp dụng biện pháp tự vệ thương mại khi ô tô nguyên chiếc nhập khẩu gia tăng đột biến và ảnh hưởng đáng kể đến sản xuất trong nước… Như vậy, không loại trừ khả năng tới đây thuế, phí với nhiều dòng xe sẽ tăng lên.

THỦY SẢN 

Xuất khẩu thủy sản 5 tháng đầu năm 2017 đạt 2,8 tỷ USD


Hiệp hội chế biến và XK thủy sản (VASEP) cho biết, trong tháng 5/2017 giá cá tra nguyên liệu tại ĐBSCL hiện dao động ở khoảng 25.000 – 26.500 đ/kg. Mặc dù tăng 2.500 – 3.000 đ/kg so với cùng kỳ năm 2016  song mức giá này đã giảm từ 1.000 – 1.500 đ/kg so với thời điểm đạt đỉnh vào đầu tháng 4/2017

VASEP dự báo trong nửa cuối năm nay giá cá tra sẽ ổn định hơn do lượng thu hoạch tăng lên, nguồn giống cá sẽ lấp dần khoảng trống thiếu hụt. Dù vậy, hiệp hội này cũng cho biết nguồn cá tra nguyên liệu cho nhà máy vẫn còn thiếu do sản lượng thu hoạch vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu.

Theo thống kê của Tổng cục Thủy sản (Bộ NN&PTNT), sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng 5/2017 ước đạt 370.000 tấn, tăng 3,3% so với kỳ năm trước, đưa sản lượng 5 tháng đạt hơn 1,2 triệu tấn, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm 2016. Đối với cá tra, các DN chế biến tiếp tục đẩy mạnh thu mua cá nguyên liệu để phục vụ thị trường xuất khẩu, nhất là xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc.

Sản lượng thu hoạch cá tra 5 tháng đầu năm 2017 của các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long đạt 465.900 tấn, tăng 11,1%. So với cùng kỳ, diện tích nuôi hiện có ước đạt 3.092ha (giảm 6,2%). Sản lượng thu hoạch ở các tỉnh có sản lượng nuôi lớn nhất đều tăng như An Giang (tăng 11,8%), Đồng Tháp (tăng 3,2%), Cần Thơ (tăng 50,1%). Theo xu hướng giảm của giá cá tra nguyên liệu thì giá cá giống cũng có xu hướng hạ nhiệt, giá cá giống cỡ từ 1,5 – 2,5cm dao động từ 27.000 – 50.000 đồng/kg, giảm khoảng 3.000 – 5.000 đồng/kg so với tháng trước. Ở vào thời điểm tháng 4, giá cá tra giống đã vượt mốc 60.000 đồng/kg. Giá cá tăng cao trong khi nguồn cung hạn chế đã gia tăng áp lực lên các nhà máy chế biến xuất khẩu.

Đối với tôm nước lợ, một số vùng nuôi do nước mặn vào trễ và độ mặn thấp nên người nuôi vẫn đang chờ để thả giống như Quảng Ngãi, Sóc Trăng, Kiên Giang. Trong tháng 5/2017, thời tiết xuất hiện những cơn mưa trái mùa gây biến đổi đột ngột các yếu tố môi trường trong ao nuôi làm tôm dễ bị sốc, suy giảm sức đề kháng và mẫn cảm với tác nhân gây bệnh. Diện tích nuôi tôm nước lợ của cả nước ước đạt 597.000ha, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm 2016, sản lượng thu hoạch ước đạt 144.000 tấn (tăng 46,2%). Một số hộ thả nuôi tôm công nghiệp ở Đồng bằng sông Cửu Long đã vào vụ thu hoạch đầu năm 2017. Giá tôm đang ở mức khá cao, tôm sú loại 15 con/kg giá 340.000 đồng, loại 25 - 30 con/kg giá 230.000 đồng/kg, tôm chân trắng loại 60 con/kg giá 135.000 đồng, loại 80 con/kg giá 110.000 đồng, loại 120 con/kg giá 85.000 đồng.

Về xuất khẩu, giá trị xuất khẩu thủy sản tháng 5/2017 ước đạt 618 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu thủy sản 5 tháng đầu năm 2017 ước đạt 2,8 tỷ USD, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm 2016. Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc là 4 thị trường nhập khẩu hàng đầu của thủy sản Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2017, chiếm 53,5% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản. Trong 4 tháng đầu năm 2017, các thị trường có giá trị xuất khẩu thủy sản tăng mạnh là Trung Quốc (30,7%), Nhật Bản (30,6%), Hàn Quốc (29,7%), Hà Lan (26,8%) và Canada (13,3%).

Dù đạt được những kết quả khả quan trong những tháng đầu năm, tuy nhiên mới đây Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường cho biết, hiện nay, ngành thủy sản nước ta đang gặp khó khăn trong khâu chế biến, do đó bị tư thương ép giá. Cũng vì không có chuỗi chế biến sâu nên sản phẩm làm ra chủ yếu xuất thô, chuỗi giá trị không cao.

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường đưa ra một số giải pháp chủ yếu như tập trung khai thác đa tầng, mỗi chủng loại có phương thức khai thác riêng và có hình thức chế biến riêng, nhưng tựu trung là tập trung chế biến sâu. Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cho rằng, có chế biến sâu thì mới giải quyết được chuỗi giá trị dài, giải quyết được lao động.

“Chính phủ đang thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ khai thác và chế biến thủy sản. Gói 100.000 tỷ đồng hiện tại đã giải quyết được xấp xỉ 30.000 tỷ đồng, hướng tới đẩy mạnh vào khâu chế biến, trong đó có việc chỉnh sửa Nghị định 210, ưu tiên nhóm chế biến sản phẩm”, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cho biết.

LÚA GẠO

Xuất khẩu gạo có nhiều tín hiệu lạc quan sau thời gian dài trầm lắng


Sau một thời gian dài rơi vào trầm lắng, tình hình xuất khẩu gạo hiện đang ấm dần với những tín hiệu khá lạc quan. Mặc dù chưa thực sự tạo ra đột biến nhưng những tín hiệu này đã góp phần giúp thị trường lúa gạo Việt Nam sôi động trở lại.

Mặc dù xuất khẩu gạo của cả nước trong 4 tháng đầu năm 2017 vẫn còn thấp hơn cùng kỳ năm trước khá lớn - khoảng 14%, tuy nhiên, từ tháng Tư đến nay, hoạt động này bắt đầu có dấu hiệu hồi phục. Số lượng gạo xuất khẩu trong tháng này đã tăng trở lại mức bình thường và cao hơn tháng trước đó cũng như cùng kỳ năm 2016.

Trong tháng 5/2017, xuất khẩu gạo ước đạt 538 nghìn tấn với giá trị đạt 245 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu gạo 5 tháng đầu năm 2016 ước đạt 2,3 triệu tấn và 1 tỷ USD, tăng 1,6% về khối lượng và tăng 1,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Và với mặt hàng nông nghiệp này, Trung Quốc vẫn tiếp tục đứng vị trí thứ nhất về thị trường nhập khẩu gạo của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2017 với 47,5% thị phần.

Ông Huỳnh Thế Năng, Chủ tịch VFA cho biết Philippines đang xem xét nhập khẩu 250.000 tấn gạo để bổ sung tồn kho đệm trong những tháng không thu hoạch từ tháng 7-9. Còn Trung Quốc, tuy kiểm soát chặt chẽ việc mua bán qua biên giới nhưng thị trường này lại tăng cường nhập khẩu chính ngạch.

Đáng chú ý, Bangladesh có kế hoạch nhập khẩu 600.000 tấn gạo để bù đắp thiệt hại bởi mất mùa do lũ lụt, trong đó, sẽ có khoảng 50.000-100.000 tấn gạo trắng, còn lại là gạo đồ. Việt Nam sẽ là một trong những quốc gia mà nước này muốn nhập khẩu gạo trong thời gian tới.

Dù trước đó có những lo ngại về những nguy cơ khiến vụ lúa Hè Thu có thể bị "ách tắc," song ông Lâm Anh Tuấn, Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Lương thực Thịnh Phát (Bến Tre) nhận định từ nay đến hết năm 2017, tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam sẽ tốt hơn so với những tháng vừa qua.

Theo ông Tuấn, Thái Lan đã xả gần hết lượng gạo tồn kho, phần còn lại không đáng kể. Đây là một trong những yếu tố quan trọng giúp thương mại gạo không chỉ riêng Việt Nam mà của toàn cầu sẽ trở lại quỹ đạo cũ, không bị áp lực lớn như thời gian vừa qua. Mặt khác, giá gạo xuất khẩu Việt Nam đã giảm nhẹ so với trước đó, trong khi mặt bằng giá của các nguồn cung khác lại cao hơn. Hiện giá gạo 5% tấm của Thái Lan, Ấn Độ hay Pakistan đều trên 390 USD/tấn, còn gạo Việt Nam chỉ hơn có giá khoảng 350-360 USD/tấn. Điều này giúp các doanh nghiệp cạnh tranh được với gạo của các nước.

Mặc dù có nhiều tín hiệu tích cực, một số doanh nghiệp cho rằng những tín hiệu trên vẫn chưa đủ sức tạo sự đột biến để thay đổi cục diện cho vấn đề xuất khẩu gạo của Việt Nam hiện nay. Vẫn không ít lo ngại về việc liệu các doanh nghiệp Việt có tiếp cận được với những nhu cầu này không. Hiện ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đã bắt đầu vào vụ thu hoạch lúa Hè Thu, giá lúa nội địa cũng đang có xu hướng nhích lên. Các doanh nghiệp đang theo dõi tình hình để mua vào nhằm đáp ứng các nhu cầu mới.

CÀ PHÊ

Giá cà phê tăng, xuất khẩu giảm về lượng nhưng tăng về giá trị


Theo thông tin từ Bộ NNPTNT, mặc dù trong tuần cuối cùng của tháng 5 giá cà phê liên tục biến động mạnh, với một số phiên giảm sâu, song tính chung cả tuần và cả tháng 5.2017, giá cà phê vẫn tăng theo xu hướng tăng của thị trường cà phê thế giới. Cụ thể, so với cuối tháng 4.2017, thời điểm cuối tháng 5 giá cà phê vối nhân xô các tỉnh Tây Nguyên đã tăng 900 đồng/kg lên mức 43.200 – 43.700 đồng/kg.

Trong ngày 27.5, giá cà phê robusta loại 2, 5% hạt đen và vỡ tại cảng TP.HCM (FOB) được chào bán ở mức cộng 30 – 40 USD/tấn so với phiếu kỳ hạn tháng 7 trên sàn ICE London, một tuần trước đó mức cộng là 20 – 40 USD/tấn. Mặc dù tăng giá, song giao dịch cà phê tại thị trường Việt Nam trong tháng qua vẫn tiếp tục trầm lắng.

Cũng theo ước tính của Bộ NNPTNT, xuất khẩu cà phê tháng 5.2017 ước đạt 105 nghìn tấn với giá trị đạt 233 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu cà phê 5 tháng đầu năm 2017 ước đạt 693 nghìn tấn và 1,57 tỷ USD, giảm 15,9% về khối lượng nhưng tăng 11% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Giá cà phê xuất khẩu bình quân 4 tháng đầu năm 2017 đạt 2.267 USD/tấn, tăng 33,5% so với cùng kỳ năm 2016. Đức và Hoa Kỳ tiếp tục là hai thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2017 với thị phần lần lượt là 16,9% và 15,4%. Các thị trường có giá trị xuất khẩu cà phê trong 4 tháng đầu năm 2017 tăng mạnh là: Bỉ (46,6%), Hoa Kỳ (42,5%), Angieri (38,8%), Đức (29,1%), Italia (26%), Nhật Bản (21,8%) và Tây Ban Nha (11,7%).

ĐƯỜNG

Lượng đường tồn kho kỷ lục


Tại hội nghị "Giải pháp tiêu thụ đường bền vững" diễn ra ngày 24-5 tại TP HCM, các doanh nghiệp (DN) sản xuất đường trong nước cho biết chưa khi nào lượng đường tồn kho cao và tiêu thụ khó khăn như hiện nay. Nguyên nhân chủ yếu vẫn là do đường nhập lậu tràn lan, sức tiêu thụ của thị trường kém.

Theo Hiệp hội Mía đường, lượng đường tồn kho từ đầu vụ hiện lên đến 479.000 tấn, tổng sản lượng đường sản xuất đến ngày 19-5 đã hơn 1,36 triệu tấn, trong khi lượng tiêu thụ chỉ 1,09 triệu tấn, đẩy mức tồn kho lên trên 700.000 tấn. Đây là lượng đường tồn kho cao nhất so với cùng kỳ nhiều năm.

Ông Phạm Quốc Doanh, Chủ tịch Hiệp hội Mía đường, giải thích tồn kho lớn là do thời tiết ảnh hưởng đến thời vụ, các nhà máy đường vào vụ ép chậm hơn kế hoạch, thậm chí nhiều nhà máy không hoạt động được liên tục. Do giá cao hơn đường nhập lậu 1.000-2.000 đồng/kg khiến đường trong nước kém cạnh tranh. Công tác chống gian lận thương mại tuy có nhiều cố gắng nhưng không cải thiện được tình hình, thậm chí nạn buôn lậu mặt hàng này ngày càng tăng.

Ông Đặng Phú Quý, đại diện Công ty Đường Quảng Ngãi, phân tích nguyên nhân tồn kho còn do sức tiêu thụ đường trong nước giảm mạnh bởi bánh ngọt nước ngoài tràn vào ào ạt.

Ông Lê Công Thành, Phó Chủ tịch Công ty Mía đường Lam Sơn, nhận định giá đường trong nước rất khó giảm để cạnh tranh do giá thu mua mía cao hơn Thái Lan 35%-45%, Úc 50%. Vả lại, các nhà máy đã ký kết giá thu mua mía với nông dân từ đầu vụ nên khó giảm. "Toàn bộ làng nghề ở Hà Nội năm nay không lấy đường của chúng tôi. Các nhà máy lớn đăng ký mua nhiều nhưng chỉ nhận nhỏ giọt, chưa đến 50%. Tình trạng chưa từng xảy ra trong 20 năm qua là vào tháng 4-5, giá đường lại giảm" - ông Thành nhấn mạnh.

Trong khi đó, hiện có nhiều chất tạo ngọt có thể thay thế đường cũng tác động mạnh đến tình hình tiêu thụ đường mía.

Theo ghi nhận của Hiệp hội mía đường Việt Nam (VSSA), vào ngày 3/5 vừa qua, giá bán buôn đường kính trắng ở Hà Nội từ 15.600-16.300 đồng/kg, miền Trung từ 15.000-15.400 đồng/kg, Thành phố Hồ Chí Minh từ 15.600-16.400 đồng/kg. Thế nhưng, giá đường Thái Lan nhập lậu ở Cửa khẩu Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị trong ngày 3/5 vừa qua chỉ có 14.000 đồng/kg, ở Đông Hà 14.500 đồng/kg, ở biên giới Tây Nam 14.500 đồng/kg và ở Thành phố Hồ Chí Minh là 15.000 đồng/kg.

Điều đáng nói là khoảng cách giữa giá đường trong nước với giá đường nhập lậu đang được nới ra. Nếu như ngày 3/4, giá đường lậu ở Thành phố Hồ Chí Minh thấp hơn đường kính trắng trong nước từ 500-1.000 đồng/kg, đúng một tháng sau đó (ngày 3/5 vừa qua), giá đường lậu thấp hơn từ 600-1.400 đồng/kg.

Do đó, để hỗ trợ các nhà máy đường đẩy mạnh tiêu thụ, giảm lượng đường tồn kho đang quá cao hiện nay, mới đây, VSSA cũng có văn bản gửi Bộ Công Thương xem xét cho phép tổ chức đấu giá hạn ngạch thuế quan nhập khẩu đường năm nay trong quý 3 tới và nhập khẩu đường hạn ngạch thuế quan năm nay trong quý 4 năm nay.

CAO SU

Xuất khẩu cao su 51 nghìn tấn, giảm về lượng nhưng tăng 61,5% về giá trị so với cùng kỳ


Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, tháng 5/2017, khối lượng xuất khẩu cao su của Việt Nam ước đạt 51 nghìn tấn với giá trị đạt 100 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu cao su 5 tháng đầu năm 2017 ước đạt 353 nghìn tấn và 708 triệu USD, giảm 1,5% về khối lượng nhưng tăng 61,5% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Giá cao su xuất khẩu bình quân 4 tháng đầu năm 2017 đạt 2.016 USD/tấn, tăng 68,8% so với cùng kỳ năm 2016.

Trung Quốc, Hàn Quốc, và Malaysia là 3 thị trường tiêu thụ cao su lớn nhất của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2017, chiếm thị phần lần lượt 63,1%, 4,9% và 3,7%. Giá trị xuất khẩu cao su sang 3 thị trường này lần lượt là: 383,7 triệu USD (+89,9%), 29,6 triệu USD (gấp gần 2,5 lần) và 22,6 triệu USD ( -22,3%) so với cùng kỳ năm 2016.

Ở chiều ngược lại, khối lượng nhập khẩu cao su trong tháng 5/2017 ước đạt 42 nghìn tấn với giá trị đạt 97 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu cao su 5 tháng đầu năm 2017 lên 200 nghìn tấn và 449 triệu USD, tăng 25,1% về khối lượng và tăng 88,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Bốn thị trường nhập khẩu cao su chủ yếu trong 4 tháng đầu năm 2017 là Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan và Campuchia, chiếm 57,2% thị phần. Trong 4 tháng đầu năm 2017, giá trị cao su ở tất cả các thị trường nhập khẩu đều tăng. Trong đó, thị trường có giá trị tăng trưởng mạnh nhất so với cùng kỳ năm 2016 là thị trường Indonesia (tăng hơn 3 lần).

HẠT TIÊU

Giá hồ tiêu tụt dốc thấp nhất trong vòng 6 năm trở lại đây


Theo thông tin mới đây của Bộ NNPTNT, khối lượng tiêu xuất khẩu tháng 5.2017 ước đạt 22 nghìn tấn, với giá trị đạt 119 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu tiêu 5 tháng đầu năm 2017 ước đạt 99 nghìn tấn và 586 triệu USD, tăng 9,9% về khối lượng nhưng giảm 18,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Giá tiêu xuất khẩu bình quân 4 tháng đầu năm 2017 đạt 6.106 USD/tấn, giảm tới 24,7% so với cùng kỳ năm 2016. Các thị trường xuất khẩu tiêu lớn nhất của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2017 là Hoa Kỳ, Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, Pakistan, Ấn Độ và Đức với 40,1% thị phần.

Đáng chú ý là trong xu thế giảm giá của thị trường thế giới, giá hạt tiêu tại Việt Nam cũng đang giảm mạnh ở các vùng nguyên liệu lớn, thậm chí có thời điểm chỉ còn dưới 80.000 đồng/kg – mức giá này chưa bằng một nửa so với cùng kỳ năm 2016 và là mức thấp nhất trong vòng 6 năm qua.

Bộ NNPTNT lý giải giá hồ tiêu chạm đáy là do nhu cầu thu mua của các thương lái, nhà buôn giảm, kèm theo việc gia tăng diện tích trong những năm qua khiến sản lượng hồ tiêu của Việt Nam tăng tương đối khá, đóng góp vào thị trường thế giới khoảng 30.000 tấn tiêu nguyên liệu.

Trong khi đó, việc các DN giảm hẳn mua tiêu để dự trữ cũng góp phần khiến giá tiêu giảm mạnh. Các DN hầu như chỉ đang mua lượng tiêu vừa đủ để đáp ứng cho các phiếu đã ký mà không mua thêm để trữ sẵn trong kho. Do đó, tiêu hiện trữ trong dân là chính. Thông tin từ một số DN cho hay, một lượng tiêu không nhỏ ở Campuchia đang được đưa về Việt Nam, làm gia tăng đáng kể lượng tiêu đang có trong nước, góp phần đẩy giá tiêu giảm xuống.

(TTGCVT tổng hợp)

Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (04) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (04) 39762593 
Email: ttgcvattu@yahoo.com