Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Thị trường hàng hóa nguyên liệu trong nước tháng 4/2017
Cập nhật: 3-5-2017

VÀNG

Thị trường vàng trong nước chịu tác động mạnh bởi giá thế giới, giá vàng “bứt phá” chạm mốc 37 triệu đồng mỗi lượng


Không còn trạng thái “bình lặng” như trong tháng 3, giá vàng tháng 4/2017 một lần nữa cho thấy khả năng chịu tác động mạnh mẽ bởi các thông tin trên thị trường tài chính thế giới, đặc biệt qua các biến động về chính trị và xung đột quân sự. Trước các biến động này, vàng trở thành kênh “trú ẩn” an toàn của các nhà đầu tư, khiến cho giá vàng tăng nóng dần qua các phiên giao dịch. Trong tháng 4/2017, giá vàng đã có những thời điểm “bứt phá” chạm tới mốc sát 37 triệu đồng  - một mức giá chưa phải là cao nhưng là mức giá cho thấy giá vàng luôn trong trạng thái “sẵn sàng” tăng bất cứ khi nào và nằm ngoài dự đoán của nhiều chuyên gia, nhiều nhà đầu tư.

Trong tuần đầu tháng 4, mức giá của các thương hiệu vàng trong nước gần như đi ngang, dao động ở khoảng 36,35 – 36,40 triệu đồng/lượng (chiều mua vào) và 36,57 – 36,62 triệu đồng/lượng (chiều bán ra). Tuy nhiên, theo ý kiến các chuyên gia, ở thời điểm nhạy cảm khi thị trường thế giới vẫn chấp chới đan xen xu hướng tăng giảm do ảnh hưởng bởi các thông tin kinh tế chính trị Mỹ – thị trường số 1 thế giới, các nhà đầu tư trong nước nên giao dịch cân đối an toàn, nhằm tối ưu hoá lợi nhuận. Kết thúc tuần giao dịch, giá vàng lúc 8h30’ sáng 7/4 có xu hướng tăng nhẹ và ở mức 36,40 – 36,60 triệu đồng/lượng và hiện vẫn đang cao hơn giá vàng thế giới khoảng 2 triệu đồng mỗi lượng.

Bước sang tuần thứ 2, giá vàng trong nước đã bật tăng mạnh theo giá vàng thế giới trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông và bán đảo Triều Tiên đã đẩy nhu cầu mua vàng trú ẩn lên cao. Trong hai phiên đầu tuần, giá vàng neo ở mức 36,40 – 36,62 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra). 3 phiên giao dịch sau đó, giá vàng đã dần tiến đến mức sát ngưỡng 37 triệu đồng/lượng. Tuy nhiên, theo nhận định của đại diện Công ty VBĐQ PNJ, thị trường vàng trong nước vẫn khá ổn định, không còn tình trạng người dân đổ xô đi mua vàng như những năm về trước, trên thị trường hiện nay đa số vẫn chỉ là các giao dịch nhỏ lẻ. Kết thúc tuần giao dịch, lúc 9h07’ ngày 14/4, giá vàng neo ở mức 36,76 – 36,98 triệu đồng/lượng và cao hơn giá thế giới khoảng 1,7 triệu đồng mỗi lượng.

Trung tuần tháng 4, giá vàng trong nước đã đánh mất mốc 37 triệu đồng. Giá giảm dần qua các phiên, dao động ở khoảng 36,53 – 36,92 triệu đồng/lượng (chiều mua vào) và 36,72 – 37,19 triệu đồng/lượng (chiều bán ra). Theo Doji, diễn biến tăng giảm trong biên độ hẹp khi chưa xác định rõ được hướng đi của giá vàng, bởi vậy đã khiến các nhà đầu tư trong nước không mặn mà tham gia giao dịch. Tâm lý suy xét, án binh bất động là tâm lý chung của đa số nhà đầu tư ở giai đoạn này. Kết thúc tuần giao dịch, giá vàng phiên giao dịch đầu giờ sáng ngày 21/4 neo ở mức 36,66 – 36,76 triệu đồng/lượng và chênh lệch cao hơn giá vàng thế giới xấp xỉ 2 triệu đồng mỗi lượng.

Trong tuần cuối cùng, xu hướng giảm giá nhẹ được xem là chủ đạo của thị trường vàng. Theo Doji, kim loại quý trong nước tương đối ổn định cùng chiều với xu hướng của thị trường vàng quốc tế do sự hồi phục trở lại của đồng bạc xanh và thị trường chứng khoán thế giới. Bên cạnh đó những thông tin liên quan tới cuộc bầu cử tổng thống Pháp hay những động thái của tổng thống Mỹ tác động tới Triều tiên vẫn là những thông tin nóng hổi mà thị trường vàng toàn cầu đang quan tâm. Thị trường ghi nhận lượng khách với tâm lý mua bắt đáy, tuy nhiên lực mua còn khá mỏng, các nhà đầu tư lớn hầu như không tham gia vào thị trường. Đến sáng ngày 27/4, giá vàng SJC của công ty VBĐQ Sài Gòn giao dịch ở ngưỡng 36,53  triệu đồng/ lượng (mua vào)- 36,73 triệu đồng/ lượng (bán ra) tại thành phố Hồ Chí Minh; 36,53 triệu đồng/lượng (mua vào)- 36,75 triệu đồng/lượng ( bán ra) ở thị trường Hà Nội. Chênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới ở ngưỡng 1,95 triệu đồng/lượng (tỷ giá ngân hàng Vietcombank ngày 27/04/2017 lúc 11h30 chưa kể thuế và phí).

ĐÔ LA

Tỷ giá trung tâm liên tục tăng và đạt mức cao kỷ lục 22.347 đồng/USD.

Bước sang tháng 4/2017, tỷ giá giao dịch đồng USD liên tục ở trong trạng thái “căng thẳng” và luôn biến động không ngừng. Đặc biệt tỷ giá trung tâm của NHNN đã có thời điểm đạt mức cao nhất kể từ đầu năm. Mặc dù NHNN đã có những hành động can thiệp vào thị trường ngoại hối với mục tiêu bình ổn thị trường, tuy nhiên tỷ giá đồng bạc xanh luôn neo ở mức cao, điều này cho thấy đồng USD vẫn luôn khẳng định vai trò là một kênh tài chính phản ánh những biến động không ngừng nghỉ của thị trường.

Trong tuần đầu tháng 4, tỷ giá trung tâm đã tăng liên tiếp đạt mức cao kỷ lục kể từ đầu năm. Ngoại trừ ngày nghỉ lễ (Giỗ tổ 10/3), còn lại 4 phiên trong tuần, tỷ giá tăng “nóng” qua từng ngày, dao động ở khoảng 22.281 – 22.311 đồng/USD. Từ đầu năm đến nay, tỷ giá trung tâm đã tăng gần 0,7%. Tuy nhiên, tại các NHTM, tỷ giá giao dịch đồng USD lại chỉ biến động nhẹ. 9 giờ sáng 7/4, Vietcombank nâng giá USD 5 đồng so với phiên trước đó và được niêm yết tại ngân hàng này ở mức 22.645 đồng mua vào và 22.715 đồng bán ra. Giá bán USD tại các ngân hàng thương mại khác cũng phổ biến ở mức 22.700 - 22.720 đồng.

Ở tuần thứ 2 trong tháng, tỷ giá trung tâm dao động ở khoảng 22.316 – 22.321 đồng/USD. Trong 3 phiên đầu tuần, tỷ giá tăng dần và có xu hướng giảm ở 2 phiên cuối tuần. Tại các NHTM, tỷ giá đồng USD chỉ biến động nhẹ. Cụ thể, lúc 8 giờ 20 phút ngày 14/4 tại Vietcombank, niêm yết giá USD ở mức 22.635– 22.705 VND/USD (mua vào – bán ra), tăng 5 đồng so với cùng thời điểm sáng hôm trước. Tại Vietinbank giá đồng bạc xanh vẫn giữ nguyên so với ngày hôm trước, ngân hàng này đang niêm yết ở mức 22.630 – 22.710 VND/USD (mua vào – bán ra).

Trong tuần này, vào ngày 11/4, NHNN đã có quyết định tăng tỷ giá mua vào từ mức 22.575 đồng/USD lên mức 22.675 đồng/USD (tỷ giá giao dịch giữa NHNN với các TCTD), tương đương với mức tăng 0,4%. Lần điều chỉnh tỷ giá mua vào gần nhất của NHNN diễn ra ngày 9/1/2017. Động thái này của NHNN được xem là khá bất ngờ bởi cán cân thương mại thâm hụt tới 1,9 tỷ USD trong 3 tháng đầu năm 2017. Tuy nhiên, xét về toàn cảnh của thị trường tiền tệ hiện nay thì quyết định trên của NHNN được xem là giải quyết được nhiều mục tiêu cùng một lúc. Đó là mục tiêu chặn đà rơi của tỷ giá, đồng thời tăng dự trữ ngoại hối. Mặt khác đó là tăng cung tiền VND nhằm hạ nhiệt lãi suất trên thị trường liên ngân hàng. Chưa rõ liệu NHNN có mua được ngoại tệ hay không, nhưng động thái trên đã giải quyết được nhiều vấn đề. Nếu không mua được thì đồng nghĩa với tỷ giá trên thị trường sẽ đảo chiều tăng lên. VND mất giá so với các đồng tiền khác sẽ khiến cho các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu. Còn nếu ngược lại, NHNN mua được ngoại tệ từ các TCTD thì cung tiền trong nền kinh tế sẽ tăng lên, mặt bằng lãi suất khi đó sẽ có xu hướng giảm. Qua đó, các doanh nghiệp có cơ hội vay vốn với mức giá thấp hơn để mở rộng sản xuất kinh doanh, kích thích GDP tăng trưởng.

Bước sang tuần thứ 3, tỷ giá dao động ở khoảng 22.322 – 22.335 đồng/USD. Tuy nhiên, trái ngược với xu hướng tăng của tỷ giá trung tâm, tại các NHTM, tỷ giá giao dịch đồng bạc xanh lại giảm mạnh qua các phiên. Cụ thể, lúc 8 giờ 20 phút ngày 21/4, Vietcombank niêm yết giá USD ở mức 22.675– 22.745 VND/USD (mua vào – bán ra), giảm 20 đồng ở cả chiều mua và bán so với cùng thời điểm sáng hôm trước. Tại Techcombank giá đồng bạc xanh cũng được điều chỉnh giảm 10 đồng ở chiều mua vào và 30 đồng ở chiều bán ra so với cùng thời điểm sáng hôm trước, ngân hàng này niêm yết ở mức 22.680– 22.760 VND/USD (mua vào – bán ra).

Tuần cuối cùng của tháng 4, tỷ giá trung tâm vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt. Vào ngày 27/4, tỷ giá neo ở mức 22.347 đồng/USD được xem là mức cao nhất trong tháng 4/2017. Tuy nhiên, tới đầu giờ chiều 27/4, đa số các ngân hàng giữ nguyên tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ và phổ biến ở mức 22.700 đồng (mua) và 22.770 đồng (bán).

THÉP

Giá thép có xu hướng giảm trong tháng 4

Theo ông Nguyễn Văn Sưa, Phó chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA: Do giá thép nguyên liệu thế giới đang trong xu hướng giảm và nhiều nhà phân phối xả hàng đầu cơ, nên giá thép giảm nhẹ.

Tại thị trường trong nước, giá thép xây dựng bán cuối tháng 3/2017 vào khoảng 11.000 - 11.200 đồng/kg ở cả phía Bắc và phía Nam, giảm nhẹ khoảng 400 đồng/kg. Sang đầu tháng 4, giá bán thép tiếp tục giảm từ 200 - 400 đồng/kg.

Giá phôi thép sau khi tiếp tục đà tăng hồi đầu tháng 3/2017 ở mức 445 - 450 USD, đến nay cũng đã giảm khoảng 10 USD/tấn, hiện còn 430 - 440 USD/tấn. Trong khi đó, thép cuộn cán nóng cũng giảm 34 USD/tấn so với hồi đầu tháng 3, hiện chỉ còn 475 - 480 USD/tấn.

VSA cho biết, mức giá giảm là do các nhà phân phối tiếp tục xả hàng đầu cơ và sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các nhà sản xuất trong nước trong việc duy trì thị phần.

Trong quý I/2017, sản xuất thép trong nước tăng trưởng tốt, đạt hơn 4,6 triệu tấn, tăng 18,8% so với cùng kỳ 2016. Bán hàng thép trong nước tăng trưởng khá, đạt hơn 3,76 triệu tấn, tăng 6,5% so với cùng kỳ 2016. Nhìn chung, sản xuất và bán hàng các sản phẩm thép quý I có sự tăng trưởng tốt so với cùng kỳ năm 2016. Tuy nhiên, mức tăng trưởng bán hàng này đạt thấp hơn so với mức dự báo của năm 2017 là 12%.

Cũng theo báo cáo từ Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), tính đến hết tháng 3, lượng tồn kho thép xây dựng là hơn 576.000 tấn, tăng 17% so với thời điểm cuối tháng 2/2017. Như vậy, lượng tồn kho trong quý I đã liên tục tăng. Mặc dù chưa đáng lo ngại nhưng VSA cho rằng, cần có những động thái cụ thể để đẩy mạnh tiêu thụ hàng, xuất khẩu, giảm tồn kho trong thời gian tới.

Còn theo số liệu mới được công bố của TCHQ, trong nửa đầu tháng 4/2017, lượng sắt thép Việt Nam xuất khẩu đã giảm 62,8%, tương ứng giảm 108 triệu USD. Về nhập khẩu lại tăng 13,2%, tương ứng tăng 56 triệu USD. Lũy kế đến 15/4 nhập khẩu là xấp xỉ 3 tỷ USD, cao hơn so với cùng kỳ năm 2016 (năm 2016 đạt xấp xỉ 2 tỷ USD).

Đầu ra của thép thành phẩm luôn có xu hướng giảm trong thời gian gần đây, ngược lại thì giá cả đầu vào cho sản xuất thép chủ yếu là là than coke, quặng, phế liệu lại luôn có xu hướng tăng, giảm thất thường, khiến các doanh nghiệp khó định hình và cân đối được đầu ra cho sản phẩm thép, từ đó gây ảnh hưởng không nhỏ cho kết quả sản xuất kinh doanh.

Để ổn định sản xuất và có hiệu quả trong kinh doanh, các doanh nghiệp hầu như cũng đã áp dụng phương án cân đối đầu vào cho sản xuất vừa đủ, tránh tình trạng nhập nguyên liệu quá nhiều vừa đọng vốn và ảnh hưởng đến lợi nhuận lớn khi đầu vào và đầu ra không tương ứng.

Theo dự báo của các chuyên gia ngành thép, quý II/2017 sản xuất thép của các doanh nghiệp là thành viên của VSA đạt khoảng 4,5 triệu tấn, trong đó tiêu thụ ước đạt 4,1 triệu tấn.

XI MĂNG

Quý I: Tiêu thụ xi măng tăng 5,7%. Giá xi măng trong tháng 4 ổn định so với các tháng trước đó.

Theo thống kê của Cục Quản lý Giá (Bộ Tài chính), quý I năm 2017, lượng tiêu thụ xi măng của toàn ngành ước đạt 13,5 triệu tấn, tăng 0,7 triệu tấn, tương ứng với mức tăng 5,7% so với năm 2016.

Sản lượng của toàn ngành xi măng trong Quý I năm 2017 ước đạt khoảng đạt 14 triệu tấn, tăng 0,5 triệu tấn so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với mức tăng 3,8% so với năm 2016.

Tính riêng trong tháng 3/2017, ước lượng sản xuất của toàn ngành xi măng đạt khoảng 6,18 triệu tấn, tăng khoảng 3 triệu tấn (Vicem: 1,8 triệu tấn); tổng lượng tiêu thụ toàn ngành xi măng tháng 3/2017 ước đạt khoảng 5,8 triệu tấn (Vicem: 1,7 triệu tấn), tăng khoảng 1,3 triệu tấn so với tháng 2/2017.

Báo cáo của Vicem cho biết,
giá xi măng trong nước tháng 3 và tháng 4/2017 ổn định so với tháng 02/2017. Nguyên nhân do giá nguyên vật liệu đầu vào, chi phí sản xuất cơ bản ổn định nên các nhà máy sản xuất kinh doanh xi măng cơ bản giữ ổn định giá bán.  

Theo báo cáo của Sở Tài chính các tỉnh, thành phố, giá bán lẻ xi măng tháng 4/2017 cụ thể: tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung hiện phổ biến từ 1.050.000 - 1.550.000 đồng/tấn; tại các tỉnh miền Nam phổ biến từ 1.460.000 - 1.850.000 đồng/tấn.

Tính chung trong quý I/2017, giá các chủng loại xi măng phổ biến trên thị trường như: xi măng bao PCB30, PCB 40 tại các nhà máy thuộc Vicem ổn định so với cùng kỳ năm 2016.

Cục Quản lý Giá (Bộ Tài chính) dự báo: mặc dù giá một số nguyên, nhiên vật liệu đầu vào có thể biến động tăng do tác động của giá thế giới, nhưng giá bán xi măng tại các doanh nghiệp sản xuất xi măng khó có thể tăng cao trong các tháng còn lại của năm 2017 do áp lực cạnh tranh về giá xi măng trên thị trường.

XĂNG DẦU

Giá xăng dầu có 1 lần giảm và 1 lần tăng trong tháng 4

Theo thông báo của Liên bộ Công Thương - Tài chính về việc điều hành giá bán lẻ xăng dầu trong phiên điều chỉnh ngày 5/4, giá xăng RON 92 giảm 80 đồng/lít kể từ 15h. Sau khi thực hiện trích lập và chi sử dụng Quỹ bình ổn, xăng RON 92 giảm xuống mức tối đa 17.234 đồng/lít. Trong khi đó các mặt hàng dầu diesel giảm 370 đồng/lít xuống mức tối đa 13.468 đồng/lít và dầu hỏa giảm 190 đồng/lít xuống 11.900 đồng/lít.

Tuy nhiên, vào kỳ điều chỉnh ngày 20/4, xăng dầu đồng loạt tăng giá kể từ 15 giờ. Theo đó, giá xăng RON 92 được điều chỉnh tăng 350 đồng/lít; xăng E5 được điều chỉnh tăng 350 đồng/lít; dầu diesel 0,05S  350 đồng/lít; dầu hoả tăng 350 đồng/lít; dầu mazut 180CST 3.5S tăng 350 đồng/kg. Sau khi thực hiện trích lập và chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu, giá các mặt hàng xăng dầu điều chỉnh như sau: Xăng Ron 92 không cao hơn 17.583 đồng/lít; Xăng E5 không cao hơn 17.382 đồng/lít; Dầu diesel 0.05S không cao hơn 13.819 đồng/lít; Dầu hoả không cao hơn 12.338 đồng/lít; Dầu mazut 180CST 3.5S không cao hơn 10.996 đồng/kg.

Kể từ đầu năm đến nay, giá xăng dầu đã qua 8 kỳ điều chỉnh. Theo đó, giá xăng chỉ tăng 1 lần (504 đồng) vào đợt điều chỉnh ngày 18/2. Đây là lần điều chỉnh tăng giá xăng dầu đầu tiên so với 3 lần đồng loạt liên tiếp giảm trước đó.

GAS

Từ 1/4, giá gas giảm 2.083 đồng/kg

Ngày 31/3, các đơn vị đầu mối kinh doanh, phân phối mặt hàng gas tại Tp. Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phố phía Nam đã công bố giá gas tháng 4/2017 sẽ giảm 2.083 đồng/kg, tương đương 25.000 đồng/bình 12kg so với tháng 3/2017.

Lý giải nguyên nhân giá gas tháng 4/2017 giảm so với tháng 3/2017, ông Trần Văn Phúc, Trưởng phòng Kinh doanh – Công ty Dầu khí Tp. Hồ Chí Minh (Saigon Petro) cho biết, do giá gas thế giới bình quân tháng 4/2017 vừa công bố ở mức 460 USD/tấn, giảm 80 USD/tấn so với tháng 3/2017 nên giá gas trong nước được điều chỉnh giảm theo, nhằm đảm bảo quy luật thị trường và quyền lợi của người tiêu dùng.

Mức giá giảm sẽ được áp dụng kể từ 7 giờ 30 ngày 1/4/2017, đồng thời mức giá bán lẻ đến tay người tiêu dùng tại khu vực phía Nam sẽ ở mức trung bình khoảng 310.000 - 320.000 đồng/bình 12 kg.

Ô TÔ

Ô tô nhập khẩu về Việt Nam bất ngờ giảm mạnh

Theo thống kê mới nhất của Tổng cục Hải quan, 15 ngày đầu tháng 4 chỉ có gần 1.300 chiếc ô tô con dưới 9 chỗ nhập về Việt Nam. Mức giá ô tô nhập trung bình chưa bao gồm các loại thuế, phí là 446 triệu đồng/chiếc.

So với lượng ô tô nhập của 15 ngày đầu tháng 3/2017 là hơn 4.800 chiếc thì số xe nhập về trong nửa đầu tháng 4 đã giảm rất mạnh, hơn 3.500 chiếc.

Tính từ đầu năm đến nay, lượng ô tô con nhập về Việt Nam là hơn 17.600 chiếc, mức giá nhập chưa bao gồm thuế phí là 341 triệu đồng/chiếc.

So với lượng ô tô nhập cùng kỳ năm trước là hơn 8.700 chiếc, thì lượng ô tô nhập về trong gần 4 tháng đầu năm 2017 đã tăng gấp đôi. Mức giá ô tô nhập về trung bình cũng giảm gần 60 triệu đồng/chiếc.

Tại thị trường tiêu thụ trong nước, lấy lý do kỷ niệm ngày 30/4 và 1/5, nhiều mẫu xe tiếp tục được các DN giảm giá lên tới hàng chục triệu đồng khiến cho thị trường ô tô từ đầu tháng 4 tới nay liên tiếp đón nhận thông tin giá khuyến mãi. Đây là đợt giảm giá lớn thứ 3 tính từ đầu năm 2017 trên thị trường ô tô Việt Nam. Tính ra từ đầu tháng 4 tới nay đã có hàng chục mẫu xe tiếp tục hạ giá, trong đó có không ít mẫu xe ăn khách đã mạnh tay giảm giá từ 50- 100 triệu đồng, tính cả quà tặng, để kích cầu người tiêu dùng.

Mới đây, Công ty Trường Hải đã đưa ra dự báo, doanh số bán ô tô con toàn thị trường năm 2017 chỉ ước đạt 200.000 xe, giảm so với năm 2016 từ 7% đến 10%. Theo DN này, càng gần về cuối năm, nhu cầu về ô tô càng giảm, do người tiêu dùng tạm dừng mua xe, đợi 2018 thuế giảm, giá xe sẽ giảm. Trường Hải cũng cho biết, dự kiến doanh số bán xe con của công ty, bao gồm cả 3 thương hiệu Kia, Mazda và Peugeot năm nay chỉ đạt khoảng 58.000 xe, thấp hơn mức 62.000 xe của năm 2016. Một số DN khác cũng có những lo lắng tương tự. Với mức thuế nhập khẩu giảm từ 30% về 0% vào đầu 2018, tính ra giá xe nhập sẽ giảm đáng kể. Chắc chắn sẽ có nhiều khách hàng chờ đợi, vì vậy càng gần đến thời điểm 2018, nhu cầu về ô tô sẽ càng thấp. Hầu hết các DN đều lên kế hoạch với doanh số bán thấp hơn so với 2016. Tuy nhiên, điều lo lắng nhất là tồn kho ô tô sẽ tăng do nhu cầu giảm. Xe tồn kho để sang 2018 sẽ càng khó bán, vì vậy cố gắng đẩy mạnh bán ra trong năm nay và chấp nhận tiếp tục hạ giá để kích cầu tiêu thụ hết hàng.

Một DN ô tô cho biết, năm 2016 do liên tục giảm giá xe, đã phải cắt giảm lợi nhuận bình quân từ 15% xuống còn 11% với mỗi chiếc xe bán ra. Năm 2017, để có thể giảm giá bán hơn nữa thì lợi nhuận sẽ bị cắt giảm xuống mức dưới 10% là khó tránh khỏi. Mặc dù vậy, các DN vẫn hy vọng vào chính sách của Chính phủ với ô tô sắp được ban hành. Nếu các chính sách này ban hành ra, mà người tiêu dùng nhận thấy, chi phí mua xe năm 2018 không giảm so với hiện nay, thì mới có hy vọng giữ được doanh số bán không giảm, đại diện DN này nói.

Vào thời điểm gần cuối tháng 4/2017, thị trường ô tô xôn xao trước thông tin sẽ tăng phí trước bạ ô tô lên 50%. Trước thông tin trên, đại diện Bộ Tài chính cho biết chưa có đề xuất gì về việc thay đổi trần phí trước bạ với ôtô dưới 10 chỗ ngồi, vốn đang ở mức 15%.

Theo đại diện cơ quan quản lý, Nghị định về phí trước bạ đã được Chính phủ ban hành và có hiệu lực từ 1/1/2017. Theo đó, ôtô dưới 10 chỗ ngồi (kể cả lái xe) phải nộp lệ phí trước bạ lần đầu là 10%. Trường hợp cần áp dụng mức thu cao hơn cho phù hợp với điều kiện thực tế tại từng địa phương, Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định điều chỉnh tăng nhưng tối đa không quá 50% mức quy định chung. Ôtô chở người từ 9 chỗ trở xuống nộp lệ phí trước bạ lần thứ 2 trở đi với mức thu là 2% và áp dụng thống nhất trên toàn quốc.

THỦY SẢN 

Giá cá tra đứng ở mức cao, xuất khẩu có sự tăng trưởng mạnh

Theo báo cáo mới nhất của Bộ NN & PTNT, ngành hàng thủy sản là lĩnh vực đóng góp lớn thứ 2 trong kim ngạch xuất khẩu toàn ngành với giá trị kim ngạch xuất khẩu 4 tháng qua đạt 2,1 tỷ USD tăng 8,2% so với cùng kỳ năm 2016. Riêng giá trị xuất khẩu thủy sản tháng Tư ước đạt 604 triệu USD.

Trong tháng 4/2017 giá cá tra tại Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục duy trì ở mức 24.000-27.000 đồng/kg tùy từng loại, đạt mức cao kỷ lục trong nhiều năm qua – theo báo cáo của Bộ NN & PTNT. Giá cá tra ở mức cao có thể kéo dài đến hết năm nay. Trong khi đó, nhu cầu tiêu thụ của thị trường đang ở mức cao, đặc biệt là thị trường Hồng Kông - Trung Quốc, nên tạo áp lực về nguyên liệu cho nhà máy chế biến trong bối cảnh khan hàng.

Vasep cho hay, giá cá tra bán ra tại thị trường châu Á tiếp tục tăng ở mức 2,8 - 3 USD/kg, và nhiều khả năng sẽ tăng trong thời gian tới. Tuy nhiên, Vasep tiếp tục khuyến cáo, với thị trường Trung Quốc, dù giá rất tốt, nhưng có nhiều rủi ro, về cả cách thu mua và thanh toán.

Sự thiếu hụt con giống ngay từ đầu năm do bất lợi của thời tiết, sự sụt giảm diện tích nuôi, sản lượng thu hoạch từ năm trước và nhu cầu gia tăng NK tại thị trường Trung Quốc - Hồng Kông đã đẩy giá cá tra tăng dần và lên ngưỡng cao nhất tại tuần đầu tháng 4/2017. Đây là mức giá cao nhất kể từ năm 2010 đến nay. Theo nhận định của một số DN XK cá tra lớn, giá cá nguyên liệu có thể nhích lên cao hơn trong những tháng tới, tuy nhiên không quá cao và đột ngột. Thị trường NK khó có thể thích ứng hay chấp nhận nếu giá cá tăng quá nhanh và trong vài tháng tới lượng cá mới sẽ bù đắp cho sự thiếu hụt này.

Với những đơn hàng sắp tới, các DN nhận định, khách hàng tại thị trường Trung Quốc - Hồng Kông và Mỹ có thể chấp nhận với mức giá bán cao hơn nhưng với những thị trường lớn khác như: EU, Mexico, Colombia hay ASEAN rất khó đạt được thỏa thuận.

Về giá cá tra nguyên liệu, tại thời điểm đầu tháng 4, giá đã đạt mức kỷ lục trong 6 năm qua làm người dân thả nuôi vừa mừng vừa lo. Giá cá tra giống đang “sốt” giá từng ngày và ở mức 40 - 50 nghìn đồng/kg (cá loại 20 con/kg) và từ 50 - 60 nghìn đồng/kg (cá loại 30 con/kg), tăng hơn 20 nghìn đồng/kg so với tuần trước và cao gấp 2 - 3 lần so với cùng kỳ năm ngoái. Bên cạnh đó, do giá cá nguyên liệu ở mức 27.000 - 29.000 đồng/kg (cá đạt chuẩn loại I) và 24.000 - 26.000 đồng/kg (cá đạt chuẩn loại II, III) nên nhiều hộ đã chủ động thả nuôi làm lượng cá giống thiếu hụt, đẩy giá cá giống tăng mạnh.

Theo nhiều nông dân, với mức giá hiện tại thì người nuôi cá tra giống có thể thu lãi hơn 10 triệu đồng/tấn và người nuôi cá thương phẩm thu lãi từ 1,5 - 2 triệu đồng/tấn cá nguyên liệu sau khi trừ các khoản chi phí đầu tư. Tuy nhiên điệp khúc lên giá rồi xuống giá diễn ra liên tục khiến người nuôi không khỏi lo lắng.

Giá tôm đầu vụ ở mức cao, nông dân phấn khởi

Do mới là đầu vụ, sản lượng thu hoạch chưa nhiều nên nguồn cung tôm nguyên liệu vẫn đang rất thiếu so với nhu cầu nhà máy. Hiện tôm sú nguyên liệu loại 30 con/kg được thương lái thu mua tại vuông với giá 245.000 – 250.000 đồng/kg, loại 40 con ở quanh mức 200.000 đồng/kg. Loại tôm lớn từ 10 – 20 con/kg (nông dân thường gọi tôm cù) còn sót lại từ vụ nuôi trước có giá từ 300.000 – 350.000 đồng/kg. Mức giá cao này được duy trì từ đầu năm cho đến nay và dự báo ít nhất còn kéo dài thêm 1 đến 2 tháng nữa, khi vào vụ thu hoạch rộ.

Theo chia sẻ của người dân, tình hình nuôi năm nay cơ bản thuận lợi hơn cùng kỳ năm rồi. Độ mặn không quá cao và nắng nóng không gay ngắt, chính vị vậy, một số hộ thả nuôi thời gian vừa qua đã thu được thành quả tốt. Bên cạnh đó, nguồn cung cấp tôm nguyên liệu đang bị thiếu hụt nên giá tôm vẫn duy trì ở mức cao, là tín hiệu đáng mừng cho bà con nuôi tôm.

Bên cạnh đó, giá tôm thẻ cũng đang ở mức cao. Tôm thẻ loại 100 con/kg, đang được thu mua với giá gần 110.000 đồng/kg.

Ông Ngô Thành Lĩnh, Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Cà Mau (CASEP) cho biết: Hầu hết các nhà máy chế biến tôm trên địa bàn tỉnh đều đang trong tình trạng thiếu nguyên liệu để chế biến.

Nhận định về thị trường tôm xuất khẩu, nhiều chuyên gia cho rằng, tuy thị trường xuất khẩu cho tôm vẫn còn rất nhiều, nhưng rào cản đối với tôm xuất khẩu của Việt Nam cũng ngày càng nhiều hơn. Những năm gần đây, các thị trường nhập khẩu như Mỹ, Nhật Bản, Australia, Hàn Quốc, Brazil, Ả-rập Xê-út... liên tục đưa ra những cảnh báo về an toàn thực phẩm, thậm chí cấm nhập khẩu tôm từ Việt Nam. Đặc biệt, từ năm 2017, tình hình thế giới đang có những diễn biến mới theo hướng bảo hộ mậu dịch trong nước có thể có những tác động bất lợi đến hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tôm. Trong khi đó, dự báo sản lượng tôm của các quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan có thể phục hồi tăng trưởng vào các năm 2017 và 2018 sau thời kỳ sụt giảm sản lượng do dịch bệnh. Đây sẽ là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng xuất khẩu của tôm Việt Nam.

LÚA GẠO

Xuất khẩu gạo của Việt Nam lại rơi vào vòng xoáy trầm lắng

Sau một thời gian dài giá tăng lên quá cao trong vụ Đông Xuân 2016-2017, cao hơn cả giá bán xuất khẩu thì giá lúa gạo nội địa đã bắt đầu sụt giảm hơn nửa tháng nay. Điều này đúng với những dự đoán trước đó của nhiều doanh nghiệp.

Theo các doanh nghiệp, giá lúa gạo trong nước hiện đang có xu hướng giảm là do nhu cầu tiêu thụ gạo của thế giới vẫn còn trong giai đoạn suy yếu, còn nguồn cung lại khá dồi dào. Hầu hết các nước sản xuất lúa gạo như Thái Lan, Philippines, Việt Nam đang vào đợt thu hoạch vụ chính trong năm nên nguồn cung trên thị trường khá dồi dào. Trong khi đó, những thị trường nhập khẩu gạo chủ yếu của Việt Nam như Philippines, Trung Quốc lại đang hạn chế hoặc tạm dừng nhập khẩu.

Ông Nguyễn Thanh Long, Giám đốc điều hành Công ty trách nhiệm hữu hạn Gạo Việt (Thành phố Hồ Chí Minh) cho rằng ngành lúa gạo Việt Nam trong những tháng đầu năm đã trải qua một giai đoạn khá đặc biệt. Đó là giá nội địa “bật” lên cao quá khiến giá gạo chào bán xuất khẩu cũng ở mức cao hơn so với các nước, trung bình từ 7-10 USD/tấn.

Các đối tác nhập hàng hầu như không chấp nhận mức giá cao này nên trong khoảng nửa cuối tháng Hai đến nay, ít có doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu gạo Việt Nam ký thêm được đơn hàng mới. Và dĩ nhiên, khi đi hết những đơn hàng cũ, thị trường lúa gạo lại rơi vào trầm lắng.

Với tình hình thị trường như hiện nay, một số doanh nghiệp cho rằng sẽ tác động đến việc tiêu thụ lúa gạo đối với những diện tích lúa thu hoạch cuối vụ Đông Xuân và vụ Hè Thu sắp tới. Theo ông Lâm Anh Tuấn, Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Lương thực Thịnh Phát (Bến Tre), việc giá lúa gạo nội địa tăng sẽ khuyến khích nông dân sản xuất, tăng thu nhập, tuy nhiên mức giá nội địa phải phù hợp với tình hình xuất khẩu của doanh nghiệp chứ không phải là nguyên nhân chính khiến doanh nghiệp không ký được phiếu, xuất khẩu “ì ạch” như hiện nay.

CÀ PHÊ

Xuất khẩu cà phê giảm về lượng nhưng tăng mạnh về kim ngạch

Trong quí I/2017 mặc dù lượng cà phê xuất khẩu giảm, nhưng kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh, do giá cà phê xuất khẩu tăng. Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, quí I năm 2017 cả nước xuất khẩu 453.967 tấn cà phê, thu về trên 1 tỷ USD (giảm 5% về lượng nhưng tăng 27% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2016).

Trong số 33 thị trường chủ yếu tiêu thụ cà phê của Việt Nam, thì Đức, Hoa Kỳ, Italia. Tây Ban Nha, Bỉ là các thị trường đứng đầu về kim ngạch; trong đó, xuất khẩu sang Đức nhiều nhất với 80.163 tấn, trị giá 174 triệu USD (tuy lượng xuất khẩu tương đương mức cùng kỳ năm ngoái, nhưng giá trị lại tăng 35,4%); xuất khẩu sang Hoa Kỳ 72.598 tấn, trị giá 165 triệu USD (tăng 15% về lượng và tăng 56% về kim ngạch); sang Italia 42.455 tấn, trị giá 93,9 triệu USD (giảm 3,4% về lượng nhưng tăng 30% về kim ngạch); sang Tây Ban Nha 29.339 tấn, trị giá 64 triệu USD (giảm 7% về lượng nhưng tăng 21% về kim ngạch); sang Bỉ 28.622 tấn, trị giá 62,3 triệu USD (tăng 44,4% về lượng và tăng 80% về kim ngạch).

Ngành Nông nghiệp Việt Nam ước báo tháng Tư xuất khẩu chỉ đạt 138.000 tấn, giảm 17,8% so với tháng Ba và giảm mạnh tới 25,8%  so với cùng kỳ năm trước,.

Tại thị trường nội địa, thời điểm 2 tuần đầu tháng 4, giá cà phê vối nhân xô trung bình ở khoảng 46.100 – 47 đồng/kg. Tuy nhiên 2 tuần cuối của tháng, giá sụt giảm xuống còn 42.800 – 43.400 đồng/kg.

CAO SU

Giá mủ cao su vẫn ổn định

Theo hệ thống cung cấp giá tại địa phương, giá mủ cao su trong nước duy trì thế vững trong 20 ngày đầu tháng 4/2017, trái với xu hướng biến động giảm mạnh trên thị trường cao su thế giới. Tại Đồng Nai, giá thu mua mủ cao su vẫn giữ ở mức 12.875 đ/kg.

Từ ngày 30/3 –13/4/2017, xuất khẩu cao su thiên nhiên của Việt Nam đã nâng sản lượng lên hơn 23.000 tấn, tăng 100 tấn so với tuần cuối tháng 3/2017 do nhu cầu tăng của các đối tác Trung Quốc. Trong đó, cao su tiểu điền chiếm 30%, nhưng chỉ 45% đạt chất lượng loại I, còn lại là cao su xám đóng bánh SVR 10 và SRV 20. Hai loại sản phẩm này, giá xuất khẩu chỉ bằng 89% so với các loại chất lượng 1 là SVR 3L. Hiện nay, giá các sản phẩm cao su sơ chế đóng bánh đều tăng so với tháng trước. Cụ thể, giá cao su SVR 3L tăng từ 18.540 NDT/tấn lên 19.000 NDT/tấn. Cao su SVR CV50 và SVR CV60 tăng mạnh hơn, từ 16.350 NDT/tấn lên 17.000 NDT/tấn. Dự báo giá cao su xuất khẩu nhiều khả năng sẽ ổn định đến giảm nhẹ trong thời gian tới do vụ thu hoạch mới đang bắt đầu, nguồn cung sẽ tăng.

Còn theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, khối lượng xuất khẩu cao su của Việt Nam tháng 4/2017 ước đạt 51 nghìn tấn với giá trị đạt 100 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu cao su 4 tháng đầu năm 2017 ước đạt 301 nghìn tấn và 611 triệu USD, giảm 5,4% về khối lượng nhưng tăng 66% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Trung Quốc, Hàn Quốc, và Malaysia là 3 thị trường tiêu thụ cao su lớn nhất của Việt Nam trong 3 tháng đầu năm 2017, chiếm thị phần lần lượt 64,7%, 4,5% và 3,9%. Giá trị xuất khẩu cao su sang 3 thị trường này tăng lần lượt là: gấp 2,3 lần, gấp 2,6 lần và 2% so với cùng kỳ năm 2016.

Ở chiều ngược lại,  khối lượng nhập khẩu cao su trong tháng 4/2017 ước đạt 36 nghìn tấn với giá trị đạt 89 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu cao su 4 tháng đầu năm 2017 lên 154 nghìn tấn và 356 triệu USD, tăng 23,8% về khối lượng và tăng 94,5% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

HẠT TIÊU

Xuất khẩu hạt tiêu tăng về lượng nhưng giảm về giá trị

Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, quý I năm 2017 cả nước xuất khẩu 51.141 tấn hạt tiêu, thu về 323,6 triệu USD (tăng 15,3 5% về lượng nhưng giảm 12,7% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2016); trong đó, riêng tháng 3/2017 xuất khẩu 29.064 tấn hạt tiêu, thu về 170,9 triệu USD (tăng 113% về lượng và tăng 89% về kim ngạch so với tháng 2/2017).

Trong nửa đầu tháng 4/2017 xuất khẩu 11.551 tấn hạt tiêu, đạt kim ngạch 66,37 triệu USD (tăng 9,62% về lượng nhưng giảm 16,84% về giá trị so với cùng kỳ tháng 3). Giá tiêu xuất khẩu bình quân trong kỳ đạt 5.746 USD/tấn, giảm 2,3% so với giá xuất khẩu bình quân của tháng 3/2017.

Việt Nam xuất khẩu hạt tiêu sang 26 thị trường chủ yếu trên thế giới; trong đó, xuất khẩu sang Hoa Kỳ đứng đầu về kim ngạch, với 9.388 tấn, tương đương 65,6 triệu USD, chiếm 18,4% trong tổng lượng hạt tiêu xuất khẩu của cả nước và chiếm 20,3% trong tổng kim ngạch (giảm 15,7% về lượng và giảm 35,4% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2016).

Trong tháng 4/2017, giá hồ tiêu đã có thời điểm sụt giảm xuống còn 92.000 - 95.000 đồng/kg (trong sáng ngày 26.4). Giá hồ tiêu trên thị trường xuống thấp ngoài do yếu tố chất lượng, còn do ảnh hưởng của yếu tố cung cầu trên thị trường thế giới, tức là cung đang vượt cầu nên giá giảm là không tránh khỏi. Bên cạnh đó, nhiều thương nhân nước ngoài dựa vào thông tin không rõ ràng tồn kho của một số nhà nhập khẩu trên thế giới còn nhiều nên đưa ra giá mua thấp, tác động tiêu cực đến thị trường hồ tiêu Việt Nam.

 (TTGCVT tổng hợp)

Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (024) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (024) 39762593 
Email: ttgcvattu@yahoo.com